Nhận xét kết quả sàng lọc di truyền tiền làm tổ tại khoa hỗ trợ sinh sản - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Việc lựa chọn phôi dựa trên những tiêu chuẩn về hình thái như: kích

thước, số lượng các phôi bào và tỷ lệ các mảnh vụn bào tương của phôi

không phản ánh đầy đủ chất lượng thực của phôi. Phần lớn các trường hợp

phôi không làm tổ được hoặc bị sẩy thai sớm là do phôi bị bất thường về

nhiễm sắc thể. Kỹ thuật sàng lọc di truyền tiền làm tổ (Preimlantition genetic

screening – PGS) ra đời là bước tiến quan trọng giúp sàng lọc bất thường

của phôi ở giai đoạn sớm trước khi làm tổ nhằm phát hiện những phôi bất

thường (nguyên nhân chính gây thất bại làm tổ hay sảy thai nhiều lần sau

chuyển phôi), chọn những phôi bình thường có tiềm năng làm tổ cao nhất

để chuyển vào buồng tử cung cho bệnh nhân nhằm cải thiện tỷ lệ có thai.

PGS thường được đề xuất cho các trường hợp TTTON tiên lượng kém như:

phụ nữ lớn tuổi, tiền căn sẩy thai liên tiếp nhiều lần (trên 2 lần), thất bại

làm tổ nhiều lần (trên 3 lần).

pdf 6 trang phuongnguyen 460
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét kết quả sàng lọc di truyền tiền làm tổ tại khoa hỗ trợ sinh sản - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét kết quả sàng lọc di truyền tiền làm tổ tại khoa hỗ trợ sinh sản - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Nhận xét kết quả sàng lọc di truyền tiền làm tổ tại khoa hỗ trợ sinh sản - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 31 - 36, 2017
31
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Nguyễn Duy Ánh, Phạm Thúy Nga, Nguyễn Thu Huyền, Nguyễn Thị Linh 
Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
NHẬN XÉT KẾT QUẢ SÀNG LỌC DI TRUYỀN
TIỀN LÀM TỔ TẠI KHOA HỖ TRỢ SINH SẢN -
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Duy Ánh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
1. Đặt vấn đề
Việc lựa chọn phôi dựa trên những tiêu chuẩn về hình thái như: kích 
thước, số lượng các phôi bào và tỷ lệ các mảnh vụn bào tương của phôi
không phản ánh đầy đủ chất lượng thực của phôi. Phần lớn các trường hợp 
phôi không làm tổ được hoặc bị sẩy thai sớm là do phôi bị bất thường về 
nhiễm sắc thể. Kỹ thuật sàng lọc di truyền tiền làm tổ (Preimlantition genetic 
screening – PGS) ra đời là bước tiến quan trọng giúp sàng lọc bất thường 
của phôi ở giai đoạn sớm trước khi làm tổ nhằm phát hiện những phôi bất 
thường (nguyên nhân chính gây thất bại làm tổ hay sảy thai nhiều lần sau 
chuyển phôi), chọn những phôi bình thường có tiềm năng làm tổ cao nhất 
để chuyển vào buồng tử cung cho bệnh nhân nhằm cải thiện tỷ lệ có thai. 
PGS thường được đề xuất cho các trường hợp TTTON tiên lượng kém như: 
phụ nữ lớn tuổi, tiền căn sẩy thai liên tiếp nhiều lần (trên 2 lần), thất bại 
làm tổ nhiều lần (trên 3 lần). 
Như vậy một chu kì PGD/PGS gồm các giai đoạn: kích thích buồng 
trứng làm TTON, sinh thiết phôi, xét nghiệm di truyền và chuyển phôi. 
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện sinh thiết phôi vào sáng ngày 
thứ 3 sau thụ tinh (giai đoạn 66-68h sau ICSI) để làm xét nghiệm di truyền 
(24h) và lựa chọn phôi chuyển vào buồng tử cung vào ngày 4 [6]. Ở thời 
điểm sinh thiết phôi ngày 3 sau thụ tinh, liên kết giữa các phôi bào bắt 
đầu chặt chẽ có thể gặp khó khăn trong quá trình sinh thiết. Ngoài ra, khả 
năng tự tái sắp xếp lại cấu trúc của phôi ngày 3 cũng như hiện tượng khảm 
(mosaicism) có thể xảy ra gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm di truyền 
[2]. Kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới được áp dụng rộng rãi ở châu Âu 
và Mỹ để phân tích nhiễm sắc thể của phôi. Kỹ thuật này không chỉ phát 
hiện bất thường về số lượng nhiễm sắc thể mà còn giúp phát hiện đột biến 
có độ lớn >20Mb [3], [4]. 
Nghiên cứu này của chúng tôi được thực hiện nhằm hai mục tiêu:
1. Nhận xét tình trạng bất thường trên 23 cặp nhiễm sắc thể của phôi 
ngày 3 trong thụ tinh trong ống nghiệm.
NGUYỄN DUY ÁNH, PHẠM THÚY NGA, NGUYỄN THU HUYỀN, NGUYỄN THỊ LINH
32
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
2. Đánh giá kết quả của chu kì thụ tinh trong ống 
nghiệm có thực hiện sàng lọc di truyền tiền làm tổ.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn
Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân tham gia 
làm PGS tại khoa Hỗ trợ sinh sản, bệnh viện Phụ 
sản Hà Nội thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:
• Có 1 trong các yếu tố về lâm sàng sau: lớn 
tuổi, tiền sử sẩy thai (2 lần trở lên), thất bại làm tổ 
nhiều lần (từ 3 lần trở lên).
• Phôi ngày 3 có từ 6 tế bào trở lên, tỷ lệ mảnh 
vỡ bào tương dưới 25%
• Tinh trùng có khả năng di động.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
• Bệnh nhân không có phôi đủ tiêu chuẩn.
• Bệnh nhân chuyển phôi trữ lạnh.
• Bệnh nhân có tinh trùng bất động hoặc tinh 
trùng phẫu thuật.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 
hồi cứu
2.2.2. Cỡ mẫu
Toàn bộ bệnh nhân tham gia PGS tại khoa Hỗ 
trợ sinh sản, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đủ tiêu 
chuẩn nghiên cứu trong thời gian từ 01/11/2015 
đến 31/11/2016.
2.2.3. Kỹ thuật thu thập số liệu 
Số liệu được thu thập từ 3 nguồn: phiếu thu thập 
số liệu, thông tin từ hồ sơ bệnh án và thông tin do 
bệnh nhân cung cấp (trực tiếp hoặc qua điện thoại).
2.2.4. Quy trình thực hiện
2.3. Xử lý số liệu:
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS và các 
phương pháp thống kê.
2.4. Đạo đức nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu tự nguyện tham gia sau 
khi được cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết về 
nghiên cứu. Nghiên cứu không gây ảnh hưởng đến 
kết quả điều trị của bệnh nhân. Các thông tin cá 
nhân do bệnh nhân cung cấp được đảm bảo bí mật.
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 
Tổng cộng có 122 bệnh nhân đủ điều kiện tham 
gia vào nghiên cứu của chúng tôi với đặc điểm 
chung như sau:
Nhận xét: 
Đối tượng bệnh nhân chủ yếu của chúng tôi là 
nhóm bệnh nhân lớn tuổi (trung bình 34,31), vô 
sinh II (chiếm 78,7%) nhiều năm (thoời gian ô sinh 
trung bình trên 3,5 năm). 
Hầu hết các phôi được sinh thiết và xét nghiệm 
di truyền là những phôi “có tiềm năng” theo tiêu 
chuẩn đánh giá về hình thái (57,2% phôi tốt và 
29,8% phôi trung bình), chỉ có 13% phôi có hình 
thái xấu. 
3.2. Kết quả đánh giá di truyền của 
phôi ngày 3
3.2.1. Kết quả giải trình tự gen 24 NST của 
577 phôi ngày 3
Nhận xét: Trong số 577 phôi được sinh thiết, có 
41 trường hợp không nhân được ADN và kết quả 
nhiễu (chiếm 7,1%), 182/577 trường hợp không 
phát hiện bất thường 24 nhiễm sắc thể (chiếm 
Hình 3.1: Kết quả xét nghiệm di truyền của 577 phôi ngày 3
3.3. Kết quả của chu kỳ IVF có sàng 
lọc di truyền
3.3.1. Theo dõi sự phát triển của phôi sau 
sinh thiết
Nhận xét: 
Theo dõi sự phát triển tiếp theo của 577 phôi 
sau sinh thiết, chúng tôi nhận thấy 86% phôi tiếp 
tục phát triển, trong đó 51,1% phôi phát triển đến 
giai đoạn phôi nén (tức là phôi phát triển đúng tốc 
độ), chỉ có 14% phôi ngừng phát triển vào ngày 4. 
Phôi có hình thái tốt và trung bình vào ngày 3 có tỷ 
lệ phôi phát triển tiếp và phôi nén vào ngày 4 cao 
hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm phôi có hình 
thái xấu (p=0.000).
3.3.2. Tỷ lệ có thai của chu kỳ IVF có sàng lọc 
di truyền
Nhận xét: 
Trong 122 bệnh nhân tham gia chu kì PGS, có 
86 bệnh nhân có chuyển phôi ở chu kì phôi tươi. Số 
phôi chuyển trung bình từ 1-2 phôi. Trong tổng số 
86 trường hợp chuyển phôi này, có ghi nhận 46/86 
trường hợp có thai. Tỷ lệ có thai chung đạt 53,5%. 
Đánh giá riêng tỷ lệ có thai của từng nhóm số 
lượng phôi chuyển thấy rằng tỷ lệ có thai tăng (có 
ý nghĩa thống kê p=0,011) khi chuyển nhiều phôi 
tương ứng 35,1%, 69,2% và 60% khi chuyển 1 
phôi, 2 phôi và 3 phôi.
4. Bàn luận
4.1. Bàn luận về tỷ lệ bất thường NST
Tỷ lệ bất thường NST trong nghiên cứu của 
chúng tôi là 61,4%, trong đó tỷ lệ phôi mang bất 
thường lệch bội (bao gồm phôi bất thường số lượng 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 31 - 36, 2017
33
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
31,5%) và 354/577 trường hợp (61,4%) phát hiện 
có bất thường 24 nhiễm sắc thể.
Nhận xét: Trong 354 phôi có phát hiện bất 
thường 24 nhiễm sắc thể, phần lớn các phôi bị bất 
thường số lượng NST (284/354 chiếm 80,2%), 
trong khi chỉ có 10,7% phôi bất thường cấu trúc 
NST (38/354) và 9% phôi (32/354) mang cả 2 
loại bất thường.
3.2.2. Phân bố bất thường trên từng cặp NST
Nhận xét:
Khảo sát 536 phôi có kết quả xét nghiệm di 
truyền (loại 41 phôi không nhân được ADN), 
ta thấy:
Tỷ lệ bất thường NST (bao gồm bất thường số 
lượng NST, bất thường cấu trúc NST và bất thường 
cả hai) ở mỗi cặp NST khác nhau, dao động từ 
9,9% - 17,4%. Tần xuất bất thường hay gặp nhất 
ở NST XY (17,4%), NST 21 (17%), NST 2 (16,8%), 
NST 15 (16,3%) và NST 8 (16,2%). Tần suất bất 
thường ít gặp nhất ở NST 17 (9,9%), NST 19 
(10,3%) và NST 11 (11%), NST 7 và 12 (12,2%). 
Tỷ lệ bất thường số lượng NST cao nhất là cặp 
21 (16,8%), XY (16,6%), 15 (15,9%), NST 2 và 
NST 8 (15.5%). Tỷ lệ bất thường số lượng NST thấp 
nhất ở cặp số 17 (9,9%), 11 và 19 (10,3%), NST 
20 (11,2%) và NST 12 (11,6%).
Tỷ lệ bất thường cấu trúc NST cao nhất là NST 
1 (2,2%), NST 3 (1,7%), NST 9 (1,5%) và NST 2 
(1,3%). Tỷ lệ bất thường cấu trúc NST thấp nhất ở 
NST 17, NST 18, NST 19, NST 20, NST 22 (0%).
Hình 3.2: Kết quả phân loại của nhóm phôi bất thường NST
NGUYỄN DUY ÁNH, PHẠM THÚY NGA, NGUYỄN THU HUYỀN, NGUYỄN THỊ LINH
34
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
và phôi mang cả hai loại bất thường) là 54,7%. 
Tỷ lệ bất thường NST và lệch bội trong nghiên cứu 
của chúng tôi khác biệt nhiều so với các nghiên cứu 
khác. Sự khác nhau về tỷ lệ giữa các nghiên cứu do 
nhiều nguyên nhân:
• Đối tượng bệnh nhân: Tỷ lệ bất thường lệch 
bội trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn trong 
nghiên cứu của Al-Asma và cs (2012), Rubio và cs 
(2013). Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi 
là nhóm bệnh nhân vô sinh II, lớn tuổi. Nghiên cứu 
của Al-Asma và cs (2012), Rubio và cs (2013) chủ 
yếu trên nhóm đối tượng bệnh nhân thất bại làm 
tổ liên tiếp nhiều lần hoặc sảy thai liên tiếp. Theo 
Munne, đây là nhóm đối tượng phôi có khả năng 
bị lệch bội NST cũng cao hơn do buồng trứng có xu 
hướng bị già hóa, dẫn đến giảm số lượng cũng như 
chất lượng noãn trưởng thành. Trong khi nhóm đối 
tượng lớn tuổi, nguy cơ tạo phôi lệch bội NST chủ 
yếu là do tăng khả năng bất thường phân ly NST 
dẫn đến hình thành noãn bất thường lệch bội. 
• Phương pháp xét nghiệm di truyền: nghiên 
cứu của chúng tôi sử dụng kĩ thuật giải trình tự 
gen thế hệ mới (NGS) có khả năng phát hiện bất 
thường số lượng NST cũng như bất thường cấu 
trúc thêm/ mất đoạn > 20Mb. Trong hầu hết các 
nghiên cứu hiện nay, kỹ thuật NGS chủ yếu dùng 
để xét nghiệm di truyền phôi nang. Các nghiên cứu 
của Al-Asma và cs (2012), Rubio và cs (2013) sử 
dụng kĩ thuật FISH chỉ đánh giá được một vài cặp 
NST; nghiên cứu của Rubio và cs (2013) và Phan 
T. Khánh Vy (2015) sử dụng kỹ thuật CGH ít xác 
định được bất thường cấu trúc NST. 
• Nguyên nhân chính theo chúng tôi là do việc 
lựa chọn phôi trước sinh thiết. Nhiều nghiên cứu về 
liên quan giữa hình thái phôi với tỷ lệ bất thường 
di truyền đã đưa ra khuyến cáo về những hình 
thái phôi có tỷ lệ bất thường di truyền cao (Magli 
và cs, 2001; Finn, 2010). Vì lý do chi phí của kĩ 
thuật giải trình tự gen thế hệ mới tương đối cao nên 
trong thực tế khi lựa phôi sinh thiết, chúng tôi chỉ 
chọn phôi có tỷ lệ phân mảnh bào tương dưới 25%, 
không chọn những phôi có kích thước phôi bào 
quá lệch hoặc phôi có một phôi bào to bao quanh 
bởi những phôi bào nhỏ. Những phôi xấu còn lại 
của bệnh nhân, chúng tôi tiếp tục nuôi đến ngày 
5, nếu phôi phát triển đến giai đoạn phôi nang sẽ 
tiến hành sinh thiết tế bào lá nuôi. Đây là phương 
án tốt nhất giúp bệnh nhân giảm bớt chi phí cần 
phải chi trả. Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi hầu 
hết chỉ nhận phôi có hình thái tốt và trung bình, chỉ 
có 13% phôi hình thái xấu. 
4.2. Bàn luận về phân bố bất thường NST
Điểm mới trong nghiên cứu của chúng tôi là 
nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam đề cập đến tỷ lệ 
bất thường cấu trúc NST và sự phân bố bất thường 
cấu trúc NST trên từng cặp NST. Tuy nhiên, tỷ lệ 
phôi bất thường cấu trúc NST tương đối thấp so với 
bất thường số lượng NST. Điều này có thể giải thích 
do các nguyên nhân:
• Nguyên nhân thứ nhất là do cơ chế tự sửa 
chữa của phôi. Những bất thường cấu trúc nhỏ xảy 
ra trong quá trình phát triển của phôi có thể được 
sửa chữa trở lại bình thường. Những bất thường 
cấu trúc lớn (thêm, mất đoạn lớn) và những bất 
thường về số lượng NST có khả năng tự sửa chữa 
ít hơn. Điều này có thể thấy rõ ràng khi 73% phôi 
bất thường cấu trúc có khả năng tự sửa chữa và 
phát triển tiếp thành phôi nén, trong khi tỷ lệ này ở 
nhóm phôi bất thường số lượng NST là 41,2%. Bởi 
vậy, tại thời điểm sinh thiết và xét nghiệm vào D3, 
khả năng phát hiện những bất thường lớn, chưa kịp 
sửa chữa cao hơn. 
• Nguyên nhân thứ hai là do hiện tượng thể 
khảm của phôi ngày 3, tức là trong phôi có thể có 
2 hay vài phôi bào có NST khác nhau. Trong quá 
trình phân chia của phôi (nguyên phân), hai nhiễm 
sắc tử chị em không phân ly hoàn toàn tạo ra một 
phôi bào có thừa 1 NST và một phôi bào thiếu 1 
NST. Việc sinh thiết 1 phôi bào từ phôi ngày 3 để 
xét nghiệm di truyền dễ đến kết quả bất thường 
NST. Sinh thiết 2 phôi bào đã được đề xuất để làm 
hạn chế hiện tượng thể khảm của phôi. Tuy nhiên, 
theo nhiều nghiên cứu, sinh thiết 2 phôi bào làm 
giảm tỷ lệ phát triển thành phôi nang, giảm tỷ lệ 
làm tổ của phôi. Hơn nữa, việc sinh thiết 2 phôi 
bào không phải là ngẫu nhiên mà thường là sinh 
thiết 2 phôi bào cạnh nhau nên khả năng cao lấy 
được 1 phôi bào thừa NST và 1 phôi bào thiếu NST 
dẫn đến kết quả xét nghiệm di truyền bình thường. 
Cơ chế tự sửa chữa của phôi và hiện tượng thể 
khảm ngày 3 cũng là hai hạn chế lớn của việc lựa 
chọn thời điểm sinh thiết phôi ngày 3. Với điều kiện 
trang thiết bị và nhân lực vào thời điểm cuối năm 
2015, khoa Hỗ trợ sinh sản mới triển khai được 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 31 - 36, 2017
35
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
sinh thiết phôi ngày 3. Chính vì thế, khi lựa chọn 
phôi chuyển, ngoài dựa vào kết quả xét nghiệm, 
chúng tôi còn cân nhắc đến khả năng phát triển 
tiếp của phôi. Đôi khi những phôi mang bất thường 
nhẹ nhưng phát triển tiếp được cân nhắc để chuyển 
phôi. Một số trường hợp phôi bất thường hoặc phôi 
không nhân được ADN mà phát triển đến giai đoạn 
phôi nang, chúng tôi tư vấn bệnh nhân đông lại 
hoặc sinh thiết lại bằng phương pháp sinh thiết phôi 
nang. Trong toàn bộ chu kì PGS, chúng tôi đều có 
trao đổi với bệnh nhân về những lợi thế cũng như 
hạn chế của phương pháp và nhận được sự đồng ý 
của bệnh nhân trước khi sinh thiết, chuyển phôi vào 
buồng tử cung hoặc đông phôi. Hiện tại chúng tôi 
đã dần hoàn thiện kỹ thuật sinh thiết phôi nang để 
có thể cải tiến tốt hơn quy trình PGS. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bất 
thường lớn nhất ở NST XY, 21, 2, 15 và NST 8. 
Tỷ lệ bất thường thấp nhất ở NST 17, 19, 11, 7 
và 12. Tỷ lệ bất thường số lượng cao nhất là cặp 
21, XY, 15, 2 và NST 8. Tỷ lệ bất thường số lượng 
thấp nhất ở cặp số 17, 11 và 19, 20 và NST 12. 
Tỷ lệ bất thường cấu trúc cao nhất là NST 1, 3, 9 
và 2. Tỷ lệ bất thường cấu trúc thấp nhất ở NST 
17, 18, 19, 20, 22 (0%). Nghiên cứu này cũng 
tương tự với một số kết quả khác khi xác định được 
bất thường nhiều nhất xảy ra ở NST XY, 15 và 
21; bất thường xảy ra ít nhất ở NST 7. Tuy nhiên, 
khác với Gutierrez và cs (2012), nghiên cứu này 
nhận thấy bất thường mất NST gặp nhiều hơn bất 
thường thêm NST. Theo các nghiên cứu, các bất 
thường liên quan đến nhiễm sắc thể 16 và 22 là 
nguyên nhân phổ biến của sẩy thai ba tháng đầu 
tiên. Các bất thường liên quan đến nhiễm sắc thể 
8, 9, 15, và 17 là nguyên nhân hiếm gặp hơn ở 
các trường hợp sẩy thai ba tháng đầu tiên. Những 
bất thường này sẽ không được tư vấn chuyển phôi. 
Cơ thể có khả năng dung nạp những bất thường 
thừa tốt hơn những bất thường thiếu nên những bất 
thường thêm NST như trisomy 13, 18, 21, XXY có 
khả năng phát triển thành những thai nhi bị dị tật. 
Phôi mang nhiều bất thường (đặc biệt là bất thường 
mất NST) thường bị đào thải dẫn đến phôi không 
thể làm tổ được. 
4.3. Bàn luận về kết quả của chu kì 
TTON có sàng lọc di truyền tiền làm tổ
Chính vì tỷ lệ phôi ngày 3 bất thường NST cao 
nên nếu chỉ dựa vào kết quả xét nghiệm thì tỷ lệ bệnh 
nhân có phôi chuyển sẽ tương đối thấp. Vì thế, việc 
lựa chọn phôi chuyển của chúng tôi còn phụ thuộc 
vào những yếu tố khác chẳng hạn như chất lượng 
phôi ngày 4, số lượng phôi có thể chuyển được, 
mong muốn của bệnh nhân. Thông thường, chúng 
tôi chỉ chuyển 1-2 phôi. Ưu tiên chuyển những phôi 
bình thường và phát triển đến phôi nén. Sau cùng 
là những phôi bình thường có phát triển tiếp hoặc 
những phôi bất thường nhẹ (bất thường cấu trúc 
NST) nhưng vẫn phát triển đến phôi nén. Những 
trường hợp chuyển 3 phôi chủ yếu là do bệnh nhân 
chỉ có 3 phôi có thể chuyển mà các phôi chỉ phát 
triển tiếp so với thời điểm ngay sau sinh thiết chứ 
chưa đến giai đoạn phôi nén. 
Trong tổng sô 122 bệnh nhân tham gia vào chu 
kì PGS, có 86 bệnh nhân tham gia chuyển phôi. Tỷ 
lệ có thai chung đạt 53,5% (46/86). Tỷ lệ có thai 
tăng (p=0,011) khi chuyển nhiều phôi (tương ứng 
35,1%, 69,2% và 60% khi chuyển 1 phôi, 2 phôi 
và 3 phôi). Xem xét tỷ lệ có thai giữa các nhóm tuổi 
bệnh nhân, chúng tôi nhận thấy, tỷ lệ có thai cao ở 
nhóm tuổi 35-40 và trên 40 tuổi (73,1% và 87,5%) 
và thấp ở nhóm tuổi dưới 30 (35,3%). Khác biệt có 
ý nghĩa thống kê (p=0,006). Kết quả này có thể 
lý giải như sau: trong nghiên cứu của chúng tôi, 
phần lớn bệnh nhân là nhóm lớn tuổi, VSII nhiều 
năm (tức là đã từng có con/ có thai trước đó). Vấn 
đề của bệnh nhân có lẽ là do bất thường về noãn 
gây nên tỷ lệ phôi bất thường lớn, dẫn đến vô sinh. 
Nhiều nghiên cứu thấy rẳng phụ nữ lớn tuổi có 
nguy cơ tạo noãn mang bất thường thoi vô sắc 
cao, đặc biệt là phụ nữ trên 40 tuổi tỷ lệ noãn bất 
thường thu được khoảng 70%. Vậy nên, kỹ thuật 
PGS giúp xác định được những phôi bất thường 
di truyền, chọn ra những phôi bình thường có tiềm 
năng nhất để chuyển vào buồng tử cung, nhờ đó 
mà cải thiện trực tiếp tỷ lệ có thai. 
5. Kết luận
• Trong số 577 phôi được sinh thiết, có 41 
trường hợp không nhân được ADN và kết quả 
nhiễu (chiếm 7,1%), 182/577 trường hợp không 
phát hiện bất thường 24 NST (chiếm 31,5%) và 
354/190 trường hợp (61,4%) phát hiện có bất 
thường 24 NST. 
NGUYỄN DUY ÁNH, PHẠM THÚY NGA, NGUYỄN THU HUYỀN, NGUYỄN THỊ LINH
36
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
• Trong 354 phôi có phát hiện bất thường 24 
NST, phần lớn các phôi bị bất thường số lượng 
nhiễm sắc thể (284/354 chiếm 80,2%), trong khi 
chỉ có 10,7% phôi bất thường về cấu trúc NST 
(38/354) và 9% phôi (32/354) mang cả 2 loại 
bất thường
• Khảo sát 354 phôi có phát hiện bất thường 24 
NST, tỷ lệ bất thường NST, bất thường số lượng NST, 
bất thường cấu trúc NST ở mỗi cặp khác nhau:
o Tỷ lệ bất thường lớn nhất ở NST XY, 21, 2, 15 
và NST 8 . Tỷ lệ bất thường thấp nhất ở NST 17, 19, 
11, 7 và 12. 
o Tỷ lệ bất thường số lượng cao nhất là cặp 21, 
XY, 15, 2 và NST 8. Tỷ lệ bất thường số lượng thấp 
nhất ở cặp 17, 11, 19, 20 và 12.
o Tỷ lệ bất thường cấu trúc cao nhất là NST 1, 
3, 9 và 2. Tỷ lệ bất thường cấu trúc thấp nhất ở NST 
17, 18, 19, 20, 22.
• Tỷ lệ phôi phát triển tiếp sau sinh thiết đạt 
86% cho thấy kỹ thuật sinh thiết ít ảnh hưởng đến 
sự phát triển của phôi. Phôi có hình thái tốt và trung 
bình có tỷ lệ phôi phát triển tiếp cao hơn có ý nghĩa 
thống kê so với nhóm phôi có hình thái xấu. 
• Trong tổng sô 122 bệnh nhân tham gia vào 
chu kì PGS, có 86 bệnh nhân tham gia chuyển 
phôi. Số phôi chuyển trung bình từ 1-2 phôi. Tỷ lệ 
có thai chung đạt 53,5% (46/86). 
6. Kiến nghị
• Kết quả của nghiên cứu cho thấy, kĩ thuật 
sàng lọc di truyền tiền làm tổ hứa hẹn là phương 
pháp hiệu quả ở giai đoạn sớm giúp các cặp vợ 
chồng hiếm muộn tăng tỷ lệ có thai và cơ hội sinh 
những đứa trẻ khỏe mạnh.
• Cần có những nghiên cứu so sánh sâu hơn, 
số lượng mẫu lớn hơn để có thể đánh giá toàn diện 
hiệu quả của kĩ thuật sàng lọc di truyền tiền làm tổ.
Tài liệu tham khảo
1. Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special Interest 
Group of Em¬bryology, 2011. The Istanbul consensus workshop on embryo 
assessment: preceed¬ings of an expert meeting. Hum. Reprod. 26, 1270-1283.
2. D.D. Daphnis, E. Fragouli1, K. Economou, S. Jerkovic, I.L. Craft, 
J.D.A. Delhanty and J.C. Harper. Analysis of the evolution of chromosome 
abnormalities in human embryos from Day 3 to 5 using CGH and FISH. MHR-
Basic Science of Reproductive Medicine Vol.14, No.2 pp. 117–125, 2008.
3. Francesco Fiorentino, Sara Bono, Anil Biricik (2014). Application of 
next-generation sequencing technology for comprehensive aneuploidy 
screening of blastocysts in clinical preimplantation genetic screening 
cycles. Human Reproduction, Vol.29, No.12 pp. 2802–2813, 2014
4. Haiyan Zheng, Hua Jin, Lian Liu. Application of next-generation 
sequencing for 24-chromosome aneuploidy screening of human 
preimplantation embryos. Molecular Cytogenetics (2015).
5. G. Harton, P. Braude, A. Lashwood, A. Schmutzler, J. Traeger-
Synodinos, L.Wilton, and J.C. Harper. ESHRE PGD consortium best 
practice guidelines for organization of a PGD centre for PGD/PGS. Human 
Reproduction, Vol.00, No.0 pp. 1–11, 2010.
6. G.L. Harton, M.C. Magli, K. Lundin, M. Montag, J. Lemmen, and 
J.C. Harper. ESHRE PGD Consortium/Embryology Special Interest 
Group—best practice guidelines for polar body and embryo biopsy 
for preimplantation genetic diagnosis/screening (PGD/PGS). Human 
Reproduction, Vol.0, No.0 pp. 1–6, 2010.
7. Hội sản khoa và sinh đẻ có kế hoạch Việt Nam (VINAGOFPA), Chi 
hội y học sinh sản Việt Nam (VSRM). Đồng thuận đánh giá hình thái 
noãn, phôi trong Hỗ trợ sinh sản. 
8. Malmgren H., Sahlen S., Inzunza J., Aho M., Single cell CGH analysis 
reveals a high degree of mosaicism in human embryos from patients with 
balanced structural chromosome aberrations. Mol. Hum. Reprod, (2002) 
8 (5):502-510.
9. Nguyễn Viết Tiến và Nguyễn Thị Minh (2014). Bước đầu đánh giá 
kết quả chẩn đoán di truyền tiền làm tổ tại bệnh viện phụ sản trung 
ương. Tạp chí phụ sản, 12, 173-175.
10. Norbert Gleicher, Vitaly A Kushnir and David H Barad. Preimplantation 
genetic screening (PGS) still in search of a clinical application: a systematic 
review. Reproductive Biology and Endocrinology 2014, 12:22.
11. Phan thị Khánh Vy (2015). Nghiên cứu một số yếu tố liên quan với 
lệch bội nhiễm sắc thể của phôi người trước làm tổ. Luân án Tiến sỹ, 
Đại học Y Hà Nội.
12. Rubio C, Rodrigo L, Mir P et al (2013). Use of array comparative 
genomic hybridization (array-CGH) for embryo assessment: clinical 
results. Fertility and Sterility, 99, 1044-1048.
13. The ESHRE Special Interest Group Reproductive Genetics. The 
current status of PGD and PGS. Pre-congress course 12, Munich, 
Germany 29 June 2014.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ket_qua_sang_loc_di_truyen_tien_lam_to_tai_khoa_ho.pdf