Nhận xét kết quả thai nghén đến 22 tuần sau giảm thiểu phôi tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Đặt vấn đề: Giảm thiểu phôi là phương pháp mới được áp dụng từ

những năm 2010 tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương giúp làm giảm số

lượng phôi trong buồng tử cung, giảm tỷ lệ sảy thai, đẻ non, cải thiện

dự hậu chu sinh.

Mục tiêu: nhận xét kết quả thai nghén đến 22 tuần sau giảm thiểu

phôi tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Đối tượng: các thai phụ đa thai đã tiến hành giảm thiểu phôi ≤ 56

ngày theo đường âm đạo bằng phương pháp hút.

Phương pháp: mô tả theo dõi dọc.

Kết quả: Có tổng số 126 thai phụ từ 20 đến 45 tuổi. 61,1% đã điều trị

IVF. Tuổi phôi trung bình là 49,6 ± 2,8. Trước giảm thiểu có từ 2 đến 6

phôi trong tử cung. Sau giảm thiểu, 91,3% số thai phụ còn 2 phôi. Kết quả

thai kỳ đến 22 tuần: Tỷ lệ phát triển bình thường là 91,2%. 1,6% thai sảy

hoặc lưu trước 12 tuần; 4,8% sảy trước 22 tuần; 2,4% đẻ non lúc 22 tuần.

Kết luận: Giảm thiểu phôi theo đường âm đạo bằng phương pháp hút

là phương pháp an toàn, cho kết quả đến 22 tuần khả quan

pdf 6 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét kết quả thai nghén đến 22 tuần sau giảm thiểu phôi tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét kết quả thai nghén đến 22 tuần sau giảm thiểu phôi tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Nhận xét kết quả thai nghén đến 22 tuần sau giảm thiểu phôi tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 85 - 90, 2017
85
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Phạm Trí Hiếu(1), Nguyễn Quốc Tuấn(2) 
(1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương , (2) Trường Đại học Y Hà Nội
NHẬN XÉT KẾT QUẢ THAI NGHÉN ĐẾN 22 TUẦN 
SAU GIẢM THIỂU PHÔI
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Trí Hiếu, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: hỗ trợ sinh sản, giảm 
thiểu phôi, đa thai, sảy thai.
Keywords: assisted reproductive 
technology, embryo reduction, 
multiple pregnancy, pregnancy 
lost.
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Giảm thiểu phôi là phương pháp mới được áp dụng từ 
những năm 2010 tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương giúp làm giảm số 
lượng phôi trong buồng tử cung, giảm tỷ lệ sảy thai, đẻ non, cải thiện 
dự hậu chu sinh. 
Mục tiêu: nhận xét kết quả thai nghén đến 22 tuần sau giảm thiểu 
phôi tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. 
Đối tượng: các thai phụ đa thai đã tiến hành giảm thiểu phôi ≤ 56 
ngày theo đường âm đạo bằng phương pháp hút. 
Phương pháp: mô tả theo dõi dọc. 
Kết quả: Có tổng số 126 thai phụ từ 20 đến 45 tuổi. 61,1% đã điều trị 
IVF. Tuổi phôi trung bình là 49,6 ± 2,8. Trước giảm thiểu có từ 2 đến 6 
phôi trong tử cung. Sau giảm thiểu, 91,3% số thai phụ còn 2 phôi. Kết quả 
thai kỳ đến 22 tuần: Tỷ lệ phát triển bình thường là 91,2%. 1,6% thai sảy 
hoặc lưu trước 12 tuần; 4,8% sảy trước 22 tuần; 2,4% đẻ non lúc 22 tuần. 
Kết luận: Giảm thiểu phôi theo đường âm đạo bằng phương pháp hút 
là phương pháp an toàn, cho kết quả đến 22 tuần khả quan. 
Từ khóa: hỗ trợ sinh sản, giảm thiểu phôi, đa thai, sảy thai.
Abstract 
UP - TO - 22 - WEEK GESTATIONAL OUTCOMES 
AFTER EMBRYO REDUCTION AT NATIONAL HOSPITAL 
OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY 
Background: In 2010, embryo reduction procedure was first performed 
in National Hospital of Obstetrics and Gynecology in order to reduce the 
number of embryos in the uterine, decrease the risk of pregnancy lost 
and premature birth. 
Objectives: to comment on up-to-22-week gestational outcomes after 
embryo reduction in National Hospital of Obstetrics and Gynecology.
Subjects: multiple - pregnancy women who were performed 
transvaginal embryo aspiration before 57 days of gestation.
PHẠM TRÍ HIẾU , NGUYỄN QUỐC TUẤN 
86
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Methods: prospective study. 
Results: 126 women with multiple pregnancy aged from 20 to 45 years old. 61.1% after IVF. The 
mean gestational age was 49.6 ± 2.8 days. Before embryo reduction, there were 2 to 6 embryos in 
the uterine. After the reduction, 91.3% had 2 embryos in the uterine. Gestational outcomes up to 
22 weeks of gestation: the proportion of normal gestational development was 91.2%. 1.6% women 
had pregnancy lost before 12 weeks, 4.8% had pregnancy lost from 12 to 22 weeks and 2.4% had 
premature birth at 22 weeks. 
Conclusions: Transvaginal embryo aspiration is a safe, effective method, has given successful 
outcomes up to 22 weeks of gestation. 
Key words: assisted reproductive technology, embryo reduction, multiple pregnancy, pregnancy lost.
1. Đặt vấn đề
Các phương pháp hỗ trợ sinh sản là một lĩnh vực 
mới đầy tiềm năng phát triển của khoa học y học. 
Đồng hành cùng thành tựu của các biện pháp hỗ trợ 
sinh sản là những kết quả không mong muốn, trong 
đó có vấn đề đa thai. Đây là một tình trạng thai 
nghén nguy cơ cao. Hậu quả của đa thai đối với con 
và mẹ phụ thuộc rất nhiều vào số lượng phôi thai có 
trong buồng tử cung. Các nguy cơ cho thai gồm: sảy 
thai, đẻ non, chậm phát triển trong tử cung, thai lưu, 
dị dạng... cùng các bệnh lý sơ sinh liên quan đến 
đẻ non. Theo Evans M.I (2010), nguy cơ sảy thai tự 
nhiên lên tới 25% cho những trường hợp bốn thai, 
15% cho ba thai và 8% cho song thai [1]. Tai biến 
cho mẹ gồm: tăng huyết áp, tiền sản giật, đái tháo 
đường thai nghén, băng huyết sau đẻ; bên cạnh đó 
làm tăng gánh nặng về tài chính cho thai phụ và 
gia đình.Những phụ nữ mang 4 thai trong buồng 
tử cung có tỷ lệ đái tháo đường thai nghén cao gấp 
hơn 3 lần và tỷ lệ tiền sản giật cao gấp hơn 10 lần 
so với những phụ nữ chỉ có 1 thai [2].
Bên cạnh những biện pháp dự phòng; khi đa 
thai xảy ra, giảm thiểu phôi/thai là thủ thuật giúp 
làm giảm số lượng phôi/thai trong buồng tử cung, 
giảm nguy cơ cho mẹ và con, giảm tỷ lệ sảy thai, 
đẻ non; tăng tỷ lệ trẻ đẻ sống, cải thiện những dự 
hậu chu sinh. Giảm thiểu phôi có thể thực hiện theo 
đường bụng, đường âm đạo hoặc qua cổ tử cung.
Tại Việt Nam, Nguyễn Viết Tiến đã bắt đầu 
thực hiện kỹ thuật giảm thiểu phôi tại Trung tâm Hỗ 
trợ sinh sản (HTSS) – Bệnh viện Phụ sản Trung ương 
(BVPSTƯ) từ những năm 2000 [3]. Từ đó đến nay, 
kỹ thuật này ngày càng được hoàn thiện, mang lại 
hiệu quả thiết thực. Hiện nay, tại Trung tâm HTSS – 
BVPSTƯ, thường thực hiện kỹ thuật giảm thiểu phôi 
theo đường âm đạo. Bệnh nhân sau chuyển phôi 
hoặc bơm IUI có thai được theo dõi bằng siêu âm. 
Khi siêu âm có trên hai túi ối trong buồng tử cung, 
có âm vang thai và tim thai thì tiến hành giảm thiểu 
dưới gây mê toàn thân. Kỹ thuật giảm thiểu được 
thực hiện ở tuổi thai từ 7 – 8 tuần bằng phương 
pháp hút, qua đường âm đạo dưới hướng dẫn của 
siêu âm đầu dò âm đạo. Theo nhiều nghiên cứu, 
giảm thiểu phôi cho tỷ lệ đẻ thai sống cao từ 84,4% 
đến 89,9%; tỷ lệ sảy thai trước 24 tuần sau giảm 
thiểu phôi từ 7,1% đến 13,3% [4],[5], [6].
Tuy nhiên, do chi phí của các biện pháp hỗ trợ 
sinh sản còn cao, nhiều trường hợp phải thực hiện 
nhiều lần mới thành công; đứng trước quyết định 
giảm thiểu phôi/thai, nhiều người bệnh cảm thấy 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 85 - 90, 2017
87
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
băn khoăn, lo lắng. Một số trung tâm hỗ trợ sinh sản 
còn lúng túng vì lo ngại về độ an toàn cũng như hiệu 
quả của kỹ thuật trên những đối tượng được áp dụng 
các biện pháp điều trị vô sinh khác nhau. Vì vậy, 
chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu kết quả 
giảm thiểu phôi tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương” 
với mục tiêu: Nhận xét kết quả đến 22 tuầncủa 
những thai phụ sau giảm thiểu phôi tại BVPSTƯ.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng 
nghiên cứu 
• Tất cả các thai phụ chửa đa thai tự nhiên hoặc 
sau khi áp dụng các biện pháp điều trị vô sinh: thụ 
tinh trong ống nghiệm (IVF), bơm tinh trùng vào 
buồng tử cung (IUI), kích thích phóng noãn (KTPN) 
+ quan hệ tự nhiên (QHTN).
• Tuổi phôi nhỏ hơn hoặc bằng 8 tuần (56 ngày).
• Được thực hiện kỹ thuật giảm thiểu phôi tại 
Trung tâm HTSS – BVPSTƯ từ tháng 11/2015 đến 
tháng 7/2016 theo đường âm đạo bằng phương 
pháp hút.
• Thu được các thông tin nghiên cứu của thai phụ 
và kết quả của thai nghén đến thời điểm 22 tuần 
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc.
• Công thức tính cỡ mẫu:
° Z 1-α/2: hệ số tin cậy ở mức xác xuất 95% (= 1,96)
° p: tỷ lệ sảy thai/đẻ non trước 24 tuần sau 
giảm thiểu phôi theo nghiên cứu của Vương Thị 
Ngọc Lan (2002) là 0,07
° Δ: khoảng sai lệch theo mong muốn (0,05), 
tính được cỡ mẫu là n = 100
• Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện 
không xác suất.
• Nghiên cứu đã thu thập được tổng cộng 126 
thai phụ đạt đầy đủ các tiêu chuẩn nghiên cứu.
2.3. Quy trình nghiên cứu 
Nghiên cứu thu thập thông tin ban đầu về các 
đối tượng được thực hiện tại Trung tâm HTSS – 
BVPSTƯ từ tháng 11/2015 đến tháng 7/2016. 
Đầu tiên, thai phụ được phỏng vấn về: tuổi, có thai 
tự nhiên hay sử dụng các biện pháp hỗ trợ sinh 
sản, loại vô sinh, số năm vô sinh, nguyên nhân.
Thai phụ được thực hiện kỹ thuật giảm thiểu 
phôi chọn lọc tại Trung tâm HTSS – BVPSTƯ. Ghi 
nhận: tuổi thai, số phôi trước giảm thiểu, số phôi 
sau giảm thiểu, các biến chứng sớm ngay sau giảm 
thiểu: chảy máu, đau bụng, nhiễm trùng, sảy thai..
Thai phụ được theo dõi trong suốt thời kỳ mang 
thai bằng hình thức phỏng vấn qua điện thoại tại 
ba thời điểm: sau 2 tuần (ghi nhận các triệu chứng 
bất thường sau giảm thiểu 3 ngày, 1 tuần và 2 
tuần); tình hình thai kỳ sau 12 tuần và sau 22 tuần. 
Kết thúc phỏng vấn vào tháng 10/2016.
Đây là một nghiên cứu mô tả theo dõi, tất cả 
thông tin về người bệnh được giữ bí mật và tôn 
trọng. Nghiên cứu đã được Hội đồng Y đức BVPSTƯ 
phê duyệt, cho phép triển khai tại bệnh viện. 
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Tổng cộng 126 đối tượng nghiên cứu có độ tuổi 
từ 20 đến 45 tuổi. Độ tuổi trung bình là 28,3 ± 4,1. 
Nhóm tuổi từ 30 đến 34 chiếm tỷ lệ lớn nhất với 
51,6%. Chỉ có duy nhất 1 thai phụ 45 tuổi, chiếm tỷ 
lệ 0,8%. Không có thai phụ nào dưới 20 tuổi.
Trước thời điểm giảm thiểu, có 5 trong tổng số 
126 thai phụ có thai tự nhiên, chiếm tỷ lệ 4%. 96% 
còn lại đều phải điều trị vô sinh. Vô sinh nguyên 
phát chiếm tỷ lệ 56,3%. Thời gian vô sinh trung 
bình của các thai phụ trong nghiên cứu là: 3,2 ± 
2,2 năm. Nguyên nhân vô sinh do người vợ đơn 
thuần chiếm tỷ lệ cao nhất với 58,7% (74 trường 
hợp), chủ yếu là rối loạn phóng noãn. 
96% các thai phụ mang đa thai đã áp dụng các 
biện pháp điều trị vô sinh, trong đó đa số là IVF 
(61,1%). Tỷ lệ điều trị IUI là 24,6%; KTPN và QHTN 
là 10,3%. Thời điểm giảm thiểu phôi trong nghiên 
cứu từ 44 đến 56 ngày. Tuổi phôi trung bình tại 
thời điểm giảm thiểu là: 49,6 ± 2,8 ngày.
Số phôi nhiều nhất trước giảm thiểu là 6 phôi 
(1,6%), số phôi ít nhất trước giảm thiểu là 2 phôi 
(2,4%). Đa số các thai phụ trước giảm thiểu có 3 
Số 
phôi
Trước GT 2 3 4 5 6
Tổng
Sau GT 2→1 3→1 3→2 4→1 4→2 5→2 6→2
Số thai phụ 3 7 89 1 20 4 2 126
Tổng số 3 96 21 4 2 126
Tỷ lệ % 2,4 76,2 16,6 3,2 1,6 100
Chú thích: ký hiệu “→” thể hiện số lượng phôi trước khi giảm thiểu và số phôi còn lại sau giảm thiểu.
Bảng 1. Số lượng phôi trước và sau giảm thiểu
PHẠM TRÍ HIẾU , NGUYỄN QUỐC TUẤN 
88
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
phôi trong buồng tử cung, chiếm tỷ lệ 76,2%.Số 
phôi đã giảm thiểu nhiều nhất là 4 phôi (1,6%), số 
phôi giảm thiểu ít nhất là 1 phôi song chiếm tỷ lệ 
chủ yếu với 73%.
3.2. Kết quả giảm thiểu phôi đến 22 
tuần thai kỳ
Sau khi thực hiện giảm thiểu, tỷ lệ các triệu 
chứng bất thường như đau bụng, ra máu âm đạo... 
có xu hướng giảm đi theo thời gian: từ 23,8% ngay 
sau giảm thiểu, xuống 18,3% sau 3 ngày, 9,6% sau 
1 tuần và 9,6% sau 2 tuần. Tỷ lệ các triệu chứng bất 
thường có xu hướng tăng lên theo số phôi đã giảm 
thiểu nhưng chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Tại thời điểm 22 tuần, 115 thai phụ còn ít nhất 
1 thai phát triển bình thường, chiếm tỷ lệ 91,2%. 
Tổng cộng 11 trường hợp thai hỏng chiếm tỷ lệ 
8,8% gồm: 2 bệnh nhân thai lưu 9 tuần; 1 bệnh 
nhân sảy thai lúc 13 tuần, 1 bệnh nhân sảy thai 
lúc 17 tuần, 3 bệnh nhân sảy thai lúc 19 tuần, 1 
bệnh nhân sảy thai lúc 21 tuần; 3 bệnh nhân đẻ 
non lúc 22 tuần.
Biểu đồ 1. Diễn biến các triệu chứng trong 2 tuần sau giảm thiểu
Biểu đồ 2. Kết quả thai kỳ đến 22 tuần
Kết quả thai kỳ đến 22 tuần
Số lượng phôi trước và sau giảm thiểu
Tổng
2→1 3 4 5→2 6→23→1 3→2 4→1 4→2
Số trường hợp sảy, thai lưu, đẻ 
non đến 22 tuần 0 1 7 0 2 1 0 11
Số phát triển bình thường 3 6 82 1 18 3 2 115
Tổng số 3 7 89 1 20 4 2 126
Tỷ lệ hỏng (%) 0
14,3 7,9 0 10
25 0 8,8
8,3 9,5
Bảng 2. Kết quả thai kỳ đến 22 tuần theo số lượng phôi trước giảm thiểu
Tỷ lệ thai kỳ kết thúc tính đến 22 tuần là 8,8%. 
Không có trường hợp nào sảy thai, thai lưu hay đẻ 
non lúc 22 tuần tại nhóm có 2 phôi và 6 phôi trước 
giảm thiểu. Tỷ lệ sảy thai, thai lưu, đẻ non cao 
nhất thuộc nhóm có 5 phôi trước giảm thiểu (25%). 
Tỷ lệ kết thúc thai kỳ tính đến 22 tuần giữa các 
nhóm có sự khác biệt nhưng chưa mang ý nghĩa 
thống kê (p > 0,05).
Tỷ lệ sảy thai, thai lưu, đẻ non đến 22 tuần 
có xu hướng tăng lên theo số lượng phôi đã giảm 
thiểu: từ 7,6% ở nhóm chỉ giảm thiểu 1 phôi lên 
đến 20% ở nhóm đã giảm thiểu 3 phôi. Tuy nhiên, 
chưa có thai phụ nào ở nhóm đã giảm thiểu 4 phôi 
kết thúc thai kỳ tính đến thời điểm 22 tuần.
Nhóm còn 1 phôi sau giảm thiểu có tỷ lệ kết 
thúc thai kỳ tại 22 tuần là 9,1%, nhóm còn 2 phôi 
có tỷ lệ kết thúc thai kỳ là 8,7%, khác biệt giữa 2 
nhóm không có ý nghĩa thống kê. 
4. Bàn luận
Theo nghiên cứu của chúng tôi, các thai phụ 
có độ tuổi từ 25 đến 29 chiếm tỷ lệ lớn nhất với 
51,6%. Kết quả này khác biệt với nghiên cứu của 
Nguyễn Viết Tiến tại Trung tâm HTSS BVPSTƯ từ 
tháng 1/2004 đến tháng 12/2006: nhóm tuổi 
chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 30 đến 34 tuổi, chiếm 
tỷ lệ 46% [3]. Sự khác biệt này có thể đến từ công 
tác xã hội hóa dịch vụ y tế nói chung, dịch vụ hỗ 
trợ điều trị hiếm muộn nói riêng, hiểu biết và điều 
kiện kinh tế của các cặp vợ chồng.
Số phụ nữ có đa thai sau IVF chiếm tỷ lệ lớn 
nhất với 61,1%; số phụ nữ áp dụng IUI và kích 
thích phóng noãn tương ứng 24,6% và 10,3%. 
Kết quả thai kỳ đến 22 tuần
Số lượng phôi đã giảm thiểu Kiểm 
định1 2 3 4
Số trường hợp sảy thai, thai lưu, đẻ non đến 22 tuần 7 3 1 0
p > 0,05Tổng số (n) 92 27 5 2
Tỷ lệ % 7,6 11,1 20 0
Bảng 3. Kết quả thai kỳ đến 22 tuần theo số lượng phôi đã giảm thiểu
Kết quả thai kỳ đến 22 tuần
Số lượng phôi 
còn lại sau giảm thiểu Kiểm định
1 2
Số trường hợp sảy thai, thai lưu, đẻ non đến 22 tuần 1 10
p > 0,05Tổng số (n) 11 115
Tỷ lệ % 9,1 8,7
Tuổi thai trung bình tính đến 22 tuần 20,8 ± 3,9 21,7 ± 1,6 p > 0,05
Bảng 4. Kết quả thai kỳ đến 22 tuần theo số lượng phôi sau giảm thiểu
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 85 - 90, 2017
89
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Đối với phương pháp IVF, để tăng tỷ lệ thành 
công cần đặt nhiều phôi vào buồng tử cung, và vì 
lý do này sẽ gây tăng tỷ lệ đa thai. 
Thời điểm và phương pháp giảm thiểu phôi/
thai có sự khác nhau rất lớn giữa các trung tâm 
tại các quốc gia khác nhau. Tại Trung tâm HTSS 
BVPSTƯ, thường tiến hành giảm thiểu phôi vào 
lúc 7 đến 8 tuần bằng phương pháp hút qua 
đường âm đạo dưới siêu âm với 3 ưu điểm chính: 
thứ nhất, đã qua giai đoạn của quá trình tiêu 
phôi tự phát. Thứ hai, phôi thường có kích thước 
nhỏ, ít di động, dễ thực hiện kỹ thuật hút, không 
cần dùng KCl. Thứ ba, phương pháp hút được 
thực hiện sớm hơn từ 2 đến 4 tuần so với các 
phương pháp khác, vì thế dễ được chấp nhận 
hơn về mặt đạo đức, tôn giáo, tín ngưỡng. Tuy 
vậy, nhược điểm là không tiến hành sàng lọc 
được các thai bất thường trước khi giảm thiểu và 
hiện tượng thai ngừng phát triển tự nhiên. 
Số lượng phôi trước giảm thiểu phụ thuộc chủ 
yếu vào phương pháp điều trị vô sinh cho các 
thai phụ: số phôi chuyển vào buồng tử cung đối 
với IVF, số noãn trưởng thành được thụ tinh trong 
KTPN. Trong nghiên cứu của chúng tôi, các trường 
hợp có 5 và 6 phôi đều xảy ra sau IUI hoặc dùng 
thuốc KTPN + QHTN. Kết quả này cũng phù hợp 
với các nghiên cứu trong và ngoài nước. 
Nhờ có những tiến bộ trong lĩnh vực hỗ trợ 
sinh sản, nhằm hạn chế đa thai, xu hướng chung 
của cả trong nước và trên thế giới là giảm số 
lượng phôi chuyển vào buồng tử cung trong 
mỗi chu kỳ IVF. Trong đó, xuất hiện xu hướng 
chỉ chuyển 1 phôi duy nhất vào buồng tử cung 
(single embryo transfer - SET).Tuy nhiên, việc 
này còn gây nhiều tranh cãi vì làm giảm khả 
năng thành công của phương pháp thụ tinh 
trong ống nghiệm trong khi chi phí điều trị mỗi 
chu kỳ đều rất tốn kém.
Hậu quả của đa thai liên quan chặt chẽ với 
số lượng phôi/thai còn lại sau giảm thiểu. Tuy 
nhiên, nếu giảm thiểu còn duy nhất 1 phôi, có 
thể xảy ra hiện tượng phôi thai này ngừng phát 
triển, sảy, đẻ non một cách ngẫu nhiên hoặc 
thai có vấn đề bất thường nhiễm sắc thể... khiến 
toàn bộ việc điều trị xem như thất bại [7].
Tỷ lệ các triệu chứng bất thường ngay sau giảm 
thiểu như đau bụng, ra máu âm đạo, chóng mặt, 
buồn nôn lên tới 23,8% nhưng không có trường 
hợp nào sảy thai ngay sau giảm thiểu. Hiện tại, 
hầu như chưa có nhiều nghiên cứu mô tả các triệu 
chứng của thai phụ sau khi thực hiện giảm thiểu. 
Song có thể nhận xét, kỹ thuật giảm thiểu phôi 
đang thực hiện tại Trung tâm HTSS – BVPSTW khá 
an toàn và không gây nhiều tai biến nghiêm trọng 
cho các bệnh nhân được áp dụng. 
Theo kết quả nghiên cứu của 126 thai phụ: 
tổng cộng 11 trường hợp thai hỏng tính đến 22 
tuần chiếm tỷ lệ 8,8%. Năm 2002, Vương Thị 
Ngọc Lan báo cáo tỷ lệ sảy thai/thai lưu/đẻ non 
trước 24 tuần sau giảm thiểu là 7,1% [4]. Tương 
tự, Stone J (2008) cũng báo cáo kết quả khả 
quan của 1000 thai kỳ sau giảm thiểu với tỷ lệ 
4,7% thai hỏng trước 24 tuần và cho rẳng tỷ lệ 
này không thể giảm thêm nữa vì đây chính là tỷ 
lệ sảy thai tự nhiên của các song thai tính từ thời 
điểm có hoạt động tim thai [8]
Số phôi trước giảm thiểu có liên quan tới 
kết quả giảm thiểu. Tuy cùng kết thúc ở 2 phôi 
nhưng tỷ lệ sảy thai lúc này sẽ cao hơn nếu số 
lượng phôi ban đầu trong tử cung lớn hơn. Nếu 
ban đầu trong buồng tử cung có càng nhiều 
phôi, sẽ mất nhiều thời gian hơn để giảm thiểu 
về 2 phôi, quá trình cũng đòi hỏi kỹ thuật phức 
tạp hơn, dễ gây nhiều tai biến. Cùng lúc nhiều 
phôi bị giảm thiểu có thể dẫn tới thay đổi áp lực 
đột ngột trong buồng tử cung, ảnh hưởng đến sự 
phát triển của những phôi không bị giảm thiểu 
còn lại. 
Sự khác biệt về tỷ lệ kết thúc thai kỳ tại 22 
tuần cũng như tuổi thai trung bình giữa 2 nhóm 
để lại 1 phôi và để lại 2 phôi sau giảm thiểu 
không có ý nghĩa thống kê. Điều này phù hợp 
với nghiên cứu của Joanne Stone (2008) [9]. 
Một vấn đề hiện nay vẫn đang còn tranh cãi là 
nên giữ lại đơn thai hay song thai. Một số tác 
giả ủng hộ việc giữ lại một thai duy nhất. Theo 
Evans M.I. (2014), các trường hợp giảm thiểu về 
1 thai tuy có nguy cơ sảy thai vẫn cao hơn song 
thai song tỷ lệ đẻ non thấp hơn, kết thúc thai kỳ 
tại tuần thai muộn hơn và tỷ lệ trẻ đẻ sống nặng 
dưới 1500 gram thấp hơn 10 lần [10]. 
Sự khác biệt về kết quả thai kỳ theo số lượng 
phôi đã giảm thiểu theo nghiên cứu của chúng 
tôi là không rõ ràng. Các nghiên cứu trong nước 
PHẠM TRÍ HIẾU , NGUYỄN QUỐC TUẤN 
90
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
và quốc tế hiện nay chủ yếu nghiên cứu về ảnh 
hưởng của số lượng phôi trước và sau giảm thiểu 
hơn là số lượng phôi đã giảm. 
5. Kết luận
Quy trình giảm thiểu phôi bằng phương pháp 
hút dưới siêu âm đầu dò âm đạo tại Trung tâm 
HTSS BVPSTƯ hiện tại là khá an toàn cho kết quả 
thai kỳ đến 22 tuần khả quan. 
Cần tiếp tục nghiên cứu để đánh giá kết quả 
của thai kỳ sau giảm thiểu từ tuần thứ 22 đến lúc 
kết thúc thai kỳ, đánh giá kỹ hơn mối liên quan 
giữa số lượng phôi trước và sau giảm thiểu, thời 
điểm giảm thiểu đến kết quả thai kỳ.
Tài liệu tham khảo
1. Evans MI, Britt DW. Multifetal pregnancy reduction: evolution of the 
ethical arguments. Semin Reprod Med. 2010; 28: 295 – 302.
2. ASRM Practice Committee. Multiple pregnancy and infertility therapy. 
Fertil Steril. 2006; 86(4): 107.
3. Nguyễn Viết Tiến. Đánh giá kỹ thuật giảm thiểu phôi thaichọn lọc 
tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Phụ sản Trung Ương từ tháng 
01/2004 đến tháng 12/2006, Bệnh viện Phụ sản Trung Ương. 2007. 
4. Vương Thị Ngọc Lan. Kỹ thuật giảm thai trong các thai kỳ đathai sau 
điều trị vô sinh, Tạp chí thông tin y dược, số 12/2001: tr. 27 – 33.
5. Đào Lan Hương. Đánh giá kết quả giảm thiểu phôi chọn lọc tại 
Bệnh viện Phụ sản Trung Ương từ 1/1/2004 đến 31/12/2008. Luận văn 
thạc sỹ y học, Đại học Y Hà nội. 2009.
6. Hoàng Thị Diễm Tuyết. Giảm thai trong đa thai sau điều trị hiếm 
muộn: hiệu quả và an toàn, Tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh. 
2010; 14 (2): 59 – 63.
7. Haas J, Mohr Sasson A, Barzilay E, et al. Perinatal outcomes after 
multifetal pregnancy reduction from twin to singleton: to reduce or not to 
reduce?, Fertil Sterile. 2015; 103: 428.
8. Stone J, Ferrara L, Kamrath J, et al. Contemporary outcomes with 
the latest 1000 cases of multifetal pregnancy reduction, Obstet Gynecol. 
2008; 199: 406.e1 – 406.e4.
9. Joanne Stone, Lauren Ferrara, Jacqueline Kamrath, et al.Contemporary 
outcomes with the latest 1000 cases of multifetal pregnancy reduction, Am 
J Obstet Gynecol. 2008; 199(4): 406.e1 – 406.e4.
10. Evans M.I., Andriole S., Britt D.W.Fetal reduction: 25 years’ 
experience, Fetal Diagn Ther. 2014; 35(2): 69 – 82.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ket_qua_thai_nghen_den_22_tuan_sau_giam_thieu_phoi.pdf