Nhận xét kết quả điều trị các thể lâm sàng bệnh Wilson ở trẻ em

Wilson là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường gây rối loạn chuyển hóa đồng với

biểu hiện lâm sàng đa dạng tổn thương ở gan, não, mắt, thận Theo Ferenci (2003), bệnh

Wilson được phân thành 6 thể lâm sàng khác nhau theo đặc điểm tổn thương gan và thần kinh.

Mục tiêu nghiên cứu: Nhận xét đáp ứng điều trị của các thể thường gặp trong bệnh Wilson

ở trẻ em.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 64 bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện

Nhi Trung ương từ năm 2016 đến 2019

pdf 6 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét kết quả điều trị các thể lâm sàng bệnh Wilson ở trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét kết quả điều trị các thể lâm sàng bệnh Wilson ở trẻ em

Nhận xét kết quả điều trị các thể lâm sàng bệnh Wilson ở trẻ em
NGHIÊN CỨU
NHẬN XÉT KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CÁC THỂ 
LÂM SÀNG BỆNH WILSON Ở TRẺ EM
1 Bệnh viện Nhi Trung ương
Chịu trách nhiệm chính: Hoàng Thị Vân Anh. Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 16/12/2019; Ngày phản biện khoa học: 21/12/2019; Ngày duyệt bài: 16/2/2020
Hoàng Thị Vân Anh1, Nguyễn Phạm Anh Hoa1
TÓM TẮT
Wilson là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường gây rối loạn chuyển hóa đồng với 
biểu hiện lâm sàng đa dạng tổn thương ở gan, não, mắt, thận Theo Ferenci (2003), bệnh 
Wilson được phân thành 6 thể lâm sàng khác nhau theo đặc điểm tổn thương gan và thần kinh.
Mục tiêu nghiên cứu: Nhận xét đáp ứng điều trị của các thể thường gặp trong bệnh Wilson 
ở trẻ em.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 64 bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện 
Nhi Trung ương từ năm 2016 đến 2019.
Kết quả: 64 bệnh nhân trong nghiên cứu gồm 27 nam (42,2%) và 37 nữ (57,8%). Tuổi chẩn 
đoán trung bình là 10±3,2 (1-16 tuổi). Kết quả điều trị cho thấy tử vong (1,6%), ghép gan 
(3,1%), không đáp ứng với điều trị (3,1%), 92,2% đáp ứng với điều trị, khác biệt giữa các thể 
bệnh có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Kết luận: BệnhWilson ở trẻ em biểu hiện đa dạng trên nhiều thể lâm sàng. Hầu hết các 
bệnh nhân Wilson đều đáp ứng tốt với điều trị tuy nhiên có sự khác biệt về đáp ứng điều trị 
giữa các thể lâm sàng (p<0,05).
Từ khóa: bệnh Wilson, thể lâm sàng, trẻ em
Abstract
THE TREATMENT RESULTS OF SOME TYPES OF 
WILSON’S DISEASE IN CHILDREN
WD is a chromosomal recessive disease that often causes metabolic disorders with diverse 
clinical manifestations such as liver, brain, eye, kidney damage ... According to Ferenci (2003), 
WD has 6 forms base on liver and nerve damage characteristics.
Research objectives: Describe and compare some clinical and subclinical features and 
therapeutic responses of common forms of WD in children. Method: A cross-sectional study 
carried out among 64 patients who have treatment at the Vietnam Children National Hospital.
Results: 64 patients in the study included 27 boys (42.2%) and 37 girls (57.8%). The average 
age of diagnosis is 10 ± 3.2 (1-16 years). Treatment results: death (1.6%), liver transplantation 
(3.1%), no response to treatment (3.1%), 92.2% response to treatment, differences between the 
types of WD were statistically significant (p <0.05).
12 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
NHẬN XÉT KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CÁC THỂ LÂM SÀNG BỆNH WILSON Ở TRẺ EM
Conclusion: WD in children manifests has 6 types. Most WD patients respond well to 
treatment, however, there are differences in response to treatment between some types of WD 
(p<0,05)
Keyword: Wilson’s disease (WD), children, types of WD
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh Wilson là bệnh rối loạn chuyển hóa 
đồng, gây ra bởi đột biến gen ATP7B ở vị trí 
13ql4.3[1]có chức phận tham gia vào quá trình 
điều hòa hấp thu, phân bố và thải trừ đồng 
trong cơ thể. Các đột biến của gen ATP7B sẽ 
gây rối loạn quá trình đào thải đồng ra khỏi 
cơ thể. Lượng đồng tự do tồn dư sẽ ứ đọng 
và tích lũy trong các cơ quan trong cơ thể 
gây những biểu hiện đa dạng trên lâm sàng 
như tổn thương não, gan, mắt , thận, khớp, 
xương...bệnh được chia ra thành các thể tổn 
thương chính dựa trên đặc điểm tổn thương 
gan và tổn thương thần kinh nhưng dù ở thể 
nào thì bệnh Wilson cũng biểu hiện các triệu 
chứng rất đa dạng và phức tạp. Theo Ferenci 
(2003)[2] bệnh Wilson được phân loại thành 
6 thể lâm sàng. Tuy nhiên, các nghiên cứu 
trên thế giới và Việt Nam về so sánh kết quả 
điều trị giữa các thể bệnh còn hạn chế. Vì vậy 
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục 
tiêu: Nhận xét kết quả điều trị các thể lâm 
sàng bệnh Wilson ở trẻ em.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh 
nhân được chẩn đoán xác định Wilson theo 
tiêu chuẩn Leipzig 2001 điều trị theo “phác 
đồ điều trị bệnh Wilson” tại khoa Gan Mật- 
Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/2016 
đến tháng 1/2019
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn: Các bệnh nhân 
đủ tiêu chuẩn chẩn đoán
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
+Không thu thập đủ các chỉ tiêu theo hồ 
sơ nghiên cứu
+ Bệnh nhân Wilson nhưng kèm theo các 
dị tật bẩm sinh phức tạp khác như: tim bẩm 
sinh, hội chứng Down
2.2. Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp 
nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3. Chọn mẫu và cỡ mẫu: Chọn mẫu và 
cỡ mẫu thuận tiện
2.4. Biến số nghiên cứu và công cụ thu 
thập thông tin:
Biến số: Ghi nhận các biến số nghiên cứu 
theo hồ sơ nghiên cứu
+ Phân các thể lâm sàng theo Ferenci 
(2003) [2].
- Thể H (tổn thương gan): H1(thể suy gan 
cấp); H2 (thể tổn thương gan mạn tính )
- Thể N (tổn thương thần kinh): N1 (có 
thêm tổn thương gan); N2 (không có tổn 
thương gan); Nx (Không biểu hiện triệu 
chứng gan)
- Thể O: Không triệu chứng (sàng lọc)
Các thể lâm sàng đều được điều trị theo 
“phác đồ điều trị bệnh Wilson” của khoa 
Gan mật, Bệnh viện Nhi Trung ương: sử 
dụng D-penicillamin 20 mg/kg/ngày và kẽm 
gluconate 75mg/ ngày đối với trẻ từ< 8 tuổi, 
150 mg/ ngày đối với trẻ ≥ 8 tuổi.
Phân loại đáp ứng điều trị theo tiểu chuẩn 
của Kathawala 2017
+ Đáp ứng với điều trị (R): chức năng gan 
(ALT, AST, INR, Albumin) bình thường sau 
điều trị
+ Đáp ứng không hoàn toàn với điều trị 
(NR): chức năng gan xấu hơn so với trước 
điều trị
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 13
NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm của nhóm nghiên cứu:
3.1.1. Tuổi chẩn đoán trung bình: 10±3,2 tuổi (1-16 tuổi)
3.1.2. Tỷ lệ nam, nữ
Biểu đồ 1: Tỷ lệ về giới
Nhận xét: Nhóm nghiên cứu có tỷ lệ nữ/ nam 
là 1: 1,4; tuy nhiên sự khác biệt về giới trong 
nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê với p= 
0,614
3.1.3. Các thể lâm sàng
Biểu đồ 2: Các thể lâm sàng
Nhận xét: Trong các thể lâm sàng của bệnh 
Wilson, thể tổn thương gan mạn (H2) chiếm số 
lượng lớn với tỷ lệ 60,9%, thể tổn thương gan cấp 
(H1) chiếm 18,8%. Các thể lâm sàng còn lại là: 
thể tổn thương thần kinh không kèm các triệu 
chứng gan (Nx), thể tổn thương thần kinh có tổn 
thương gan (N1), thể chưa biểu hiện triệu chứng 
chiếm tỷ lệ lần lượt 9,4%; 6,3%; 4,7%.
3.2. Đáp ứng với điều trị
Bảng 1: Kết quả điều trị theo thể lâm sàng
Kết quả điều trị H1n=13
H2
n=38
N1
n = 3
N
n = 6
O
n=4
Tổng
N=64 p
Đáp ứng với điều trị (R) 9(69,2)
38
(100) 0
5
(83,3)
4
(100)
56
(87,5) 0,039
+ Tử vong: bệnh nhân tử vong được xác 
định do bệnh Wilson (xét nghiệm viêm gan 
virus A, B, C âm tính và không có bệnh khác)
+ Ghép gan: bệnh nhân phải tiến hành 
ghép gan trong quá trình điều trị.
Công cụ thu thập thông tin: Ghi nhận các 
thông tin theo hồ sơ nghiên cứu mẫu
2.5. Xử lý và phân tích số liệu: Số liệu được 
phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Mức ý 
nghĩa thống kê α=0,05.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2016 
đến tháng 1/2019 có 64 bệnh nhân đủ tiêu 
chuẩn nghiên cứu, được chia thành các thể 
tổn thương.
14 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
NHẬN XÉT KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CÁC THỂ LÂM SÀNG BỆNH WILSON Ở TRẺ EM
IV. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên 
cứu
4.1.1. Đặc điểm về tuổi chẩn đoán
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi chẩn 
đoán trung bình là 10±3.2 tuổi, cao nhất là 
16 tuổi, thấp nhất là 8 tháng tuổi, kết quả này 
của chúng tôi tương tự với nhiều nghiên cứu 
khác trên thế giới như báo cáo của Wang và 
CS năm 2010 [4] tại Đài Loan (2,5-17,7 tuổi), 
của El-Karasky và CS năm 2011 [5] tại Cairo 
(3-18 tuổi), của Jiménez và CS năm 2009 [6]
tại Costa Rica (5-15 tuổi) đều có tuổi trung 
bình lúc chẩn đoán là 10 tuổi. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi có một số bệnh nhân < 
1 tuổi được phát hiện bệnh bằng phân tích 
đột biến gen ATP7B do tiền sử gia đình có 
anh chị em ruột mắc bệnh. Việc sàng lọc các 
thành viên trong gia đình những người mắc 
bệnh Wilson đã giúp giảm đáng kể tuổi chẩn 
đoán, nhờ đó hạn chế được các tai biến và 
biến chứng của bệnh.
4.1.2. Đặc điểm về giới
Trong y văn cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở nam 
cao hơn nữ, tuy nhiên trong nghiên cứu của 
chúng tôi tỷ lệ nữ/ nam là 1,37. Một số báo 
cáo trên thế giới cũng có cùng kết quả như 
chúng tôi: theo Marcellini và CS [7] năm 2005 
tại Rome có tỷ lệ nữ/ nam là 1,2; báo cáo của 
Chandok và CS [7] năm 2014 tại Toronto là 
1,16. Tuy nhiên, ngay tại khu vực miền Nam 
Việt Nam, theo báo cáo của Hoàng Lê Phúc 
và CS [9] năm 2017 tỷ lệ nam/ nữ là 1,7 khác 
biệt nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi, 
nguyên nhân của sự khác biệt này chưa loại 
trừ cơ chế bệnh sinh của bệnh Wilson không 
chỉ đơn thuần là bệnh di truyền đơn gen, mà 
có sự tham gia của nhiều gen khác. Vì vậy, cần 
có những nghiên cứu chuyên sâu hơn trong 
tương lai với cỡ mẫu lớn hơn để tìm ra quy 
luật di truyền của bệnh lý này. Mặc dù vậy, tỷ 
lệ giữa nam và nữ trong kết quả của chúng tôi 
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p= 
0,614). Điều này phù hợp với bệnh lý Wilson 
là một bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc 
thể thường nên tỷ lệ mắc bệnh giữa 2 giới là 
như nhau.
4.1.3. Đặc điểm về các thể lâm sàng
Trong nghiên cứu của chúng tôi thể lâm 
sàng thường gặp nhất là tổn thương gan mạn 
(60,9%). Kết quả này tương tự như báo cáo 
của Rukunuzzaman [9], và của Güngör [10]
với tỷ lệ tổn thương gan mạn chiếm tỷ lệ cao 
lần lượt là 69% và 56,2%. Theo Jiménez và CS 
Kết quả điều trị H1n=13
H2
n=38
N1
n = 3
N
n = 6
O
n=4
Tổng
N=64 p
Đáp ứng không 
hoàn toàn (NR) 1 (7,7) 0 3 (100)
1 
(16,7) 0 5 (7,8)
Ghép gan (LT) 2 (15,4) 0 0 0 0 2(3,1)
Tử vong (D) 1 (7,7) 0 0 0 0 1(1,6)
*Ghi chú: O: không triệu chứng, H1: suy gan cấp, H2: TT gan mạn, N1: TT thần kinh + TT gan, 
Nx: TT thần kinh không biểu hiện triệu chứng gan
Nhận xét: 56/64 bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị (87,5%); 7,8% đáp ứng không hoàn toàn với 
điều trị; 3,1% ghép gan,1,6% tử vong. H1 có tỉ lệ đáp ứng với điều trị thấp nhất (69,2%). Sự khác 
biệt về kết quả điều trị giữa các thể bệnh có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 15
NGHIÊN CỨU
[5] báo cáo năm 2009 tại Costa - Rica, tỷ lệ tổn 
thương gan mạn là 69%. Tỷ lệ tổn thương gan 
mạn tính là 60,9% cao nhất trong nghiên cứu 
của chúng tôi, nếu tính cả nhóm tổn thương 
gan cấp và tổn thương gan –thần kinh thì tỷ 
lệ này là 84,4% [9], tuy nhiên kết quả này thấp 
hơn báo cáo của Hoàng Lê Phúc năm 2017 
[9] ở miền Nam Việt Nam là 94,4%.
4.1.4. Đáp ứng điều trị giữa các thể lâm 
sàng
Từ những năm 1987, Scheinberg và 
Sternlied [2] đã cho rằng sau khi điều trị 
bệnh Wilson có 3 kiểu đáp ứng: hồi phục 
về tình trạng khỏe mạnh, diễn tiến xấu rồi 
tử vong dù tuân thủ điều trị và chỉ cải thiện 
một phần hoặc không nặng hơn nữa nhưng 
không về bình thường được, tương ứng với 
3 kiểu đáp ứng trên, nghiên cứu của chúng 
tôi cũng phân loại đáp ứng điều trị thành 3 
kiểu: Đáp ứng tốt với điều trị (Respond-R), tử 
vong trong quá trình điều trị (Died- D), đáp 
ứng không hoàn toàn (Non respond-NR), và 
có thêm một số bệnh nhân được ghép gan 
(liver transplant- LT) do suy gan tối cấp đủ 
điều kiện ghép tạng. Kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi cho thấy có 87,5% bệnh nhân đáp 
ứng tốt với điều trị, 7,8% bệnh nhân đáp ứng 
không hoàn toàn, 3,1% bệnh nhân phải ghép 
gan và có 1,6% bệnh nhân tử vong trong quá 
trình điều trị. So với kết quả nghiên cứu của 
Hoàng Lê Phúc và CS [8] năm 2017 tại miền 
Nam Việt Nam, tỷ lệ đáp ứng với điều trị của 
chúng tôi (87,5%) cao hơn báo cáo của Hoàng 
Lê Phúc (75%), tỷ lệ tử vong của chúng tôi 
(1,6 %) thấp hơn nhiều so với kết quả của 
nghiên cứu này là 25%. Nguyên nhân tử vong 
trong nghiên cứu của Hoàng Lê Phúc chủ yếu 
tập trung trong nhóm bệnh nhân tổn thương 
gan cấp và tối cấp (5 bệnh nhân) không được 
ghép gan cấp cứu do kỹ thuật ghép gan nhi 
khoa chưa được triển khai tại cơ sở khám 
chữa bệnh này. Có 2 bệnh nhân trong nhóm 
nghiên cứu của chúng tôi có tình trạng suy 
gan tối cấp được ghép gan (3,1%) cấp cứu, đây 
là lý do giúp giảm tỷ lệ tử vong trong nghiên 
cứu của chúng tôi xuống thấp.
Xét về tính hiệu quả của điều trị bệnh 
Wilson, đánh giá các tiêu chí đưa ra trong 
các nghiên cứu cũng như các báo cáo nghiên 
cứu loạt ca bệnh rất khó vì diễn biến và tiến 
triển của các triệu chứng tại gan và thần 
kinh thường không được đánh giá trong một 
thời gian theo dõi đủ dài. Một vấn đề khác 
là bản thân các tiêu chí này cũng khó đánh 
giá. Đối với các thể tổn thương biểu hiện tại 
gan, tiêu chí đánh giá là bệnh nhân sống mà 
không cần ghép gan hoặc các thay đổi sinh 
hóa bất thường thì dễ thực hiện nhưng các 
tiêu chí thần kinh thì rất khó đánh giá một 
cách định lượng. Để cải thiện điều này nhiều 
tác giả trên thế giới đã đề nghị thang điểm và 
cũng đã lượng giá nó nhưng hiện nay chưa 
có bất kỳ nghiên cứu nào đủ lớn dùng nó để 
đánh giá cũng như chưa có nơi nào ứng dụng 
trên thực hành lâm sàng. Chính vì vậy, trong 
nhóm nghiên cứu của chúng tôi, các bệnh 
nhân thuộc 2 thể tổn thương thần kinh (N1 
và Nx) chiếm tới 4 trong tổng số 5 bệnh nhân 
đáp ứng không hoàn toàn do sự cải thiện 
chậm chạp của các triệu chứng thần kinh và 
rất khó để lượng giá mức độ cải thiện của các 
triệu chứng này khi thăm khám lâm sàng.
Trong thể tổn thương gan cấp: có 15,6% 
bệnh nhân được ghép gan cấp cứu, đây cũng 
là nguyên nhân giúp giảm tỷ lệ tử vong của 
nhóm nghiên cứu xuống còn 7,7%. Ghép gan 
có vai trò quan trọng trong bệnh Wilson có 
tổn thương gan tối cấp hoặc suy gan mất bù. 
Theo các tác giả khác, tỷ lệ tử vong của nhóm 
bệnh nhân suy gan tối cấp có thể lên tới 100% 
nếu không được ghép gan cấp cứu [12]. Tuy 
nhiên trong nghiên cứu này, chúng tôi có tới 
16 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
NHẬN XÉT KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CÁC THỂ LÂM SÀNG BỆNH WILSON Ở TRẺ EM
9 trong số 13 bệnh nhân tổn thương gan cấp 
hồi phục sau điều trị nội khoa mà không cần 
ghép gan. Kết quả này của chúng tôi cũng 
tương tự báo cáo của Güngör và CS [10] có 4 
trong số 7 bệnh nhân suy gan tối cấp vẫn sống 
nhờ điều trị nội khoa mà không cần ghép gan.
V. KẾT LUẬN
Bệnh Wilson ở trẻ em biểu hiện rất đa 
dạng trên nhiều thể lâm sàng. Hầu hết các 
bệnh nhân Wilson đều đáp ứng với điều trị.
Có sự khác biệt về đáp ứng điều trị giữa các 
thể lâm sàng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 
1. Roberts E.A. và Schilsky M.L. (2008). Diagnosis and treatment of Wilson disease: An 
update. Hepatology, 47(6), 2089–2111.
2. Ferenci P., Caca K., Loudianos G. và cộng sự. (2003). Diagnosis and phenotypic 
classification of Wilson disease. Liver Int, 23(3), 139–142.
3. Wang L.-C., Wang J.-D., Tsai C.-R. và cộng sự. (2010). Clinical Features and Therapeutic 
Response in Taiwanese Children With Wilson’s Disease: 12 Years of Experience in a 
Single Center. Pediatrics & Neonatology, 51(2), 124–129.
4. El-Karaksy H., Fahmy M., El-Raziky M.S. và cộng sự. (2011). A clinical study of 
Wilson’s disease: The experience of a single Egyptian Paediatric Hepatology Unit. 
Arab Journal of Gastroenterology, 12(3), 125–130.
5. Jiménez G., Cambronero V., Morales C. và cộng sự. (2009). Enfermedad de Wilson: 
experiencia pediátrica en Costa Rica. Gastroenterología y Hepatología, 32(4), 274–
278.
6. Marcellini M., Di Ciommo V., Callea F. và cộng sự. (2005). Treatment of Wilson’s 
disease with zinc from the time of diagnosis in pediatric patients: a single-hospital, 10-
year follow-up study. J Lab Clin Med, 145(3), 139–143.
7. Chandok N. và Roberts E.A. (2014). The trientine crisis in Canada: A call to advocacy. 
Can J Gastroenterol Hepatol, 28(4), 184.
8. Hoàng Lê Phúc (2019), Bệnh Wilson ở trẻ em Việt Nam-đặc điểm lâm sàng, sinh hóa, 
điều trị, tầm soát và di truyền học phân tử, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí 
Minh, Hồ Chí Minh. 
9. Rukunuzzaman Md. (2015). Wilson’s Disease in Bangladeshi Children: Analysis of 
100 Cases. Pediatr Gastroenterol Hepatol Nutr, 18(2), 121–127.
10. Güngör Ş., Selimoğlu M.A., Varol F.İ. và cộng sự. (2018). Pediatric Wilson’s disease: 
findings in different presentations. A cross-sectional study. Sao Paulo Medical Journal, 
136(4), 304–309.
11. Czlonkowska A., Litwin T., Dusek P. và cộng sự. (2018). Nature Reviews Disease 
Primers article: Wilson disease. Nat Rev Dis Primers, 4(1), 21.
12. Hedera P. (2017). Update on the clinical management of Wilson’s disease. Appl Clin 
Genet, 10, 9–19.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 17

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ket_qua_dieu_tri_cac_the_lam_sang_benh_wilson_o_tre.pdf