Nhận xét kết quả thai kỳ sau giảm thiểu phôi tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản quốc gia

Đặt vấn đề: Giảm thiểu phôi là phương pháp được áp dụng tại Trung

tâm Hỗ trợ sinh sản quốc gia (TTHTSSQG) từ những năm 2010 nhằm

mục đích giảm tỷ lệ sảy thai, đẻ non của những phụ nữ mang đa thai.

Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm và kết quả thai kỳ sau giảm thiểu phôi

tại TTHTSSQG.

Đối tượng: Các thai phụ đa thai đã tiến hành giảm thiểu phôi ≤ 56

ngày theo đường âm đạo bằng phương pháp hút.

Phương pháp: mô tả theo dõi dọc.

Kết quả: Có tổng số 121 thai phụ từ 20 đến 45 tuổi. 64,1% đã điều

trị IVF. Tuổi phôi trung bình là 49,6 ± 2,9. Trước giảm thiểu có từ 2 đến

6 phôi trong tử cung. Sau giảm thiểu, 91,8% số thai phụ còn 2 phôi.

Kết quả thai kỳ: tỷ lệ thai hỏng < 24="" tuần="" là="" 9,9%.="" tỷ="" lệ="" thành="" công="">

phương pháp là 86%. Tuổi thai trung bình là 33,2 ± 6,5 tuần. Cân nặng

trung bình của 191 trẻ sơ sinh đẻ sống là 2098,4 ± 575,4 gram. Nhóm

thai phụ giảm thiểu về 1 phôi có tỷ lệ đẻ từ 37 tuần và cân nặng trẻ lúc

sinh cao hơn nhóm giảm thiểu về 2 phôi có ý nghĩa thống kê.

Kết luận: Giảm thiểu phôi theo đường âm đạo bằng phương pháp hút

là phương pháp an toàn, cho kết quả thai kỳ khả quan

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét kết quả thai kỳ sau giảm thiểu phôi tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản quốc gia", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét kết quả thai kỳ sau giảm thiểu phôi tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản quốc gia

Nhận xét kết quả thai kỳ sau giảm thiểu phôi tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản quốc gia
PHẠM TRÍ HIẾU
154
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
 V
À
 H
Ỗ
 T
R
Ợ
 S
IN
H
 S
Ả
N
Phạm Trí Hiếu 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
NHẬN XÉT KẾT QUẢ THAI KỲ SAU GIẢM THIỂU PHÔI 
TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ SINH SẢN QUỐC GIA
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Trí Hiếu, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: hỗ trợ sinh sản, giảm 
thiểu phôi, đa thai, sảy thai, 
đẻ non. 
Keywords: assisted 
reproductive technology, 
embryo reduction, multiple 
pregnancy, pregnancy lost. 
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Giảm thiểu phôi là phương pháp được áp dụng tại Trung 
tâm Hỗ trợ sinh sản quốc gia (TTHTSSQG) từ những năm 2010 nhằm 
mục đích giảm tỷ lệ sảy thai, đẻ non của những phụ nữ mang đa thai. 
Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm và kết quả thai kỳ sau giảm thiểu phôi 
tại TTHTSSQG. 
Đối tượng: Các thai phụ đa thai đã tiến hành giảm thiểu phôi ≤ 56 
ngày theo đường âm đạo bằng phương pháp hút. 
Phương pháp: mô tả theo dõi dọc. 
Kết quả: Có tổng số 121 thai phụ từ 20 đến 45 tuổi. 64,1% đã điều 
trị IVF. Tuổi phôi trung bình là 49,6 ± 2,9. Trước giảm thiểu có từ 2 đến 
6 phôi trong tử cung. Sau giảm thiểu, 91,8% số thai phụ còn 2 phôi. 
Kết quả thai kỳ: tỷ lệ thai hỏng < 24 tuần là 9,9%. Tỷ lệ thành công của 
phương pháp là 86%. Tuổi thai trung bình là 33,2 ± 6,5 tuần. Cân nặng 
trung bình của 191 trẻ sơ sinh đẻ sống là 2098,4 ± 575,4 gram. Nhóm 
thai phụ giảm thiểu về 1 phôi có tỷ lệ đẻ từ 37 tuần và cân nặng trẻ lúc 
sinh cao hơn nhóm giảm thiểu về 2 phôi có ý nghĩa thống kê. 
Kết luận: Giảm thiểu phôi theo đường âm đạo bằng phương pháp hút 
là phương pháp an toàn, cho kết quả thai kỳ khả quan. 
Từ khóa: hỗ trợ sinh sản, giảm thiểu phôi, đa thai, sảy thai, đẻ non.
Abstract 
GESTATIONAL OUTCOMES AFTER EMBRYO 
REDUCTION AT NATIONAL CENTER FOR 
ASSISTED REPRODUCTION
Background: In 2010, embryo reduction procedure was first performed 
in National Center for Assisted Reproduction (NCAR) in order to reduce 
the number of embryos in the uterine, decrease the risk of pregnancy 
lost and premature birth. 
Objectives: to comment on gestational outcomes after embryo 
reduction in NCAR. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 154 - 159, 2018
155
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Subjects: multiple-pregnancy women who were performed transvaginal embryo aspiration before 
57 days of gestation. 
Methods: prospective study. 
Results: 121 women with multiple pregnancy aged from 20 to 45 years old. 64.1% after IVF. The 
mean gestational age was 49.6 ± 2.9 days. Before embryo reduction, there were 2 to 6 embryos 
in the uterine. After the reduction, 91.8% had 2 embryos in the uterine. Gestational outcomes: the 
rate of pregnancy failure before 24 weeks of gestations was 9.9%. The success rate was 86%. The 
mean gestational age at delivery was 33.2 ± 6.5 weeks. The mean birth weight of 191 living infants 
was 2098.4 ± 575.4 gram. Women had chose to reduce to 1 embryo had a higher rate of delivering 
in-term babies and heavier babies than those who chose to reduce to 2 embryos. 
Conclusions: Transvaginal embryo aspiration is a safe, effective method, has given successful 
outcomes gestation. 
Key words: assisted reproductive technology, embryo reduction, multiple pregnancy, pregnancy lost.
1. Đặt vấn đề
Giảm thiểu phôi là phương pháp đã được áp dụng 
tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia (TTHTSSQG) 
từ những năm 2000 với mục đích làm giảm số lượng 
phôi trong buồng tử cung, giảm biến chứng của đa 
thai cho mẹ trong thai kỳ (như tăng huyết áp, tiền sản 
giật, đái tháo đường thai nghén, băng huyết sau đẻ...) 
cũng như cải thiện dự hậu chu sinh cho con (như giảm 
tỷ lệ sảy thai, đẻ non, chậm phát triển trong tử cung, 
cân nặng thấp lúc sinh...) [1]. Kỹ thuật ngày càng 
được hoàn thiện, đã mang lại hiệu quả tích cực trong 
lĩnh vực hỗ trợ sinh sản [2]. Các thai phụ mang đa 
thai từ 7 đến 8 tuần (tự nhiên hoặc sau áp dụng các 
biện pháp điều trị vô sinh) muốn giảm thiểu phôi sẽ 
được chỉ định thực hiện kỹ thuật giảm thiểu phôi bằng 
phương pháp hút qua đường âm đạo dưới hướng dẫn 
của siêu âm đầu dò âm đạo. Nghiên cứu này được 
thực hiện nhằm mục tiêu: Nhận xét đặc điểm và kết 
quả thai kỳ sau giảm thiểu phôi tại TTHTSSQG.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng 
nghiên cứu 
• Tất cả các thai phụ chửa đa thai tự nhiên hoặc 
sau khi áp dụng các biện pháp điều trị vô sinh: thụ 
tinh trong ống nghiệm (IVF), bơm tinh trùng vào 
buồng tử cung (IUI), kích thích phóng noãn (KTPN) 
+ quan hệ tự nhiên (QHTN).
• Tuổi phôi ≤ 8 tuần (56 ngày).
• Được thực hiện kỹ thuật giảm thiểu phôi tại 
TTHTSSQG từ tháng 11/2015 đến hết tháng 7/2016 
theo đường âm đạo bằng phương pháp hút.
• Thu được các thông tin nghiên cứu của thai 
phụ và kết quả của thai nghén đến thời điểm kết 
thúc thai kỳ. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả theo dõi dọc.
- Công thức tính cỡ mẫu:
• Z1-α/2 : hệ số tin cậy ở mức xác xuất 95% (= 1,96)
• p: tỷ lệ sảy thai/đẻ non trước 24 tuần sau 
giảm thiểu phôi theo nghiên cứu của Vương Thị 
Ngọc Lan (2002) là 0,07 [3]
• Δ: khoảng sai lệch theo mong muốn (0,05), 
tính được cỡ mẫu là n = 100
- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện 
không xác suất.
- Nghiên cứu đã thu thập được tổng cộng 121 
thai phụ đạt đầy đủ các tiêu chuẩn nghiên cứu.
PHẠM TRÍ HIẾU
156
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
 V
À
 H
Ỗ
 T
R
Ợ
 S
IN
H
 S
Ả
N
2.3. Quy trình nghiên cứu 
Nghiên cứu thu thập thông tin ban đầu của 
các thai phụ mang đa thai được thực hiện giảm 
thiểu phôi tại TTHTSSQG từ tháng 11/2015 đến 
hết tháng 7/2016. Các thông tin của thai phụ bao 
gồm: tuổi, tiền sử sản khoa và điều trị vô sinh, tính 
chất thai kỳ (tự nhiên hay sau áp dụng các biện 
pháp điều trị vô sinh) được thu thập thông qua 
phỏng vấn. 
Tại thời điểm tiến hành kỹ thuật giảm thiểu phôi, 
ghi nhận các thông tin về: thời điểm tiến hành giảm 
thiểu, số phôi trước và sau giảm thiểu, các biến 
chứng sớm ngay sau giảm thiểu (nếu có). 
Thai phụ được theo dõi trong suốt thời kỳ mang 
thai bằng hình thức phỏng vấn qua điện thoại tại 
nhiều thời điểm: sau 1 tuần, sau 2 tuần (phỏng vấn 
các triệu chứng sau giảm thiểu phôi); thời điểm 12 
tuần, 22 tuần, 32 tuần (diễn biến thai kỳ, kết quả 
siêu âm sàng lọc) và 40 tuần để đánh giá kết quả 
thai kỳ (tuổi thai lúc kết thúc thai kỳ, phương pháp, 
số con sống, cân nặng). Hoàn thành thu thập số 
liệu vào tháng 5/2017. 
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Theo dõi đến hết thai kỳ tổng cộng 121 thai 
phụ từ 20 đến 45 tuổi, độ tuổi trung bình là 28,3 
± 4,2. Lứa tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất là từ 25 – 29 
tuổi, chiếm 64%. 
Trước thời điểm giảm thiểu, có 4 trong tổng số 
121 thai phụ có thai tự nhiên. 117 thai kỳ còn lại là 
kết quả của các biện pháp can thiệp khác nhau sau 
thời gian vô sinh từ 1 đến 12 năm, trong đó chiếm 
tỷ lệ lớn nhất là IVF với 64,1%. Tỷ lệ điều trị IUI là 
24,8%. 13 trường hợp có thai sau KTPN và QHTN 
chiếm tỷ lệ 11,1%. 
 Thời điểm giảm thiểu phôi trong nghiên cứu từ 
44 đến 56 ngày. Tuổi phôi trung bình tại thời điểm 
giảm thiểu là: 49,6 ± 2,9 ngày.
Số 
phôi
Trước GT 2 3 4 5 6
Tổng
Sau GT 2→1 3→1 3→2 4→1 4→2 5→2 6→2
Số thai phụ 3 6 87 1 19 3 2 121
Tổng số 3 93 20 4 2 121
Tỷ lệ % 2,5 76,9 16,5 2,5 1,6 100
Chú thích: ký hiệu “→” thể hiện số lượng phôi trước khi giảm thiểu và số phôi còn lại sau giảm thiểu.
Bảng 1. Số lượng phôi trước và sau giảm thiểu
Số phôi nhiều nhất trước giảm thiểu là 6 phôi 
(1,6%), số phôi ít nhất trước giảm thiểu là 2 phôi 
(2,5%). Đa số các thai phụ trước giảm thiểu có 3 
phôi trong buồng tử cung, chiếm tỷ lệ 76,9%. Số 
phôi đã giảm thiểu nhiều nhất là 4 phôi (1,6%). Số 
phôi giảm thiểu ít nhất là 1 phôi – đồng thời cũng 
chiếm tỷ lệ lớn nhất với 74,6%. 8,2% các trường 
hợp thai phụ lựa chọn giảm thiểu về 1 phôi do 
nhiều lí do khác nhau như: giảm thiểu song thai 
cùng noãn, thai phụ đã có con đẻ sống trước đó, 
thai phụ lớn tuổi, bất thường tử cung (tử cung 2 
sừng) và tiền sử sảy song thai IVF. 
3.2. Kết quả thai kỳ sau giảm thiểu phôi
Sau giảm thiểu phôi, 23,8% thai phụ biểu hiện 
những triệu chứng bất thường như: buồn nôn, đau 
đầu, chóng mặt, đau bụng, ra máu âm đạo... song 
sẽ giảm đi theo thời gian. Tỷ lệ các triệu chứng này 
có xu hướng tăng lên theo số lượng phôi đã giảm 
thiểu nhưng chưa có ý nghĩa thống kê. Không có 
thai phụ nào sảy thai ngay sau giảm thiểu.
Về kết quả thai kỳ: các thai kỳ sau giảm thiểu 
kết thúc vào thời điểm 9 tuần đến 40 tuần, tuổi thai 
trung bình là 33,2 ± 6,5 tuần. Tổng cộng 12 trường 
hợp sảy thai, thai lưu hoặc đẻ non < 24 tuần chiếm 
tỷ lệ 9,9%. 53 thai phụ đã đẻ/ mổ đẻ con đủ tháng. 
Trong số 56 trường hợp đẻ non từ 24 đến trước 37 
tuần, có 53 phụ nữ đẻ con sống chiếm tỷ lệ 91,1%. 
Tính đến hết thời gian nghiên cứu, 17 thai phụ 
không có con nào, 17 thai phụ có 1 con sống và 
87 thai phụ có 2 con sống. Như vậy, tỷ lệ thành 
Biểu đồ 1. Kết quả thai kỳ đến 22 tuần
Thời điểm kết thúc thai kỳ Số trường hợp Kết quả thai kỳ
26 tuần 2 Đẻ non, 1 con chết
27 tuần 2 Đẻ non, 1 con chết
35 tuần 1 Mổ đẻ, 1 thai lưu lúc 34 tuần
36 tuần 1 Mổ đẻ, 1 con chết vì tim bẩm sinh 
36 tuần 1 Mổ đẻ, 1 con chết vì khe hở cột sống
37 tuần 1 Mổ đẻ, 1 thai lưu lúc 37 tuần
Bảng 2. Kết quả thai kỳ của 8 thai phụ đã giảm thiểu về 2 phôi nhưng chỉ có 1 con sống
công là 104/121, tương đương 86%. Đặc biệt, có 
8 trường hợp thai phụ đã giảm thiểu về 2 phôi 
nhưng kết thúc thai kỳ chỉ có 1 con sống đã tổng 
kết tại bảng 2. 
Trong số 191 trẻ sơ sinh đẻ sống: 18,8% có 
cân nặng dưới 1500 gram; 51,3% có cân nặng 
từ 1500 đến 2500 gram và 29,8% có cân nặng 
trên 2500gram. Cân nặng trung bình của 191 
trẻ này là 2098,4 ± 575,4 gram.
Theo bảng 3, tỷ lệ thai hỏng < 24 tuần theo 
số lượng phôi trước giảm thiểu dao động từ 0% 
(ở nhóm 2 và 6 phôi) lên tới 33,3% (ở nhóm 5 
phôi). Tỷ lệ đẻ đủ tháng của nhóm có 2 phôi 
trước giảm thiểu là 100% trong khi của nhóm có 
6 phôi trước giảm thiểu là 0%. Như vậy, cùng với 
sự tăng số lượng phôi trước giảm thiểu, tỷ lệ thai 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 154 - 159, 2018
157
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Biểu đồ 2. Cân nặng trẻ sơ sinh đẻ sống
Kết quả
thai kỳ
Số lượng phôi trước và sau giảm thiểu
Tổng
2→1 3 4 5→2 6→2
3→1 3→2 4→1 4→2
Số trường hợp 
sảy, lưu, đẻ non < 
24 tuần
0 1 8 0 2 1 0 12
Số trường hợp đẻ 
non từ 24 đến < 
37 tuần
0 1 43 0 9 1 2 56
Số trường hợp đẻ 
từ 37 tuần 3 4 36 1 8 1 0 53
Tổng số 3 6 87 1 19 3 2 121
Tỷ lệ thai hỏng < 
24 tuần (%) 0
16,7 9,2 0 10,5
33,3 0 9,9
9,7 10
Tỷ lệ đẻ đủ tháng 
(%) 100
66,7 41,4 100 42,1
33,3 0 43,8
43 45
Bảng 3. Kết quả thai kỳ theo số lượng phôi trước giảm thiểu
Kết quả thai kỳ
Số lượng phôi còn lại sau giảm thiểu
Kiểm định
1 2
Số trường hợp sảy, lưu, đẻ non < 24 tuần 1 11
Số trường hợp đẻ non từ 24 đến < 37 tuần 1 55
Số trường hợp đẻ từ 37 tuần 8 45
Tổng số (n) 10 111
Tỷ lệ % đẻ từ 37 tuần 80% 40,5% p < 0,05
Cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh đẻ 
sống (gram) 2388,2 ± 981,0 2070,1 ± 515,3 p < 0,001
Bảng 4. Kết quả thai kỳ theo số lượng phôi sau giảm thiểu
hỏng < 24 tuần cũng có xu hướng tăng lên và tỷ 
lệ đẻ đủ tháng có xu hướng giảm đi, tuy nhiên 
chưa có ý nghĩa thống kê. Bên cạnh đó, những 
thai phụ có 3 hoặc 4 phôi sau khi giảm thiểu về 
1 phôi có tỷ lệ đẻ đủ tháng cao hơn những thai 
phụ chỉ lựa chọn giảm thiểu về 2 phôi.
Không có sự khác biệt về tuổi thai trung bình 
tại thời điểm kết thúc thai kỳ giữa các nhóm theo 
số lượng phôi trước giảm thiểu, đã giảm thiểu và 
số phôi còn lại sau giảm thiểu. Tuy nhiên, nhóm 
còn 1 phôi sau giảm thiểu có tỷ lệ đẻ đủ tháng 
(80%) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm 
còn 2 phôi (40,5%) với p < 0,05. Nhóm còn 1 
phôi cũng có cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh 
đẻ sống cao hơn so với nhóm còn 2 phôi có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,001. 
4. Bàn luận
Theo kết quả nghiên cứu, nhóm thai phụ có 
độ tuổi từ 25 – 29 chiếm tỷ lệ lớn nhất trong 
nghiên cứu với 64%. Kết quả này khác biệt với 
nghiên cứu của Nguyễn Viết Tiến (2007) cũng 
thực hiện tại TTHTSSQG khi nhóm tuổi 30 – 34 
chiếm đa số với tỷ lệ 46% [2]. Khác biệt này có 
thể đến từ tính chất xã hội hóa các dịch vụ hỗ trợ 
điều trị vô sinh cũng như hiểu biết và khả năng 
kinh tế của các cặp vợ chồng. 
Nhóm thai phụ mang đa thai sau điều trị IVF 
có tỷ lệ lớn nhất với 64,1%. Đối với phương pháp 
này, để tăng tỷ lệ thành công cần đặt nhiều phôi 
vào buồng tử cung, gây tăng tỷ lệ đa thai. 
Thời điểm và phương pháp giảm thiểu phôi/
thai có sự khác nhau rất lớn giữa các trung tâm 
khác nhau. Tại TTHTSSQG, thai phụ thường 
tiến hành giảm thiểu phôi vào lúc 7 đến 8 tuần 
bằng phương pháp hút qua đường âm đạo dưới 
siêu âm với 3 ưu điểm chính: đã vượt qua giai 
đoạn tiêu phôi tự phát; phôi nhỏ, ít di động, 
thực hiện thủ thuật hút phôi dễ dàng không cần 
dùng Kali clorua và thời điểm tiến hành sớm hơn 
các phương pháp khác từ 2 đến 4 tuần khiến 
phương pháp dễ được chấp nhận hơn về đạo 
đức, tôn giáo. Tuy nhiên, phương pháp có nhược 
điểm là không đặc hiệu, vẫn có khả năng phát 
triển những thai bất thường về hình thái xuất 
hiện song chỉ phát hiện được tại những tuần thai 
PHẠM TRÍ HIẾU
158
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
 V
À
 H
Ỗ
 T
R
Ợ
 S
IN
H
 S
Ả
N
muộn hơn. 2 trường hợp thai phụ có con chết đã 
được đề cập trong bảng 2 thể hiện rõ điều này. 
Số lượng phôi trước giảm thiểu phụ thuộc chủ 
yếu vào phương pháp điều trị vô sinh cho các 
thai phụ. Trong nghiên cứu của chúng tôi, các 
trường hợp có 5 và 6 phôi đều xảy ra sau IUI 
hoặc dùng thuốc KTPN + QHTN. Kết quả này 
cũng phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài 
nước. Nhờ có những tiến bộ trong lĩnh vực hỗ 
trợ sinh sản, nhằm hạn chế đa thai, xu hướng 
chung của trong nước và trên thế giới là giảm 
số lượng phôi chuyển vào buồng tử cung trong 
mỗi chu kỳ IVF. Trong đó, xuất hiện xu hướng 
chỉ chuyển 1 phôi duy nhất vào buồng tử cung 
song còn gây nhiều tranh cãi vì làm giảm khả 
năng thành công trong khi chi phí điều trị IVF 
tương đối tốn kém.
Kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ thuật giảm 
thiểu phôi đang thực hiện tại TTHTSSQG khá an 
toàn và không gây nhiều tai biến nghiêm trọng 
cho các thai phụ, không có thai phụ nào sảy thai 
ngay sau giảm thiểu. Hiệu quả của kỹ thuật thể 
hiện ở kết quả thai kỳ sau giảm thiểu: tỷ lệ sảy 
thai, thai lưu, đẻ non < 24 tuần là 9,9%, phù 
hợp với nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan 
(2002) là 7,1% [3], Đào Lan Hương (2004) là 
8,9% [4] cũng như nhiều trung tâm trên thế giới 
(7 – 12%). Tỷ lệ thai hỏng < 24 tuần thấp nhất 
từng được báo cáo trong nghiên cứu của Stone 
J (2008) là 4,7% và tác giả cho rằng không thể 
giảm thêm vì đây chính là tỷ lệ sảy thai tự nhiên 
của các song thai tính từ thời điểm có hoạt động 
tim thai [5]. Tỷ lệ thành công của phương pháp 
(thai phụ có ít nhất 1 con đẻ sống) là 86% cũng 
phù hợp với kết quả nghiên cứu của nhiều tác 
giả: 91,1% theo Đào Lan Hương (2004) [4]; 
84,4% theo nghiên cứu của Hoàng Thị Diễm 
Tuyết (2010) [6]. Kết quả nghiên cứu cho thấy 
cân nặng trung bình của tổng cộng 191 trẻ đẻ 
sống là 2.098,4 ± 575,4 gram, trong đó chiếm 
trên 50% là những trẻ có cân nặng từ 1500 – 
2500 gram. Theo nghiên cứu của Antsaklis và 
cộng sự (2004), trọng lượng của trẻ lúc sinh sau 
giảm thiểu là 2.260 gram và không có sự khác 
biệt về trọng lượng lúc sinh của nhóm giảm thiểu 
và không giảm thiểu [7].
Số phôi trước giảm thiểu là nhân tố có liên 
quan tới kết quả giảm thiểu. Theo kết quả bảng 
3, tỷ lệ thai hỏng < 24 tuần có xu hướng tăng dần 
khi số lượng phôi trong buồng tử cung tăng lên, 
tuy chưa có ý nghĩa thống kê. Kết quả này có thể 
giải thích do: khi phải giảm thiểu cùng lúc nhiều 
phôi sẽ gây tăng cả thời gian thực hiện cũng như 
mức độ phức tạp của kỹ thuật, có thể dẫn tới thay 
đổi áp lực đột ngột trong buồng tử cung, ảnh 
hưởng đến sự phát triển của những phôi còn lại. 
Stone J (2002) khi nghiên cứu trên 1000 trường 
hợp giảm thiểu đã nhận xét sự khác biệt theo số 
lượng phôi trước giảm thiểu: khi cùng giảm thiểu 
về 1 thai, tỷ lệ sảy thai là 2,5% nếu ban đầu là 2 
thai; 5% nếu ban đầu có từ 3 đến 5 thai và lên tới 
12,9% nếu ban đầu là 6 thai trở lên [8]. 
Hậu quả của đa thai liên quan chặt chẽ với 
số lượng phôi còn lại sau giảm thiểu. Tuy nhiên, 
một số trung tâm lo ngại nếu giảm thiểu còn duy 
nhất 1 phôi, có thể xảy ra hiện tượng phôi này 
ngừng phát triển, sảy, đẻ non một cách ngẫu 
nhiên hoặc thai bất thường nhiễm sắc thể... 
khiến toàn bộ việc điều trị thất bại [9]. Kết quả 
nghiên cứu này cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa 
nhóm giảm thiểu về 1 phôi so với nhóm giảm 
thiểu về 2 phôi: tỷ lệ đẻ đủ tháng và cân nặng 
trung bình của nhóm giảm về 1 phôi cao hơn 
một cách có ý nghĩa. Theo Evans M.I. (2014), 
các trường hợp giảm thiểu về 1 thai tuy có nguy 
cơ sảy thai vẫn cao hơn song thai song tỷ lệ đẻ 
non thấp hơn, kết thúc thai kỳ tại tuần thai muộn 
hơn và tỷ lệ trẻ đẻ sống nặng dưới 1500 gram 
thấp hơn 10 lần [10]. 
5. Kết luận
Quy trình giảm thiểu phôi bằng phương pháp 
hút dưới siêu âm đầu dò âm đạo tại Trung tâm 
HTSSQG hiện tại khá an toàn, cho kết quả khả 
quan. Tỷ lệ thai hỏng < 24 tuần là 9,9%, tỷ lệ 
thành công (thai phụ có ít nhất 1 con) là 86%. 
Giảm thiểu về 1 phôi làm tăng tỷ lệ đẻ đủ 
tháng và cân nặng lúc sinh so với giảm thiểu về 2 
phôi. Cần có thêm những nghiên cứu nhằm đánh 
giá hiệu quả của giảm thiểu về 1 phôi trên những 
cỡ mẫu lớn hơn.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 154 - 159, 2018
159
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Tài liệu tham khảo
1. ASRM Practice Committee. Multiple pregnancy and infertility therapy. 
Fertil Steril. 2006; 86(4): 107.
2. Nguyễn Viết Tiến. Đánh giá kỹ thuật giảm thiểu phôi thai chọn lọc 
tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 
01/2004 đến tháng 12/2006, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. 2007. 
3. Vương Thị Ngọc Lan. Kỹ thuật giảm thai trong các thai kỳ đa thai 
sau điều trị vô sinh, Tạp chí thông tin y dược, số 12/2001: tr. 27 – 33.
4. Đào Lan Hương. Đánh giá kết quả giảm thiểu phôi chọn lọc tại 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ 1/1/2004 đến 31/12/2008. Luận văn 
Thạc sỹ Y học. Đại học Y Hà nội. 2009.
5. Stone J, Ferrara L, Kamrath J, et al. Contemporary outcomes with 
the latest 1000 cases of multifetal pregnancy reduction, Obstet Gynecol. 
2008; 199: 406.e1 – 406.e4.
6. Hoàng Thị Diễm Tuyết. Giảm thai trong đa thai sau điều trị hiếm 
muộn: hiệu quả và an toàn, Tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh. 
2010; 14 (2): 59 – 63.
7. Antsaklis A, Souka AP, Daskalakis G et al. Pregnancy outcome after 
multifetal pregnancy reduction, J Matern Fetal Neonatal Med. 2004 Jul; 
16 (1): 27 – 31.
8. Stone J, Eddleman L, Lynch L et al. A single center experience with 
1000 consecutive cases of multifetal pregnancy reduction, Am J Obstet 
Gynecol. 2002; 187: 1163. 
9. Haas J, Mohr Sasson A, Barzilay E, et al. Perinatal outcomes after 
multifetal pregnancy reduction from twin to singleton: to reduce or not to 
reduce?, Fertil Sterile. 2015; 103: 428.
10. Evans M.I., Andriole S., Britt D.W. Fetal reduction: 25 years’ 
experience, Fetal Diagn Ther. 2014; 35 (2): 69 – 82.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ket_qua_thai_ky_sau_giam_thieu_phoi_tai_trung_tam_h.pdf