Nhận xét kết quả phẫu thuật u buồng trứng phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2018

Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ phẫu thuật u buồng trứng khi mang thai.

(2) Phân tích kết quả phẫu thuật u buồng trứng khi mang thai và phẫu

thuật lấy thai.

Phương pháp: Mô tả hồi cứu.

Đối tượng: tất cả các u buồng trứng được phẫu thuật khi đang mang

thai và khi đẻ trong năm 2018.

Kết quả: Tỷ lệ phẫu thuật khối u buồng trứng ở phụ nữ mang thai

chiếm 0,67% tổng số ca đẻ. Trong tổng số phụ nữ mang thai có phẫu

thuật u buồng trứng thì tỷ lệ phẫu thuật khối u buồng trứng khi đang

mang thai là 41,3%; phẫu thuật u buồng trứng kèm với phẫu thuật lấy

thai là 58,7%. Phẫu thuật chủ động khi đang mang thai là 87,1%; phẫu

thật cấp cứu là 12,9%. Tỷ lệ phẫu thuật nội soi khi đang mang thai là

93,5%. Không có tai biến nào xảy ra khi phẫu thuật.

pdf 5 trang phuongnguyen 60
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét kết quả phẫu thuật u buồng trứng phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét kết quả phẫu thuật u buồng trứng phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2018

Nhận xét kết quả phẫu thuật u buồng trứng phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2018
LÊ HOÀI CHƯƠNG, MAI TRỌNG DŨNG, NGUYỄN ĐỨC THẮNG, PHẠM HOÀI SƠN, ĐOÀN THỊ THU TRANG
98
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
Lê Hoài Chương, Mai Trọng Dũng, Nguyễn Đức Thắng, Phạm Hoài Sơn, Đoàn Thị Thu Trang 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
NHẬN XÉT KẾT QUẢ PHẪU THUẬT
U BUỒNG TRỨNG PHỤ NỮ MANG THAI
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2018
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đoàn Thị Thu Trang, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Từ khóa: U buồng trứng; phụ 
nữ có thai.
Keywords: Ovarian tumors; 
pregnant women.
Tóm tắt
Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ phẫu thuật u buồng trứng khi mang thai. 
(2) Phân tích kết quả phẫu thuật u buồng trứng khi mang thai và phẫu 
thuật lấy thai. 
Phương pháp: Mô tả hồi cứu. 
Đối tượng: tất cả các u buồng trứng được phẫu thuật khi đang mang 
thai và khi đẻ trong năm 2018. 
Kết quả: Tỷ lệ phẫu thuật khối u buồng trứng ở phụ nữ mang thai 
chiếm 0,67% tổng số ca đẻ. Trong tổng số phụ nữ mang thai có phẫu 
thuật u buồng trứng thì tỷ lệ phẫu thuật khối u buồng trứng khi đang 
mang thai là 41,3%; phẫu thuật u buồng trứng kèm với phẫu thuật lấy 
thai là 58,7%. Phẫu thuật chủ động khi đang mang thai là 87,1%; phẫu 
thật cấp cứu là 12,9%. Tỷ lệ phẫu thuật nội soi khi đang mang thai là 
93,5%. Không có tai biến nào xảy ra khi phẫu thuật.
Từ khóa: U buồng trứng; phụ nữ có thai. 
Abstract 
COMMENT ABOUT THE RESULTS OF OVARIAN 
TUMOR SURGERY IN PREGNANT WOMEN AT 
NATIONAL HOSPITAL OF OBTETRICS AND 
GYNECOLOGY IN 2018
Objectives: (1) Determine the rate of surgery for ovarian tumors during 
pregnancy. (2) Analysis of the results of ovarian tumor surgery during 
pregnancy and cesarean. 
Method: Retrospective description. 
Subjects: All women pregnancy were operated ovarian tumors at the 
National Hospital Obstetrics and Gynecology in 2018. 
Results: The rate of ovarian tumor surgery in pregnant women was 0.67% 
of the total delivery. The rate of surgery for ovarian tumors during pregnancy 
was 41.3% of ovarian tumor surgery in pregnant women; ovarian tumor 
surgery with cesarean was 58.7%. Surgery in program during pregnancy 
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
99
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 98 - 102, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
1. Đặt vấn đề
Khối u buồng trứng (UBT) là một loại khối u của 
cơ quan sinh dục, gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hay 
gặp nhất trong độ tuổi hoạt động sinh sản và có 
thể gặp trong thời kỳ thai nghén. 
Phẫu thuật khối UBT trong thai kỳ là một kỹ thuật 
khó vì vừa phải đảm bảo an toàn cho cuộc mổ, vừa 
phải đảm bảo an toàn cho thai nhi. Nghiên cứu 
lại các ca phẫu thuật đó có thể giúp chúng ta có 
kinh nghiệm trong việc quyết định thời điểm phẫu 
thuật, phương pháp phẫu thuật, cách thức phẫu 
thuật tối ưu. Trên cơ sở đó chúng tôi nghiên cứu 
đề tài “Nhận xét kết quả phẫu thuật u buồng trứng 
ở phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương năm 2018” nhằm hai mục tiêu: (1) Xác định 
tỷ lệ phẫu thuật u buồng trứng khi mang thai. (2) 
Phân tích kết quả phẫu thuật u buồng trứng khi 
mang thai và phẫu thuật u buồng trứng khi phẫu 
thuật lấy thai.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các trường hợp đã được phẫu thuật khối 
u buồng trứng khi mang thai và khi phẫu thuật lấy 
thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương (BVPSTƯ) từ 
ngày 01/01/ 2018 đến ngày 31/12/2018.
Loại trừ các trường hợp hồ sơ bệnh án không 
đầy đủ thông tin cần cho nghiên cứu. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Là nghiên cứu mô tả hồi cứu dựa trên hồ sơ 
bệnh án lưu trữ tại BVPSTƯ.
Mẫu nghiên cứu là mẫu không xác suất, 
chúng tôi thu thập tất cả các bệnh án của các 
sản phụ được phẫu thuật u nang buồng trứng 
trong quá trình mang thai và khi phẫu thật lấy 
thai tại BVPSTƯ từ ngày 01/01/ 2018 đến ngày 
31/12/2018.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Tỷ lệ phẫu thuật u buồng trứng 
trong quá trình mang thai và phẫu thuật 
u buồng trứng khi mổ lấy thai
Có tổng số 150 ca được thực hiện phẫu thuật 
u buồng trứng khi mang thai và khi phẫu thuật lấy 
thai trong tổng số 22.176 ca đẻ tại BVPSTƯ năm 
2018, chiếm tỷ lệ 0,67%. Trong các trường hợp 
thai nghén có kèm u buồng trứng thì tỷ lệ phẫu 
thuật trong quá trình mang thai chiếm 41,3%; tỷ 
lệ phẫu thuật u buồng trứng khi mổ lấy thai chiếm 
tỷ lệ 58,7%. 
3.2. Thái độ xử trí u buồng trứng khi 
mang thai
Nếu chỉ xét các trường hợp phẫu thuật u buồng 
trứng khi đang có thai thì có 54/62 ca được chỉ 
định phẫu thuật chủ động, chiếm tỷ lệ 87,1%; có 
8/62 ca được chỉ định phẫu thuật cấp cứu, chiếm 
tỷ lệ 13,9%.
was 87.1%; emergency surgery was 12.9%. The rate of endoscopic surgery during pregnancy was 93.5%. 
No complications occurred during surgery.
Keywords: Ovarian tumors; pregnant women.
Nội dung Số lượng Tỷ lệ %
Phẫu thuật u buồng trứng khi mang thai 62 41,3
Phẫu thuật u buồng trứng khi mổ lấy thai 88 58,7
Tổng số 150 100
Bảng 1. Tỷ lệ phẫu thuật u buồng trứng và thai nghén
Nội dung Số lượng Tỷ lệ %
Phẫu thuật cấp cứu 8 5,3
Phẫu thuật có kế hoạch 54 36,0
Không phẫu thuật 88 58,7
Tổng số 150 100
Bảng 2. Thái độ xử trí u buồng trứng khi mang thai
LÊ HOÀI CHƯƠNG, MAI TRỌNG DŨNG, NGUYỄN ĐỨC THẮNG, PHẠM HOÀI SƠN, ĐOÀN THỊ THU TRANG
100
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
3.3. Phân loại u buồng trứng theo mô 
bệnh học
Về phân loại theo mô bệnh học thì nang 
bì chiếm tỷ lệ cao nhất 59,3%; có 2 trường hợp 
nang ác tính chiếm tỷ lệ 1,4%; nang nhầy chiếm 
tỷ lệ 11,3%; nang dạng lạc nội mạc tử cung chiếm 
5,3%; các hình thái khác chiếm 22,7%.
3.4. Tỷ lệ bệnh nhân có hỗ trợ sinh sản 
trong tổng số bệnh nhân phẫu thuật u 
buồng trứng khi đang có thai
Trong 150 trường hợp phẫu thuật u buồng trứng 
trên phụ nữ có thai thì chỉ có 22 trường hợp chiếm 
14,7% có sử dụng phương pháp hỗ trợ sinh sản trước 
đó; còn lại 85,3% các trường hợp có thai tự nhiên.
3.5. Phương pháp can thiệp phẫu 
thuật u buồng trứng khi đang mang thai
Đa số các trường hợp u buồng trứng khi đang 
có thai được can thiệp bằng phương pháp phẫu 
thuật nội soi chiếm 93,5%, chỉ có 4 trường hợp 
chiếm 6,5% là phải phẫu thuật mở bụng.
4. Bàn luận
4.1. Về tỷ lệ phẫu thuật buồng trứng ở 
phụ nữ mang thai
Tỷ lệ phẫu thuật khối u buồng trứng ở phụ nữ 
mang thai trong nghiên cứu của chúng tôi là 0,67% 
tổng số ca đẻ. So sánh kết quả này với một số tác 
giả khác thì kết quả của chúng tôi cao hơn. Nghiên 
Nội dung Số lượng Tỷ lệ %
U nang bì 89 59,3
U nang nhầy 17 11,3
U nang dạng lạc nội mạc tử cung 8 5,3
U nang khác 34 22,7
U ác tính 2 1,4
Tổng số 150 100
Bảng 3. Phân loại u buồng trứng theo mô bệnh học
Nội dung Số lượng Tỷ lệ %
Phẫu thuật nội soi 58 93,5
Phẫu thuật mở bụng 4 6,5
Tổng số 62 100
Bảng 5. Tỷ lệ các phương pháp phẫu thuật u buồng trứng trên phụ nữ có thai
Có hỗ trợ sinh sản Không hỗ trợ sinh sản Tổng
Số lượng 22 128 150
Tỷ lệ % 14,7 85,3 100
Bảng 4. Tỷ lệ bệnh nhân có hỗ trợ sinh sản
cứu của Phạm Đình Dũng năm 2002 cho tỷ lệ 0,26% 
[1]; nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền năm 2006 là 
0,31% [2]. Chúng tôi cho rằng sự khác biệt này là 
do hiện nay, do trình độ khoa học kỹ thuật ngày 
càng phát triển, đặc biệt là sự phát triển của siêu âm 
nên tỷ lệ phát hiện u buồng trứng khi mang thai tăng 
lên và vì vậy tỷ lệ can thiệp cũng tăng lên. Ngoài ra 
do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, 
người bệnh có xu hướng lựa chọn những nơi được 
khám chữa bệnh tốt nhất để giảm các rủi ro khi can 
thiệp phẫu thuật mà Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
lại là tuyến cao nhất nên tỷ lệ phụ nữ có u buồng 
trứng đến khám chữa bệnh ở đây cao hơn. 
Trong số các trường hợp can thiệp phẫu thuật u 
buồng trứng khi có thai thì tỷ lệ can thiệp phẫu thuật 
khi đang mang thai là 41,3%; còn lại 58,7% trường 
hợp được can thiệp phẫu thuật kết hợp trong lúc mổ 
lấy thai. So sánh kết quả này với các nghiên cứu khác 
chúng tôi thấy kết quả của chúng tôi gần như tương 
tự với nghiên cứu của Wang với tỷ lệ phẫu thuật khi 
đang mang thai là 50%, can thiệp khi mổ đẻ là 50% 
[3]; nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền là 55% và 43,2% 
[2]. Tuy nhiên so với nghiên cứu của Phạm Đình 
Dũng thì kết quả của chúng tôi lại rất khác biệt. Trong 
nghiên cứu này, Phạm Đình Dũng cho biết thời điểm 
phẫu thuật khối u buồng trứng chủ yếu ở thời điểm 
chuyển dạ với tỷ lệ là 74,7% [1]. Chúng tôi cho rằng 
tỷ lệ phẫu thuật khối u buồng trứng khi đang mang 
thai gia tăng là do khả năng phẫu thuật ngày càng 
tốt lên đặc biệt là phẫu thuật nội soi đồng thời khả 
năng giữ thai trong và sau phẫu thuật ngày càng tiến 
bộ và vì vậy người bệnh có xu hướng phẫu thuật sớm 
phòng các biến chứng như u buồng trứng xoắn, ung 
thư. Ngoài ra ngày nay việc khám thai thường xuyên 
cũng có xu hướng gia tăng, khả năng phát hiện u 
buồng trứng của siêu âm cũng ngày càng hoàn thiện 
nên tỷ lệ phát hiện u buồng trứng khi mang thai cũng 
tăng lên dẫn tới tỷ lệ can thiệp khối u buồng trứng khi 
mang thai cũng tăng lên.
4.2. Thái độ xử trí u buồng trứng trên 
bệnh nhân có thai
Khi đã phát hiện khối u buồng trứng tồn tại 
cùng sự phát triển của thai thì quyết định can thiệp 
ở thời điểm nào, chủ động hay không là vô cùng 
quan trọng, điều này tùy thuộc vào từng giai đoạn 
của tuổi thai và những biến chứng do khối u buồng 
trứng gây ra.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
101
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 98 - 102, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Theo kết quả ở bảng 2 thì trong nghiên cứu của 
chúng tôi có đến 54 trong tổng số 62 trường hợp 
(chiếm 87,1%) u buồng trứng ở bệnh nhân có thai 
được can thiệp chủ động. Kết quả này phù hợp với 
nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền mổ chủ động ở 3 
tháng giữa của thai kỳ là 88,7% và mổ cấp cứu là 
11,3% [2].
Như vậy việc khám thai trong 3 tháng đầu và 
3 tháng giữa rất quan trọng, ngoài vấn đề kiểm 
tra tình trạng thai còn giúp phát hiện sớm các khối 
u bất thường vùng tiểu khung như u buồng trứng. 
Theo kết quả trên một lần nữa khẳng định quan 
điểm của các nhà sản khoa là khi phát hiện khối u 
buồng trứng trên bệnh nhân có thai nên chủ động 
can thiệp ở thời điểm thích hợp để tránh các biến 
chứng như u tiền đạo trong chuyển dạ, xoắn u, 
chảy máu trong nang, ...
4.3. Phân bố tỷ lệ mổ khối u buồng 
trứng ở phụ nữ có thai theo mô bệnh học
Theo kết quả bảng 3 cho thấy tỷ lệ gặp u nang 
bì cao nhất chiếm 59,3%, nang nhầy 11,3%, nang 
lạc nội mạc tử cung 5,3%, các loại u khác chiếm 
22,7% nang ác tính chỉ chiếm 1,4%. Kết quả cũng 
rất phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác, 
đặc biệt tỷ lệ u bì của các tác giả như John 49% 
[3], Phạm Đình Dũng là 51,8% [1], Hoàng Thị Hiền 
là 6,8% [2].
Như vậy theo chúng tôi, so với các loại u khác 
của buồng trứng thì liệu có phải do u bì ít ảnh 
hưởng đến khả năng có thai của người bệnh nên 
trong tất cả các nghiên cứu tỷ lệ u bì thường chiếm 
gần nửa các trường hợp. Có thể do các tổ chức 
lành còn lại ở buồng trứng vẫn thực hiện chức năng 
nội tiết và phòng noãn bình thường cần thiết cho 
mang thai. Hoặc cũng có giả thiết đặt ra liệu có 
phải quá trình thai nghén làm thúc đẩy sự phát 
triển của các khối u bì hay không.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường hợp 
u ác tính (chiếm 1,4%) được phẫu thuật bóc u khi 
mổ lấy thai. Cả 2 trường hợp đều có kết quả là ung 
thư biểu mô thanh dịch nhầy buồng trứng và sau 
đó đã được phẫu thuật cắt buồng trứng, sinh thiết 
buồng trứng bên còn lại. 
So sánh với kết quả nghiên cứu của các tác 
giả khác nhìn chung tỷ lệ UBT ác tính ở phụ nữ 
có thai là khá thấp. Theo Wang tỷ lệ ác tính 
là 3,3% [4]. Như vậy bất cứ khi nào một khối 
UBT được phát hiện trong thời kỳ mang thai cần 
cảnh giác bệnh lý ác tính. Chẩn đoán sớm và 
có hướng điều trị thích hợp đối với những khối u 
ác tính sẽ làm cho tiên lượng đối với bệnh nhân 
được tốt hơn.
4.4. Tỷ lệ bệnh nhân phẫu thuật u 
buồng trứng khi mang thai có sử dụng 
hỗ trợ sinh sản
Theo kết quả ở bảng 4, số trường hợp có sử 
dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản trước đó trong 
nghiên cứu chỉ chiếm 14,7% còn lại chủ yếu là 
các trường hợp có thai tự nhiên chiếm 85,3%. 
Theo chúng tôi, các trường hợp sử dụng thuốc kích 
thích nang noãn trong hỗ trợ sinh sản thì các nang 
tạo thành đều là các nang cơ năng. Hơn nữa nếu 
trong các trường hợp đa thai, u nang hoàng thể 
thường tồn tại và kéo dài quá mức, tiếp tục chế tiết 
estrogen và progesteron và tự thoái triển khi sang 
quý 2 thai kỳ.
Vì vậy thời điểm quyết định phẫu thuật rất quan 
trọng khi đứng trước một trường hợp u buồng trứng 
trên bệnh nhân có thai. Đa số các phẫu thuật viên 
đều thống nhất khuyến cáo nên phẫu thuật khối u 
buồng trứng trong quý 2 của thai kỳ để loại trừ các 
trường hợp nang cơ năng.
4.5. Phương pháp phẫu thuật
Đối tượng nghiên cứu về phương pháp phẫu 
thuật và xử trí khối u khi đang mang thai của chúng 
tôi là 62 ca, trong đó chiếm 93,5% các trường hợp 
được can thiệp qua nội soi, chỉ có 4 ca chiếm 6,5% 
phải can thiệp bằng phương pháp mở bụng. Kết 
quả trên có sự khác biệt có ý nghĩa với nghiên cứu 
cứu của Hoàng Thị Hiền tỷ lệ phải phẫu thuật mở 
bụng chiếm tới 67,7% [2]. Thậm chí theo các tài 
liệu trước đây trong những năm 2001 đến 2003 
thì 100% các trường hợp u buồng trứng trên bệnh 
nhân có thai phải mổ mở. Điều này lý giải do trước 
đây khi phẫu thuật nội soi chưa phổ biến, điều kiện 
gây mê hồi sức chưa đảm bảo, trình độ của phẫu 
thuật viên còn hạn chế nên đa số được chỉ định can 
thiệp bằng phương pháp mở bụng để tăng khả 
năng giữ thai sau phẫu thuật. 
Tuy nhiên ngày nay với tính an toàn của phẫu 
thuật nội soi hơn phẫu thuật mở bụng thời điểm 
quý I là lựa chọn mổ nội soi tốt nhất. 
Phẫu thuật mở bụng phần lớn ở những trường 
hợp do khối u to >10cm, ở tuổi thai lớn 17-28 
LÊ HOÀI CHƯƠNG, MAI TRỌNG DŨNG, NGUYỄN ĐỨC THẮNG, PHẠM HOÀI SƠN, ĐOÀN THỊ THU TRANG
102
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
tuần, đây là những trường hợp không khám thai 
định kỳ chặt chẽ hoặc khám thai muộn cho đến 
khi có biến chứng mới phát hiện ra. Điều này 
cũng phù hợp với nhiều lời khuyên của các tác giả 
khác: theo dõi thai định kỳ để phát hiện những 
khối UBT sớm, từ đó có những chỉ định điều trị 
thích hợp. Đối với phẫu thuật mở bụng nên thực 
hiện ở quý II với kỹ thuật mổ phải thận trọng. Như 
vậy phẫu thuật nội soi là một phương pháp hiệu 
quả và độ an toàn cao trong phẫu thuật khối UBT 
ở phụ nữ có thai, cùng với sự tiến bộ rất hiện đại 
về các phương tiện cũng như trình độ chuyên môn 
của phẫu thuật viên.
5. Kết luận
- Tỷ lệ u buồng trứng trên bệnh nhân có thai: tỷ 
lệ u buồng trứng cùng với có thai chiếm 0,67% tổng 
số ca đẻ; trong đó 41,3% trường hợp phẫu thuật 
khi đang có thai; 58,7% trường hợp phẫu thuật u 
buồng trứng trong lúc mổ lấy thai; chỉ có 14,7% có 
sử dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản trước đó.
- Kết quả điều trị phẫu thuật cho thấy: phẫu 
thuật nội soi chiếm tỷ lệ cao nhất 93,5%; phẫu 
thuật chủ động chiếm ưu thế 87,1%, phân loại 
theo mô bệnh học u bì chiếm 59,3%; có 2 trường 
hợp u ác tính chiếm 1,4%.
Tài liệu tham khảo
1. Phạm Đình Dũng. Nghiên cứu tình hình khối u buồng trứng trong 
quá trình thai nghén tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 1996-2002. 
Luận văn Thạc sỹ Y học. Trường Đại học Y Hà Nội. 2002.
2. Hoàng Thị Hiền. Tình hình phẫu thuật khối u buồng trứng ở phụ nữ 
có thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 2001-2006. Luận văn tốt 
nghiệp Bác sỹ Chuyên khoa II. Trường Đại học Y Hà Nội. 2006.
3. Jonh L. Powell, MD/Michel E., Prefontaine M.D Legal commentary: 
R.Eric Kennedy J.D. Surgery in pregnancy. Operative Obstetrics. 1993; 
Volume 79, pp163-166.
4. Wang PH, Yuan CC, ChaoHT et al. Ovarian surgery during pregnancy 
and puerperium: twelve-year experience at the Veterans General Hospital-
Taipei. Chung-Hua-I-Hsueh-Tsa-Chih-Taipei. Jun 1998; 61(6), 324-31.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ket_qua_phau_thuat_u_buong_trung_phu_nu_mang_thai_t.pdf