Nhận xét kết quả của kỹ thuật leep điều trị tổn thương cổ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương

Kỹ thuật điều trị LEEP cổ tử cung là phương pháp cắt bỏ các tổn

thương tiền ung thư tại cổ tử cung bằng vòng điện.

Mục tiêu: Nhận xét các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu; hiệu quả

và tính an toàn của kỹ thuật LEEP tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả, theo dõi dọc trên 95 bệnh nhân từ

tháng 6/2018 đến tháng 3/2019.

Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HPV type nguy cơ cao là 76,8%, tỷ lệ xét nghiệm

tế bào âm đạo bất thường là: LSIL: 31,7%, HSIL: 14,7%, ASCUS – H

6,3%, các bất thường biểu mô tuyến 5,3%. Giải phẫu bệnh sau LEEP:

CIN I: 21,1%, CIN II: 14,7%, CIN III: 8,4%, CIS: 4,2%, ung thư biểu mô

vảy xâm lấn: 1,1%. Có 13/95 bệnh nhân sau LEEP được chỉ định mổ cắt

tử cung vì các tổn thương từ CIN III trở lên. Tỷ lệ đốt điện, chèn mèche

trong thủ thuật tương ứng 91,6% và 94,7%. Tỷ lệ chảy máu trong vòng

6 tiếng sau LEEP là 6,3%, trong vòng 1 tháng là 2,4%, không có trường

hợp nào nhiễm trùng. Theo dõi sau 6 tháng chưa phát hiện trường hợp

nào tái phát.

Kết luận: LEEP là phương pháp điều trị hiệu quả, an toàn và thuận tiện,

pdf 5 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét kết quả của kỹ thuật leep điều trị tổn thương cổ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét kết quả của kỹ thuật leep điều trị tổn thương cổ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương

Nhận xét kết quả của kỹ thuật leep điều trị tổn thương cổ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
143
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 143 - 147, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Nguyễn Văn Thắng, Phạm Trí Hiếu 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
NHẬN XÉT KẾT QUẢ CỦA KỸ THUẬT LEEP
ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG CỔ TỬ CUNG
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Văn Thắng,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Từ khóa: Tổn thương cổ tử 
cung; loạn sản cổ tử cung; HPV 
type nguy cơ cao; LEEP.
Keywords: Cervical lesion; 
CIN; high-risk HPV; LEEP.
Tóm tắt
Kỹ thuật điều trị LEEP cổ tử cung là phương pháp cắt bỏ các tổn 
thương tiền ung thư tại cổ tử cung bằng vòng điện. 
Mục tiêu: Nhận xét các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu; hiệu quả 
và tính an toàn của kỹ thuật LEEP tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. 
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả, theo dõi dọc trên 95 bệnh nhân từ 
tháng 6/2018 đến tháng 3/2019. 
Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HPV type nguy cơ cao là 76,8%, tỷ lệ xét nghiệm 
tế bào âm đạo bất thường là: LSIL: 31,7%, HSIL: 14,7%, ASCUS – H 
6,3%, các bất thường biểu mô tuyến 5,3%. Giải phẫu bệnh sau LEEP: 
CIN I: 21,1%, CIN II: 14,7%, CIN III: 8,4%, CIS: 4,2%, ung thư biểu mô 
vảy xâm lấn: 1,1%. Có 13/95 bệnh nhân sau LEEP được chỉ định mổ cắt 
tử cung vì các tổn thương từ CIN III trở lên. Tỷ lệ đốt điện, chèn mèche 
trong thủ thuật tương ứng 91,6% và 94,7%. Tỷ lệ chảy máu trong vòng 
6 tiếng sau LEEP là 6,3%, trong vòng 1 tháng là 2,4%, không có trường 
hợp nào nhiễm trùng. Theo dõi sau 6 tháng chưa phát hiện trường hợp 
nào tái phát. 
Kết luận: LEEP là phương pháp điều trị hiệu quả, an toàn và thuận tiện,
Từ khóa: Tổn thương cổ tử cung; loạn sản cổ tử cung; HPV type nguy 
cơ cao; LEEP.
Abstract 
ASSESSMENT ON LEEP IN THE NATIONAL 
HOSPITAL OF OBSTETRIC AND GYNECOLOGY
LEEP is the word stands for Loop Electrosurgical Excision Procedure. 
Objective: Assessement on the clinical and para clinical characters of 
95 patients having LEEP for cervical lesions and on the effectiveness, 
safety of LEEP at the NHOG from 6/2018 to 3/2019. 
Results: The rate of high-risk HPV is 76,8%; HSIL 14,7%; ASCUS-H 
6,3%. The anapath on LEEP: CIN I 21,1%, CIN II 14,7%, CIN III 8,4%, 
CIS 4,2%, invasive carcinoma 1,1%. Bleeding needed coagulation and 
1. Đặt vấn đề
Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là loại ung thư phổ 
biến thứ hai ở phụ nữ (sau ung thư vú). Theo Trung 
tâm thông tin về HPV, mỗi ngày tại Việt Nam có 
thêm 14 phụ nữ mới phát hiện mắc UTCTC và 7 
trường hợp tử cung do UTCTC. Những tổn thương 
cổ tử cung (CTC) mạn tính và các thương tổn tiền 
UTCTC, nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời 
và theo dõi chặt chẽ sau điều trị sẽ góp phần làm 
giảm tỷ lệ mắc bệnh, mức độ nặng khi ở giai đoạn 
muộn của UTCTC. Nhờ các tiến bộ kỹ thuật trong 
chẩn đoán các tổn thương CTC như: định type virus 
HPV, tế bào âm đạo (TBÂĐ) theo thinprep pap 
test..., việc sàng lọc nhằm phát hiện sớm các tổn 
thương tiền UTCTC bước đầu mang lại kết quả tốt.
Cùng những tiến bộ trong chẩn đoán, những 
phương pháp điều trị tổn thương CTC như: đốt 
điện, áp lạnh, laser CO2, cắt LEEP CTC... cũng được 
sử dụng hiệu quả để điều trị các tổn thương nói 
trên, mang lại kết quả khả quan cho người bệnh. 
Phương pháp LEEP (Loop Electrosurgical Excision 
Procedure) – cắt bỏ mô CTC tổn thương bằng vòng 
nhiệt điện đã được sử dụng từ hàng chục năm nay 
tại nhiều trung tâm phụ khoa trên thế giới và được 
chứng minh là một phương pháp an toàn, hiệu quả 
trong điều trị tổn thương tiền UTCTC. Theo một số 
nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ khỏi bệnh sau điều 
trị các tổn thương tiền UTCTC bằng phương pháp 
LEEP có thể lên tới 94,4% đến 99,9% [1],[2].
Tại khoa Phụ Ung thư Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương, việc điều trị tổn thương tiền UTCTC bằng 
phương pháp LEEP được triển khai trong khoảng 
10 năm trở lại đây, mang lại kết quả khả quan, từ 
việc điều trị các tổn thương lành tính như viêm CTC 
mạn tính, Condyloma cũng như các thương tổn tiền 
ung thư như CIN I, CIN II, CIN III. Kỹ thuật này 
được thực hiện đơn giản, người bệnh được điều 
trị và ra viện trong ngày với chi phí hợp lý, ít tai 
biến, kết quả giải phẫu bệnh của mảnh cắt LEEP có 
ý nghĩa trong định hướng việc điều trị tiếp tục và 
quá trình theo dõi. Cho tới nay chưa có nhiều đề 
tài thực hiện tại Bệnh viện nói riêng cũng như trong 
nước nói chung tổng kết về kết quả điều trị của 
phương pháp này. Nhóm tác giả viết báo cáo này 
nhằm mục đích: nhận xét đặc điểm tổn thương cổ 
tử cung; hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật LEEP 
tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương tháng 6/2018 
đến tháng 3/2019.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn 
• Tất cả những bệnh nhân có tổn thương CTC 
được điều trị bằng phương pháp LEEP tại Khoa Phụ 
Ung thư, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 
6/2018 đến hết tháng 3/2019.
• Bệnh nhân có đầy đủ các xét nghiệm (XN) 
trước khi tiến hành điều trị LEEP bao gồm: XN 
TBÂĐ theo phương pháp thin prep, định type virus 
HPV nguy cơ cao, soi CTC, kết quả GPB trước và 
sau điều trị LEEP.
2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
• Bệnh nhân không có đầy đủ những XN cần 
cho nghiên cứu trước và sau khi điều trị LEEP.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp không nhóm chứng có 
theo dõi dọc.
2.4. Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện không xác suất.
NGUYỄN VĂN THẮNG, PHẠM TRÍ HIẾU
144
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
metche 91,6% and 94,7%. Bleeding within 6 hours 6,3%, no infections reported. 6 months follow-
ups: no recurrence. 
Conclusion: LEEP is a safe and effective methode for treating cervical lesions. 
Keywords: Cervical lesion; CIN; high-risk HPV; LEEP.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
145
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
thường, ASC và LSIL chiếm đa số tới 73,7% (đây là 
những kết quả TBÂĐ ít liên quan tới các tổn thương 
loạn sản nặng và UTCTC). Trong số có TBÂĐ bất 
thường, bất thường biểu mô vảy chiếm chủ yếu với 
68,4%, bất thường biểu mô tuyến chiếm 5,3%.
Theo bảng 3, trong số bệnh nhân có tổn thương 
CTC được điều trị LEEP, tình trạng nhiễm HPV các 
type nguy cơ cao là phổ biến, chiếm tới 73/95 bệnh 
nhân (76,8%); trong đó dương tính đơn type chiếm 
65,1%, nhiễm từ 2 type trở lên chiếm 11,7%. Trong 
số 95 phụ nữ, có tổng cộng 24 bệnh nhân nhiễm HPV 
type 16 (đơn thuần hoặc phối hợp những type khác), 
16 bệnh nhân nhiễm HPV type 18 và 45 bệnh nhân 
nhiễm ít nhất 1 trong 12 type nguy cơ cao còn lại. 
3.2. Kết quả và biến chứng của kỹ 
thuật LEEP
Bảng 4 cho thấy khi sau khi cắt bỏ tổn thương ở 
CTC, kết quả giải phẫu bệnh thu được chủ yếu là tổn 
thương CIN I và tương đương LSIL khác (u nhú CTC, 
papiloma biểu mô vảy) chiếm tới 42,2%. Tổn thương 
CIN II và III chiếm tương ứng 14,7 và 8,4%. Có 5 bệnh 
nhân UTCTC (4 trường hợp CIS và 1 trường hợp UT 
biểu mô vảy xâm nhập) đều được chỉ định mổ cắt tử 
cung sau khi nhận kết quả GPB. Bên cạnh đó, toàn bộ 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 143 - 147, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
2.5. Sơ đồ thực hiện nghiên cứu
2.6. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng khoa 
học của Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, có mục đích 
điều trị các tổn thương CTC tránh nguy cơ tiến triển 
ung thư, các thông tin về người bệnh được giữ kín.
3. Kết quả 
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu, có tổng cộng 95 
đối tượng được tiến hành thủ thuật LEEP đủ tiêu 
chuẩn nghiên cứu. Bệnh nhân trẻ nhất 18 tuổi 
trong khi bệnh nhân lớn tuổi nhất là 63 tuổi.
Theo kết quả bảng 2, số phụ nữ có TBÂĐ bình 
Biểu đồ 1. Sơ đồ thực hiện nghiên cứu
Biểu đồ 1. Sơ đồ thực hiện nghiên cứu 
2.6. Đạo đức nghiên cứu 
Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng khoa học của Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương, có mục đích điều trị các tổn thương C C tránh nguy cơ tiến triển ung thư, 
các thông tin về người bệnh đ ợc giữ kín. 
3. Kết quả 
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 
 Bảng 1. Phân bố tuổi của bệnh nhân 
Thu thập thông tin người 
bệnh trước điều trị LEEP 
Thực hiện thủ thuật LEEP 
và theo dõi 06 tiếng 
Bệnh nhân về phép đợi kết quả 
GPB + hướng dẫn tự theo dõi 
Đọc kết quả GPB (7 – 10 ngày) 
Lành tính hoặc CIN I, II, III 
Khám lại sau 01 tháng 
Khám lại sau 03 tháng + thinprep 
Kết quả TBÂĐ bình thường 
Khám kiểm tra định kỳ 
Khám lại sau 06 tháng + thinprep 
Kết quả TBÂĐ bình thường 
Không có tổn thương 
TBÂĐ bất thường 
thuothường 
Soi CTC + sinh thiết 
Không có tổn thương 
Xử trí chảy máu: chèn 
meche, đốt điện, khâu... 
CIS hoặc UTXL Quay lại điều trị 
tiếp 
TBÂĐ bất thường 
thuothường 
Soi CTC + sinh thiết 
Có tổn thương 
cần điều trị 
Chảy máu nhiều 
Ổn định 
Tuổi (năm) Số lượng Tỷ lệ (%)
< 20 1 1,1
20 đến 40 50 52,6
> 40 44 46,3
Tổng số 95 100
Bảng 1. Phân bố tuổi của bệnh nhân
GPB sau LEEP Số lượng Tỷ lệ (%)
Không thấy tổn thương 12 12,6
Viêm loét CTC 1 1,1
Viêm mạn tính 9 9,4
Quá sản sừng 4 4,2
Quá sản tuyến 2 2,1
U nhú CTC 19 20,0
Papiloma BM vảy 1 1,1
CIN I 20 21,1
CIN II 14 14,7
CIN III 8 8,4
CIS 4 4,2
K BM vảy xâm nhập 1 1,1
Tổng số 95 100
Bảng 4. Kết quả giải phẫu bệnh (GPB) của mô cắt LEEP
Kết quả tế bào Số lượng Tỷ lệ (%)
Bình thường 25 26,3
Bất thường biểu mô vảy
ASC 15 15,8
LSIL 30 31,6
ASCUS-H 6 6,3
HSIL 14 14,7
Bất thường biểu mô tuyến
AGC 3 3,1
AIS 1 1,1
Tân sản tuyến ác tính 1 1,1
Tổng số 95 100
Bảng 2. Kết quả xét nghiệm tế bào âm đạo
Type HPV nguy cơ cao Số lượng Tỷ lệ (%)
Âm tính 22 23,2
Dương tính 
đơn type
Type 16 16 16,8
Type 18 9 9,4
Ít nhất 1/12 typ nguy cơ cao khác 37 38,9
Dương tính ≥ 
2 type trở lên
Type 16 + 18 3 3,2
Type 16 + ít nhất 1/12 type nguy cơ cao khác 4 4,2
Type 18 + ít nhất 1/12 type nguy cơ cao khác 3 3,2
Type 16 + 18 + ít nhất 1/12 type nguy cơ cao khác 1 1,1
Tổng số 95 100
Bảng 3. Kết quả xét nghiệm HPV nguy cơ cao định type
NGUYỄN VĂN THẮNG, PHẠM TRÍ HIẾU
146
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
8 bệnh nhân CIN III sau khi tư vấn đều có nguyện vọng 
cắt tử cung vì lo sợ nguy cơ UTCTC. Như vậy, có tổng 
cộng 13/95 trường hợp được tiến hành điều trị bằng 
phương án cắt tử cung sau LEEP và 82/95 trường hợp 
còn lại được tiếp tục theo dõi theo quy trình. 
Tại Khoa Phụ Ung thư – Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương, kỹ thuật LEEP được thực hiện bằng bộ dụng 
cụ gồm vòng cắt và điện cực (để cầm máu). Hầu hết 
các trường hợp không đòi hỏi khâu cầm máu mà 
thường chỉ cần đốt điện bờ vết cắt là đủ (91,6%). 
Tuy nhiên, kỹ thuật chèn mèche âm đạo – CTC vẫn 
được áp dụng thường xuyên. Trong quá trình điều 
trị LEEP, 94,7% bệnh nhân đã được chèn mèche và 
rút sau 12 tiếng. Có tất cả 6/95 bệnh nhân xuất 
hiện chảy máu nhiều trong vòng 6 giờ đầu sau thực 
hiện LEEP cần phải đốt lại bờ vết cắt, cá biệt có 3/6 
trường hợp phải khâu CTC để cầm máu. 
Trong số 82 bệnh nhân được xuất viện về nhà 
và theo dõi (loại đi 13 trường hợp đã chỉ định cắt 
tử cung sau khi có kết quả GPB), có 2 bệnh nhân 
xuất hiện chảy máu nhiều trong vòng 1 tháng, được 
nhập viện xử trí bằng chèn mèche âm đạo – CTC (1 
trường hợp) và khâu diện chảy máu (1trường hợp). 
Các trường hợp chảy máu này đều được chỉ định 
dùng thêm kháng sinh và thuốc cầm máu đường 
uống. Chúng tôi không phát hiện trường hợp nào 
nhiễm trùng sau điều trị LEEP.
4. Bàn luận
Độ tuổi có tổn thương CTC được điều trị LEEP 
gặp nhiều nhất là độ tuổi sinh đẻ từ 20 – 40 tuổi 
(chiếm 52,6%), tiếp đó là lứa tuổi > 40 (chiếm 
46,3%), hiếm gặp ở tuổi trẻ. Điều này cũng hoàn 
toàn hợp lý vì khi phơi nhiễm với các yếu tố gây 
bệnh, đặc biệt là các type HPV cần có thời gian đủ 
dài mới dẫn tới tổn thương CTC. Theo nhiều nghiên 
cứu, độ tuổi là một trong những yếu tố nguy cơ của 
loạn sản CTC và ung thư CTC, bên cạnh đó là tình 
trạng mãn kinh, viêm cổ tử cung và hút thuốc lá [3]. 
Cầm máu trong 
kỹ thuật LEEP
Phương pháp Số lượng Tỷ lệ (%)
Đốt điện 87/95 91,6
Chèn mèche 90/95 94,7
Biến chứng sau 
kỹ thuật LEEP
Xử trí biến chứng Số lượng Tỷ lệ (%)
Chảy máu trong 6 tiếng 6/95 6,3
Chảy máu trong vòng 1 tháng 2/82 2,4
Nhiễm trùng 0/82 0
Bảng 5. Phương pháp cầm máu và các biến chứng của kỹ thuật LEEP
Những phụ nữ có bất thường biểu mô vảy được 
tiến hành điều trị LEEP theo chỉ định GPB. Những 
phụ nữ bất thường biểu mô tuyến thường phải tiến 
hành điều trị LEEP theo kỹ thuật 2 lớp ± nạo ống CTC 
(mục đích để lấy được bệnh phẩm nằm sâu trong ống 
CTC). Về nguyên tắc, xét nghiệm TBÂĐ không có giá 
trị chẩn đoán UTCTC nhưng nó là dấu hiệu gợi ý quan 
trọng để thày thuốc thực hiện các biện pháp thăm dò 
tích cực để không bỏ sót chẩn đoán. Cùng với định 
type HPV, TBÂĐ là phương tiện cơ bản hàng đầu để 
sàng lọc và phát hiện các tổn thương CTC hiện nay.
Tỷ lệ nhiễm HPV 1/12 type nguy cơ cao khác 
trong nghiên cứu này cao hơn tỷ lệ nhiễm HPV type 
16 và 18 (2 type đứng đầu gây UTCTC) có thể do đối 
tượng nghiên cứu là những bệnh nhân có tổn thương 
CTC nhưng chưa đến mức UTCTC. Việc áp dụng 
xét nghiệm HPV định type có thể coi là bước ngoặt, 
đánh dấu tiến bộ trong sàng lọc UTCTC nhờ mang 
lại kết quả chính xác khách quan, không phụ thuộc 
vào người đọc. Thực tế đã chứng minh, nhiều bệnh 
nhân UTCTC được phát hiện ở giai đoạn sớm nhờ xét 
nghiệm HPV cho kết quả dương tính với type nguy cơ 
cao trong khi kết quả TBÂĐ hoàn toàn bình thường.
Kỹ thuật LEEP là phương pháp điều trị hiệu quả 
được chỉ định cho những tổn thương CIN II và CIN 
III; song tại BVPSTW, kỹ thuật này thường được chỉ 
định rộng hơn cho cả những trường hợp CIN I; viêm 
lộ tuyến/ viêm mạn tính CTC có tổn thương rộng khó 
khăn khi thực hiện phương pháp đốt điện... do đặc 
tính của kỹ thuật giúp cầm máu tốt, có thể lấy được 
bệnh phẩm gửi xét nghiệm GPB. Nếu có sự khác biệt 
giữa kết quả TBÂĐ và GPB trước điều trị, kết quả GPB 
sau điều trị LEEP sẽ giúp đánh giá giá trị của các 
xét nghiệm. Những trường hợp tổn thương GPB sau 
LEEP là UTCTC trong khi trước điều trị không chẩn 
đoán được, có thể do những hạn chế trong kỹ thuật 
sinh thiết lấy bệnh phẩm của người soi CTC. Bởi lẽ, 
các tổn thương ác tính CTC có thể biểu hiện đa hình 
thái, nhiều vị trí khác nhau nhưng khi sinh thiết, người 
soi CTC chỉ sinh thiết điểm tại 1,2 vị trí đại diện dẫn 
đến không phản ánh đúng mức tổn thương. Những 
hạn chế về tính chính xác của chẩn đoán GPB có thể 
được khắc phục thông qua công tác đào tạo bài bản 
đối với người soi CTC cũng như phát triển công nghệ 
trong kỹ thuật cắt, nhuộm, soi, đọc bệnh phẩm GPB. 
Hiện nay, tại các trung tâm về phụ khoa trên 
thế giới, những trường hợp GPB cho kết quả CIN II 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
147
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 143 - 147, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
trước điều trị được tiến hành nhuộm hóa mô miễn 
dịch p16/ki67 để quyết định phương án điều trị. 
Nếu kết quả nhuộm dương tính, những trường hợp 
này sẽ được chỉ định điều trị LEEP, nếu kết quả âm 
tính sẽ theo dõi như CIN I (không can thiệp). 
Trong số 95 bệnh nhân, chỉ có 2 trường hợp bờ 
vết cắt còn tế bào bất thường nhưng đều là CIN I và 
CIN II. Hai trường hợp này đã được chúng tôi tiếp 
tục theo dõi, không can thiệp thêm và chưa phát 
hiện diễn biến bất thường. Theo Liss J (2017), yếu tố 
nguy cơ của rìa vết cắt còn tế bào bất thường (HSIL) 
sau điều tri LEEP là: hút thuốc lá (OR = 2,01; CI = 
1,12 – 3,6; p < 0,01) và những trường hợp có kết 
quả TBÂĐ là HSIL trước điều trị (OR = 1.96; CI = 
1,13 – 3,41; p < 0,01) [4].
Theo nghiên cứu của Maleerat P (2016) tại Bệnh 
viện Srinagarind – Thái Lan, ước tính tỷ lệ biến chứng 
sau điều trị LEEP cho 200 bệnh nhân vào khoảng 
16,5% bao gồm chảy máu (11%), ra khí hư bất thường 
(4%) và viêm vùng chậu (1,5%) [5]. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi; cỡ mẫu còn nhỏ, nhiều bệnh nhân được 
chỉ định điều trị LEEP cho tổn thương nhỏ, lành tính; 
những trường hợp tổn thương nặng, rộng, ác tính lại 
được chỉ định cắt tử cung sau LEEP nên có thể làm 
giảm tỷ lệ xuất hiện biến chứng sau điều trị. 
Nhằm hạn chế biến chứng chảy máu sau LEEP, 
cần tuân thủ đúng thời điểm thực hiện thủ thuật LEEP: 
sau khi người bệnh sạch kinh 2 – 3 ngày (pha nang 
noãn của chu kỳ kinh nguyệt (CKKN)). Nếu thực 
hiện LEEP vào nửa sau CKKN sẽ gây tăng nguy cơ 
chảy máu [6]. Theo nghiên cứu của Lee YJ (2017), 
việc sử dụng epinephrin phối hợp với thuốc gây tê 
tại chỗ trước khi làm thủ thuật (gây tê CTC) có thể 
giúp làm giảm nguy cơ chảy máu không chỉ ngay 
sau LEEP mà cả chảy máu muộn sau thủ thuật [7].
Sau khi điều trị LEEP, bệnh nhân được theo 
dõi định kỳ sau 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng. Các 
trường hợp khám lại sau 1 tháng nhằm phát hiện 
biến chứng chảy máu và nhiễm trùng diện cắt; 
sau 3 và 6 tháng được xét nghiệm lại TBÂĐ theo 
phương pháp thinprep pap nhằm phát hiện tái 
phát tổn thương. Trong số 82 bệnh nhân được theo 
dõi, chúng tôi chưa gặp trường hợp nào sau LEEP 
có tồn tại kết quả tế bào từ LSIL trở lên. 
Theo nghiên cứu phân tích gộp được thực hiện 
năm 2016 nhằm so sánh hiệu quả, biến chứng của 
3 phương pháp điều trị tổn thương CTC: áp lạnh, 
LEEP và khoét chóp; LEEP thể hiện là một phương 
pháp có hiệu quả tốt và ít biến chứng [8]. Tỷ lệ tái 
phát CIN II – III sau điều trị là 5,31%, tỷ lệ sạch 
HPV là 64,7%. Tỷ lệ các biến chứng sau điều trị 
LEEP hầu hết đều thấp dưới 1% bao gồm: chảy 
máu nhiều 0,23%, chảy máu ít 0,37%, nhiễm trùng 
0,13%, viêm vùng chậu 0,14%, chuyển dạ đẻ non 
1,85%. So sánh với 2 phương pháp còn lại, phương 
pháp LEEP cho hiệu quả tương đương với áp lạnh 
về tỷ lệ tái phát CIN II, III (khoảng 5%) (thấp hơn so 
với khoét chóp – khoảng 1%) nhưng ít tai biến hơn 
khoét chóp. Phương pháp LEEP có ưu điểm hơn áp 
lạnh ở chỗ nó cung cấp bệnh phẩm để đọc kết quả 
GPB, là cơ sở để phân tích, quyết định phương án 
điều trị tiếp theo cho người bệnh [8]. 
5. Kết luận
Kỹ thuật LEEP được sử dụng tại BVPSTW được 
chỉ định cho bệnh nhân có tổn thương CTC: CIN I, 
II, III và các tổn thương viêm mạn tính khác. Đây là 
phương pháp điều trị an toàn cho bệnh nhân và có 
hiệu quả điều trị khỏi các tổn thương tiền UTCTC.
Tài liệu tham khảo
1. Ziyauddin Farah, Sharma Rajyashri, Shaheen. A study on the effect 
of Cryotherapy and LEEP in cervical dysplasia. Biomed Res-India. 2012; 
23 (4): 533 - 535.
2. Suthi Sangkarat, Irene Ruengkhachorn, Mongkol Benjapibal et al. 
Long-term outcomes of a loop electrosurgical excision procedure for 
cervical intraepithelial neoplasia in a high incidence country. Asian Pac J 
Cancer Prev. 2014; 15 (2), 1035 – 1039.
3. Qingwei Zhang, Wenyan Xie, Feng Wang et al. Epidemiological investigation 
and risk factors for cervical lesions: cervical cancer screening among women in 
rural areas of Henan Province China. Med Sci Monit. 2016; 22: 1858 – 1865.
4. Liss J, Alston M, Krull MB et al. Predictors of positive margins at time 
of loop electrosurgical excision procedure. J Low Genit Tract Dis. 2017 
Jan; 21(1): 64 – 66. 
5. Maleerat P1, Chumworathayi B, Kietpeerakool C et al. Post-loop 
electrosurgical excision procedure complications in Srinagarind hospital. 
Asian Pac J Cancer Prev. 2016; 17(4): 2211 – 5.
6. Paraskevaidis E, Koliopoulos G, Kalantaridou S et al. Management 
and evolution of cervical intraepithelial neoplasia during pregnancy and 
postpartum. Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol. 2002 Aug 5; 104(1): 67 – 9.
7. Lee YJ, Park Y, Lee IO et al. Delayed hemorrhage effect of local 
anesthesia with epinephrine in the loop electrosurgical excisional 
procedure. Obstet Gynecol Sci. 2017 Jan; 60(1): 87 – 91. 
8. Santesso N, Mustafa RA, Wiercioch W et al. Systematic reviews and 
meta-analyses of benefits and harms of cryotherapy, LEEP, and cold knife 
conization to treat cervical intraepithelial neoplasia. Int J Gynaecol Obstet. 
2016 Mar; 132(3): 266 - 71. 

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ket_qua_cua_ky_thuat_leep_dieu_tri_ton_thuong_co_tu.pdf