Nhận xét kết quả mổ lấy thai ở các sản phụ tiền sản giật nặng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Mục tiêu: Nhận xét kết quả mổ lấy thai ở các sản phụ bị tiền sản giật nặng tại Bệnh viện PSTW. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu, mô tả 244 thai phụ đã được chẩn đoán TSG nặng, mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 01/2011 đến tháng 06/2012. Kết quả: Chỉ định mổ lấy thai chiếm tỷ lệ cao nhất là TSG nặng 85,2%. Mổ lấy thai của nhóm sản phụ chưa có dấu hiệu chuyển dạ chiếm tỷ lệ rất cao 84%. Can thiệp trong cuộc mổ chiếm tỷ lệ nhiều nhất là dùng bổ sung các thuốc tăng co phối hợp chiếm 56,8%, thắt động mạch tử cung chiếm 32,4%. Các biến chứng gây ra cho mẹ là suy gan và rối loạn đông máu 20,5%, suy thận 9,0%, hội chứng HELLP 6,98%, rau bong non 5,7%, chảy máu 4,9%, phù phổi cấp và sản giật là 2 biến chứng chiếm tỷ lệ thấp 2,5% và 3,7%. Đối với con, biến chứng đẻ non chiếm tỷ lệ cao nhất 81,7%, thai chậm phát triển chiếm 52,1%, chết ngay sau đẻ 11,9%. Kết luận: Mổ lấy thai khi chưa chuyển dạ chiếm tỷ lệ rất cao 84%. Biến chứng gây ra cho mẹ cao nhất là suy gan và rối loạn đông máu 20,5%, phù phổi cấp và sản giật là 2 biến chứng chiếm tỷ lệ thấp 2,5% và 3,7%. Đối với con, biến chứng đẻ non chiếm tỷ lệ cao nhất 81,7%
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét kết quả mổ lấy thai ở các sản phụ tiền sản giật nặng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Tập 11, số 02 Tháng 5-2013 Tạp chí Phụ Sản 19 Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 19 - 22, 2013 NHẬN XÉT KẾT QUẢ MỔ LẤY THAI Ở CÁC SẢN PHỤ TIỀN SẢN GIẬT NẶNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG Đặng Thị Minh nguyệt (1) , nguyễn Thị anh(2) (1) Đại học Y Hà Nội. (2) Đại học Y Dược Thái Nguyên tóm tắt mục tiêu: Nhận xét kết quả mổ lấy thai ở các sản phụ bị tiền sản giật nặng tại Bệnh viện PSTW. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu, mô tả 244 thai phụ đã được chẩn đoán TSG nặng, mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 01/2011 đến tháng 06/2012. Kết quả: Chỉ định mổ lấy thai chiếm tỷ lệ cao nhất là TSG nặng 85,2%. Mổ lấy thai của nhóm sản phụ chưa có dấu hiệu chuyển dạ chiếm tỷ lệ rất cao 84%. Can thiệp trong cuộc mổ chiếm tỷ lệ nhiều nhất là dùng bổ sung các thuốc tăng co phối hợp chiếm 56,8%, thắt động mạch tử cung chiếm 32,4%. Các biến chứng gây ra cho mẹ là suy gan và rối loạn đông máu 20,5%, suy thận 9,0%, hội chứng HELLP 6,98%, rau bong non 5,7%, chảy máu 4,9%, phù phổi cấp và sản giật là 2 biến chứng chiếm tỷ lệ thấp 2,5% và 3,7%. Đối với con, biến chứng đẻ non chiếm tỷ lệ cao nhất 81,7%, thai chậm phát triển chiếm 52,1%, chết ngay sau đẻ 11,9%. Kết luận: Mổ lấy thai khi chưa chuyển dạ chiếm tỷ lệ rất cao 84%. Biến chứng gây ra cho mẹ cao nhất là suy gan và rối loạn đông máu 20,5%, phù phổi cấp và sản giật là 2 biến chứng chiếm tỷ lệ thấp 2,5% và 3,7%. Đối với con, biến chứng đẻ non chiếm tỷ lệ cao nhất 81,7%.. từ khóa: mổ lấy thai, tiền sản giật nặng. ABStRACt sTudy resulTs oF cesarean secTion in Pregnancy WiTh severe PreeclamPsia aT naTional hosPiTal oF obsTeTrics and gynecology Backgroud: Preeclampsia causes a lot of complications for mother and fetus. Should have studied the results of cesarean section for additional information helps to improve the quality of treatment. Objective: Study results of Cesarean section in pregnancy with severe preeclampsia at National Hospital of Obstetrics and Gynecology. materials & method: retrospective study on 244 pregnancy who were diagnosed severe preeclampsia had C-section at NHOG from Jan-2011to Jun-2012. Results: The most common indication for C-section was severe preeclampsia (85,2%). The rate of C-section in un-labor pregnancy was very high (84%). The most common intervention to avoid hemorrhage in operation was uterotonic therapy (56,8%), uterine arteries ligation (32,4%). The highest percentage of complications were liver failure and abnormalities of coagulation (20,5%), kidney failure (9%), HELLP syndrome 6,98%, Abruptio placenta 5,7%, bleeding 4,9%. Pulmonary edema and eclampsia were two rare complications (2,5% and 3,7%). In infant, preterm was the highest proportion of 81,7%, fetal growth restriction was 52.1%, dead after birth was11.9%. Conclusion: C-section before labor accounts for a very high proportion of 84%. The most common maternal complications were liver failure and abnormalities coagulation (20,5%), pulmonary edema and eclampsia are two rare complications (2,5% and 3,7%). In infant, preterm birth complications account for the highest proportion of 81,7% Keywords: cesarean section, pre-eclampsia Đặt vấn Đề: Tiền sản giật là một hội chứng bệnh lý phức tạp thường xảy ra ở nửa sau của thai kỳ. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh cho đến nay chưa được chứng minh và hiểu biết đầy đủ. Tiền sản giật gây ra rất nhiều biến chứng cho mẹ và thai nhi. Những biến chứng gây ra cho mẹ như: Sản giật, hôn mê, chảy máu, rau bong non, phù phổi cấp, suy gan, suy thận và những biến chứng gây ra cho con như: thai kém phát triển trong tử cung, thai lưu, đẻ non [1]... Khi có các triệu chứng tiền giật nặng có chỉ định mổ lấy thai có kết quả như thế nào đối với mẹ và con cần có nghiên cứu để có thêm thông tin trên thực hành giúp cho việc nâng cao chất lương điều trị. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu: Nhận xét nhận xét: Can thiệp trong cuộc mổ chiếm tỷ lệ nhiều nhất là dùng bổ sung các thuốc tăng co phối hợp chiếm 56,8%, thắt động mạch tử cung chiếm 32,4%, thắt động mạch hạ vị chiếm 8,1%. biến chứng của mẹ Bảng 4. Biến chứng của mẹ nhận xét: Chiếm tỷ lệ cao nhất trong các biến chứng gây ra cho mẹ là suy gan và rối loạn đông máu 20,5%, suy thận chiếm 9,0%. Phù phổi cấp và sản giật là 2 biến chứng chiếm tỷ lệ thấp 2,5% và 3,7% biến chứng của Tsg nặng gây ra cho con Bảng 5. Biến chứng của TSg nặng gây ra cho con nhận xét: Biến chứng đẻ non chiếm tỷ lệ cao nhất 81,7%, thai chậm phát triển chiếm 52,1%, chết ngay sau đẻ 11,9%. Bàn luận chỉ Định mổ lấy Thai Có nhiều lý do để chỉ định mổ lấy thai và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Tình trạng bệnh của mẹ, các biến chứng với mẹ và thai, yếu tố sản khoa, khả năng sống sót của thai và các yếu tố xã hội. Chỉ định mổ lấy thai có thể đơn thuần, có thể phối hợp nhiều nguyên nhân như suy thai, điều trị không kết quả, thai chậm phát triển Trong đó chỉ định mổ lấy thai do TSG nặng chiến tỷ lệ cao nhất 85,2%. Kết quả này phù hợp với kết quả của tác giả Phan Thị Thu Huyền (63%) và Nguyễn Hữu Hải (49,6%) [1, 2]. Chỉ định mổ lấy thai do biến chứng của mẹ, biến Đặng Thị Minh nguyệT, nguyễn Thị anh Tập 11, số 02 Tháng 5-2013 Tạp chí Phụ Sản 20 SẢN KHOA VÀ SƠ SINH kết quả mổ lấy thai ở các sản phụ bị tiền sản giật nặng tại Bệnh viện PSTW. phương pháp nghiên Cứu Nghiên cứu hồi cứu mô tả, dựa trên hồ sơ bệnh án của các thai phụ đã được chẩn đoán TSG nặng, mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 01/2011 đến tháng 06/2012. Loại trừ các thai phụ có bệnh kèm theo như: bệnh tim, bệnh gan, bệnh Basedow, xuất huyết giảm tiểu cầu. Kết quả chỉ Định mổ lấy Thai Trong Tsg nặng Bảng 1. Chỉ định mổ lấy thai trong TSg nặng nhận xét: Chỉ định mổ lấy thai chiếm tỷ lệ cao nhất là TSG nặng 85,2%. Các nguyên nhân: Điều trị không kết quả, suy thai, thai chậm phát triển, TSG có biến chứng chiếm tỷ lệ thấp < 15%. Tỷ lệ chuyển dạ Trên Thai Phụ Tsg nặng Được mổ lấy Thai. Bảng 2. Tỷ lệ chuyển dạ trên thai phụ TSg nặng được mổ lấy thai. nhận xét: Mổ lấy thai của nhóm sản phụ chưa có dấu hiệu chuyển dạ chiếm tỷ lệ rất cao 84%, nhóm sản phụ đã có dấu hiệu chuyển dạ chiếm 16%. các can ThiệP Trong cuộc mổ Bảng 3. Các can thiệp trong cuộc mổ Chỉ định Số lượng Tỷ lệ (%) TSg nặng 208 85,2 Điều trị không kết quả 27 11,1 Suy thai 34 13,9 Thai chậm phát triển 13 5,3 TSg có biến chứng 33 13,5 Dấu hiệu Số lượng Tỷ lệ (%) Chuyển dạ 39 16,0 Chưa chuyển dạ 205 84,0 Tổng 244 100,0 Biến chứng Số lượng Tỷ lệ (%) Đẻ non 157 81,7 Thai chậm phát triển 100 52,1 Chết ngay sau đẻ 23 11,9 Các can thiệp n % phối hợp các thuốc tăng co 21 56,8 Thắt ĐMTC 21 32,4 Thắt động mạch hạ vị 3 8,1 Khâu mũi B-Lynch 0 0,0 Cắt tử cung 1 2,7 Tổng số ca cần can thiệp 37 100,0 Biến chứng n Tỷ lệ (%) Suy thận 22 9,0 phù phổi cấp 6 2,5 Sản giật 9 3,7 rau bong non 14 5,7 Chảy máu 12 4,9 Suy gan 50 20,5 hội chứng hELLp 17 6,98 thuốc tăng co, kết hợp thắt động mạch tử cung, động mạch hạ vị nhưng không kết quả mới có chỉ định cắt tử cung. Nghiên cứu của chúng tôi có 32,4% trường hợp được thắt ĐMTC, 8,1% trường hợp thắt động mạch hạ vị và có 1 bệnh nhân phải cắt tử cung. các biến chứng cho mẹ. TSG là một bệnh lý của thời kỳ thai nghén có thể gây ra rất nhiều biến chứng nặng nề. Trong nhóm nghiên cứu có 244 sản phụ TSG nặng có 92 sản phụ có biến chứng chiếm 37,7%. Trong các biến chứng gây ra cho mẹ, biến chứng chiếm tỷ lệ cao nhất là suy gan chiếm 20,5%. Suy thận chiếm 9,0%. Phù phổi cấp chiếm 2,5%. RBN chiếm 5,7%. Sản giật chiếm 3,7%. Chảy máu chiếm 4,9%. Hội chứng HELLP chiếm 6,98% và không có thai phụ nào tử vong. So sánh biến chứng đối với mẹ với một số tác giả khác: Bảng so sánh tỷ lệ biến chứng so với các tác giả Qua bảng so sánh cho thấy: Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ các biến chứng đều chiếm tỷ lệ cao hơn các tác giả, còn biến chứng sản giật chiếm tỷ lệ thấp hơn và không có thai phụ nào tử vong. Sở dĩ tỷ lệ các biến chứng của chúng tôi cao hơn vì các đối tượng trong nhóm nghiên cứu đều là các thai phụ bị tiền sản giật nặng, tình trạng bệnh lý nặng nề hơn nên tỷ lệ các biến chứng cao hơn. Tuy nhiên với công tác quản lý thai nghén chặt chẽ, các thuốc điều trị có tác dụng tốt cùng với thầy thuốc có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm đã hạn chế được biến chứng sản giật và tử vong. chứng của thai và các nguyên nhân khác chiếm tỷ lệ thấp. Tỷ lệ chuyển dạ Nghiên cứu cho thấy chỉ định mổ lấy thai trên bệnh nhân TSG nặng chưa có dấu hiệu chuyển dạ chiếm tỷ lệ tương đối cao 84%. Khi tình trạng mẹ nguy cấp hoặc tình trạng mẹ nặng mà tiên lượng thai có thể sống được, nếu tiếp tục điều trị nguy hiểm đến tính mạng của mẹ và thai, việc đình chỉ thai nghén mà không cần đủ tháng hay chuyển dạ là sự lựa chọn cho người thầy thuốc nhằm đảm bảo an toàn cho và mẹ và thai nhi. So sánh với một số tác giả thì tỷ lệ chỉ định mổ lấy thai khi chưa chuyển dạ của chúng tôi cao hơn vì nghiên cứu của chúng tôi chỉ chọn đối tượng là TSG nặng. Bảng so sánh tỷ lệ TSG nặng phải ĐCTN khi chưa có chuyển dạ Để đi đến quyết định đình chỉ thai nghén là một vấn đề còn nhiều tranh cãi vì phụ thuộc vào quan điểm của từng tác giả. Tuy nhiên hầu hết các tác giả trong nước cũng như các tác giả nước ngoài (Phan Trường Duyệt, Sibai B M. UZan.S) đều cho rằng việc đình chỉ thai nghén có giá trị làm giảm thiểu nguy cơ cho mẹ đồng thời giải phóng cho thai nhi khỏi môi trường thiếu dinh dưỡng trong tử cung [4, 5] các can ThiệP Trong cuộc mổ. Nghiên cứu cho thấy sản phụ chủ yếu được dùng thuốc tăng co tử cung. Trong nhóm nghiên cứu có 56,8% bệnh nhân được sử dụng phương pháp này. Với xu hướng đình chỉ thai nghén sớm ở bệnh nhân TSG cùng với sự tiến bộ trong gây mê hồi sức, trình độ chuyên môn của bác sỹ được nâng cao và có nhiều loại thuốc tăng co mới có tác dụng nhanh, mạnh, kéo dài như Duratoxin, Prostodin giúp cho việc điều trị đờ tử cung mang lại hiệu quả cao. Đã góp phần làm cho tỷ lệ cắt tử cung giảm xuống rõ rệt. Trong quá trình phẫu thuật khi đã sử dụng Tập 11, số 02 Tháng 5-2013 Tạp chí Phụ Sản 21 Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 19 - 22, 2013 Tác giả năm Tỷ lệ ĐCTn nguyễn Công nghĩa [3] 1998 – 2000 52,6% nguyễn hữu hải [2] 2001 – 2003 52,6% phan Thị Thu huyền [1] 1997 38,6% 2007 36,3% ngô Văn Tài (2001) (6) ng. hữu hải (2004) (2) phan T. Thu huyền (2007)(1) Suy gan 1,9% 1,05% 6,4% Suy thận 4,4% 3,40% 2,5% phổi phù cấp 0,0% 1,05% 0,0% rBn 4,0% 1,83% 1,7% Sản giật 12,5% 4,71% 6,4% Chảy máu 3,1% - 1,7% hội chứng hELLp 0,0% 0,0% 4,2% Tử vong 0,0% 0,0% 0,0% Biến chứng Tác giả Đặng Thị Minh nguyệT, nguyễn Thị anh Tập 11, số 02 Tháng 5-2013 Tạp chí Phụ Sản 22 SẢN KHOA VÀ SƠ SINH Có nhiều tác tác giả nghiên cứu về tiền sản giật và đưa ra các biến chứng nặng nề gây ra đối với thai phụ như chảy máu, sản giật, suy các cơ quan, tử vong Vì vậy, để giảm các nguy cơ biến chứng này cần làm tốt công tác khám và quản lý thai nghén, điều trị kịp thời ngay từ tiền sản giật nhẹ sẽ hạn chế được các biến chứng nặng nề do tiền sản giật gây ra. biến chứng cho con. Nghiên cứu cho thấy nhẹ cân là biến chứng gây ra cho con chiếm tỷ lệ cao nhất 87,7 %, biến chứng đẻ non chiếm 64,3%, biến chứng chết sau đẻ 9,4%, và không có trẻ nào chết lưu. Kết quả cho thấy biến chứng nhẹ cân và đẻ non của chúng tôi cao, phải chăng tỷ lệ này có xu hướng tăng theo thời gian và liên quan đến mức độ trầm trọng của bệnh, cũng như những tiến bộ trong công tác chăn sóc và điều trị trẻ sơ sinh non tháng, thấp cân, các thuốc trưởng thành phổi nên có xu hướng can thiệp sớm về sản khoa trên bệnh nhân TSG làm tăng tỷ lệ trẻ nhẹ cân và non tháng, giảm tỷ lệ chết lưu. Kết luận - Các thai phụ bị TSG nặng được chỉ định MLT chủ động chiếm tỷ lệ cao 84%. - Các biến chứng TSG nặng khi mổ lấy thai: biến chứng suy gan là 20,5%, suy thận chiếm 9,0%, hội chứng HELLP chiếm 6,98%, rau bong non chiếm 5,7%, sản giật chiếm 3,7%, phù phổi cấp chiếm 2,5%. - Tỷ lệ thai đẻ non chiếm tỷ lệ 81,7%, thai chậm phát triển chiếm 52,1%, chết sau đẻ chiếm 11,9%. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phan Thị Thu Huyền. Nghiên cứu những chỉ định đình chỉ thai nghén ở những thai phụ tiền sản giật tại BVPSTƯ trong 2 năm 1997 và 2007: Luận văn thạc sỹ y học chuyên ngành sản phụ khoa. Trường Đại học Y Hà Nội; 2008. 2. Nguyễn Hữu Hải. Nhận xét về những chỉ thai nghén trong tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong ba năm 2001 – 2003: Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa khóa 1998 – 2004. Trường ĐHY Hà Nội; 2004. 3. Nguyễn Công Nghĩa. Tình hình đình chỉ thai nghén trên các sản phụ NĐTN tuổi thai trên 20 tuần tại viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh trong 3 năm 1989 – 2000: Luận văn thạc sỹ y học. Trường Đại học y Hà Nội; 2001. 4. Phan Trường Duyệt. Nhiễm độc thai nghén muộn: Lâm sàng sản phụ khoa. Nhà xuất bản Y học; 1998. 5. Sibai BM, Mohamed. Pre - eclampsia and eclampsia. Gynecology and Obs. Sciarra. 1995;1995(3):1 – 14. 6. Ngô Văn Tài. Nghiên cứu một số yếu tố tiên lượng trong nhiễm độc thai nghén: Luận án tiến sỹ y học. Trường ĐHY Hà Nội; 2001.
File đính kèm:
nhan_xet_ket_qua_mo_lay_thai_o_cac_san_phu_tien_san_giat_nan.pdf

