Nhận xét kết quả bước đầu vi phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ qua xoang bướm

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu vi phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ

qua xoang bướm.

Phương pháp: Mô tả hồi cứu trên 09 bệnh nhân u tuyến yên được mổ vi phẫu

qua xoang bướm tại Bệnh viện Quân Y 175 từ 01/2014 tới 12/2017. Đánh giá mức độ

cắt bỏ khối u tuyến yên và tai biến trong phẫu thuật, biến chứng sau mổ, kết quả sớm

sau mổ.

Kết quả: Có 9 bệnh nhân u tuyến yên đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. Tỉ lệ

bệnh nhân nam chiếm 66,67%. Có 5 trường hợp là u tuyến yên không tăng tiết (55,56%),

3 trường hợp là u tăng tiết Prolactin (33,33%) và 1 trường hợp u tăng tiết GH (11,11%).

Thời gian mổ trung bình là 100 phút. Trong mổ không ghi nhận trường hợp nào chảy

máu nhiều và chảy dịch não tủy. Tổn thương giải phẫu bệnh có 8 trường hợp là adenoma

và 1 trường hợp carcinoma. Trong đó có 1 trường hợp lấy hết u chiếm 11,11%, 7 trường

hợp lấy gần hết u chiếm 77,78% và 1 trường hợp chỉ lấy 1 phần u chiếm 11,11%. Biến

chứng sớm sau mổ có 1 trường hợp đái nhạt và 1 trường hợp giảm thị lực cùng chiếm

11,11%. Không có bệnh nhân nào tử vong và tổn thương mạch máu

pdf 7 trang phuongnguyen 460
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét kết quả bước đầu vi phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ qua xoang bướm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét kết quả bước đầu vi phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ qua xoang bướm

Nhận xét kết quả bước đầu vi phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ qua xoang bướm
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
64
NHẬN XÉT KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU VI PHẪU THUẬT 
U TUYẾN YÊN BẰNG ĐƯỜNG MỔ QUA XOANG BƯỚM
Nguyễn Trung Kiên1, Vũ Thế Cường1, 
Nguyễn Thanh Lịch1, Nguyễn Thị Ngọc Dung1
TÓM TẮT:
Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu vi phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ 
qua xoang bướm.
Phương pháp: Mô tả hồi cứu trên 09 bệnh nhân u tuyến yên được mổ vi phẫu 
qua xoang bướm tại Bệnh viện Quân Y 175 từ 01/2014 tới 12/2017. Đánh giá mức độ 
cắt bỏ khối u tuyến yên và tai biến trong phẫu thuật, biến chứng sau mổ, kết quả sớm 
sau mổ.
Kết quả: Có 9 bệnh nhân u tuyến yên đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. Tỉ lệ 
bệnh nhân nam chiếm 66,67%. Có 5 trường hợp là u tuyến yên không tăng tiết (55,56%), 
3 trường hợp là u tăng tiết Prolactin (33,33%) và 1 trường hợp u tăng tiết GH (11,11%). 
Thời gian mổ trung bình là 100 phút. Trong mổ không ghi nhận trường hợp nào chảy 
máu nhiều và chảy dịch não tủy. Tổn thương giải phẫu bệnh có 8 trường hợp là adenoma 
và 1 trường hợp carcinoma. Trong đó có 1 trường hợp lấy hết u chiếm 11,11%, 7 trường 
hợp lấy gần hết u chiếm 77,78% và 1 trường hợp chỉ lấy 1 phần u chiếm 11,11%. Biến 
chứng sớm sau mổ có 1 trường hợp đái nhạt và 1 trường hợp giảm thị lực cùng chiếm 
11,11%. Không có bệnh nhân nào tử vong và tổn thương mạch máu.
Kết luận: Vi phẫu thuật qua xoang bướm là phương pháp điều trị u tuyến yên an 
toàn, hiệu quả trong điều trị u tuyến yên.
THE RESULTS OF PITUITARY ADENOMAS MICROSURGERY BY 
TRANSSPHENOIDAL APPROACH
1 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Trung Kiên ([email protected])
Ngày nhận bài: 15/02/2020, ngày phản biện: 21/02/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/3/2020
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
65
ABSTRACT : Ofject: evaluate the firstresults of pituitary adenomas 
microsurgery by transsphenoidal approach
Methods: retrospectivestudy based on 09 patients with pituitary tumor operated 
by transsphenoidal microsurgery at Hospital 175 from 01/2014 to 12/2017. Evaluate the 
degree of tumor resection, the intra-op and post-op complications and early outcome. 
Results: 9 patients with pituitary tumors satisfied studied criteria. There are 
6 males (66,67%). 5 non-secreting adenomas (55,56%), 3 prolactinomas (33,33%) 
and 1 GH-secreting tumor (acromegaly). Aproach and tumor resection in 9/9=100%. 
Mean operating time is 100 minutes. Intra-op: no CSF fistular. Pathological findings: 
8 adenoma, 1 carcinoma. Totally resection 1/9=11,11%, near totally 7/9=77,78% and 
partially resection 1/9=11,11% Early complication: diabetes insipidous 1/9=11,11%, 
amblyopia 1/9=11,11%.
Conclusion: transsphenoidal microsurgery is safe, effective treatment of 
pituitary tumor.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tuyến yên là tuyến hình hạt đậu 
nằm ở nền sọ trong hố yên. Về cấu trúc: 
tuyến yên gồm 2 thùy là thùy trước và thùy 
sau. Tuyến yên là tuyến nội tiết, được chi 
phối bởi vùng dưới đồi và liên quan trực 
tiếp đến các tạng nội tiết khác.
Thùy trước tuyến yên tiết ra các 
hormon tăng trưởng (GH), prolactin (tiết 
sữa), vỏ thượng thận (ACTH), kích thích 
tế bào hắc tố endorphins, kích thích tuyến 
giáp (TSH), kích thích buồng trứng (FSH), 
hoàng thể (LH). Thùy sau tuyến yên tiết 
hormon chống bài niệu (vasopressin) và 
oxytocin. Tuyến yên được cấp máu bởi 
động mạch cảnh trong. Động mạch cảnh 
trong chia 3 nhánh cho tuyến yên là ĐM 
tuyến yên trên, giữa và dưới. Tĩnh mạch 
dẫn lưu về tĩnh mạch cảnh.
U tuyến yên là loại u hay gặp, 
chiếm từ 10-25% số ca u não. Có nhiều 
cách phân loại, theo kích thước có các loại: 
u nhỏ, u lớn, u khổng lồ; theo hoạt động 
nội tiết có các loại: u tăng tiết prolactin, u 
tăng tiết GH, u tăng tiết ACTH...
Tuyến yên có thể được điều trị 
bằng thuốc, phẫu thuật, xạ trị hay kết hợp 
nhiều phương pháp.[1]
Phẫu thuật u tuyến yên bằng đường 
mổ qua xoang bướm đã được Schloffer sử 
dụng lần đầu tiên năm 1907 tại Áo. Nhưng 
vì nhiều lý do nên mãi tới năm 1960, kỹ 
thuật này mới được áp dụng rộng rãi trong 
phẫu thuật u tuyến yên nói riêng và phẫu 
thuật u tầng trước nền sọ nói chung. Vi 
phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ 
qua xoang bướm lần đầu tiên được áp dụng 
tại Bệnh viện Quân Y 175 từ năm 2014. 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
66
Đường mổ này là sự lựa chọn đầu tiên khi 
phẫu thuật u tuyến yên. Nghiên cứu này 
của chúng tôi nhằm:
Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận 
lâm sàng u tuyến yên.
Đánh giá kết quả bước đầu vi 
phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ 
qua xoang bướm.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng:
- Nghiên cứu mô tả hồi cứu dựa 
trên 09 bệnh nhân u tuyến yên được phẫu 
thuật tại Bệnh viện Quân Y 175 từ tháng 
01/2014 đến tháng 12/2017. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng 
loạt.
- Chúng tôi trích xuất hồ sơ bệnh 
án cũ, ghi nhận những tổn thương trong mổ 
(u mềm, u cứng, u chảy máu, u dễ hút), tai 
biến và biến chứng trong mổ (chảy máu, 
rò dịch não tủy), mức độ lấy u (lấy hết u, 
gần hết u, lấy một phần, sinh thiết, không 
lấy được u). Đánh giá tai biến, biến chứng 
sau mổ, kết quả sau mổ (sống, chết, liệt, rò 
dịch não tủy, chảy máu, nhiễm trùng), kết 
quả xét nghiệm (rối loạn nội tiết nặng hơn, 
nhẹ hơn, trở về bình thường), kết quả lấy u 
trên chụp MRI, CTscan kiểm tra. 
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Trong thời gian 4 năm (01/2014 – 
12/2017), có 9 ca phẫu thuật u tuyến yên 
bằng đường mổ qua xoang bướm.
3.1. Tuổi đối tượng nghiên cứu:
Tuổi trung bình là 48,44. Trong 
đó bệnh nhân ít tuổi nhất là 26, nhiều tuổi 
nhất là 62. Tỉ lệ nữ/nam là 1/3
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
67
3.2.Triệu chứng lâm sàng và kích thước u trên MRI:
Bảng 1: Triệu chứng lâm sàng 
Triệu chứng Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
Đau đầu 9 100
Nhìn mở 8 88,89
To đầu chi 1 11,11
Đái nhạt 0 0
Vô kinh 0 0
Vú tiết sữa 0 0
Bảng 2: Kích thước u trên cộng hưởng từ
Kích thước u Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
<10 mm 0 0
10-40 mm 5 55,56
>40 mm 4 44,44
Triệu chứng phổ biến của u tuyến yên thường là đau đầu và nhìn mờ. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi, có 9 trường hợp đau đầu (100%) và 8 trường hợp nhìn mờ 
(88,89%). Chỉ có 1 trường hợp to đầu chi và có xét nghiệm GH tăng (11,11%), tuy nhiên 
đây không phải là lý do bệnh nhân đến khám bệnh. Bệnh nhân tới bệnh viện khi khối u 
đã to, chèn ép gây tăng áp lực nội sọ, nhìn mờ, do đó ở đây có 100% là u tuyến yên lớn 
> 10mm (macroadenoma)
3.3. Phân loại u theo hoạt động nội tiết:
Bảng 3: Phân loại u theo hoạt động nội tiết
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
68
Có 3 trường hợp tăng Prolactin chiếm 33,33% tuy nhiên là bệnh nhân nam nên 
không có triệu chứng vô kinh, cũng như vú không to và tiết sữa; 1 trường hợp to đầu chi 
và có chỉ số GH tăng, chiếm 11,11% và 5/9 trường hợp bệnh nhân không có thay đổi các 
chỉ số nội tiết tố, chiếm 55,56%.
3.4. Phân loại u theo giải phẫu bệnh:
Bảng 4: Kết quả giải phẫu bệnh
- Có 8 bệnh nhân u tuyến tuyến yên (pituitary adenoma) chiếm 88,89%; chỉ có 
1 trường hợp là carcinoma tuyến yên, cần xạ trị bổ trợ sau mổ, chiếm 11,11%.
3.5. Kết quả:
Trong mổ:
- Thời gian phẫu thuật trung bình là 100 phút, trong đó ngắn nhất là 60 phút, dài 
nhất là 150 phút.
Bảng 5: Khả năng lấy u trong mổ 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
69
Bảng 6: Tai biến biến chứng trong mổ
Tai biến trong mổ Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Chảy máu 1 11,11
Chảy dịch não tủy 0 0
Tổn thương thần kinh mạch máu 0 0
Tất cả 9 bệnh nhân đều tiếp cận 
được khối u và cắt bỏ khối u bằng phương 
pháp vi phẫu thuật qua xoang bướm trong 
thời gian trung bình 100 phút. Trong quá 
trình lấy u, không có trường hợp nào 
chảy dịch não tủy, và chỉ có 1 trường 
hợp (11,11%) chảy máu nhiều từ mô u, 
cầm máu được bằng bipolar, oxy già và 
surgicel ép lại. So với nghiên cứu của 
Đồng Văn Hệ, tỷ lệ rò dịch não tủy và chảy 
máu nhiều trong mổ lần lượt là 14,29% và 
4,29%. [2] Cắt hết khối u là 1 trường hợp 
(11,11%), cắt gần hết khối u là 7 trường 
hợp (77,78%) và chỉ lấy được 1 phần khối 
u ở 1 trường hợp (11,11%). Tỷ lệ cắt bỏ hết 
khối u như vậy là chưa cao, có thể do số 
lượng bệnh nhân của chúng tôi chưa nhiều, 
và 100% bệnh nhân có khối u lớn với kích 
thước >10mm. Tất cả bệnh nhân đều được 
lấy bỏ khối u trong lòng bao u, chúng tôi 
không chủ động lấy bỏ cả bao khối u vì 
nguy cơ cao rò dịch não tủy, nhiễm trùng 
và chảy máu
3.6. Sau mổ:
Bảng 7: Cải thiện lâm sàng sau mổ:
Triệu chứng Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
Hết đau đầu 9 100
Cải thiện thị lực rõ 5 55,56
Cải thiện thị lực ít 3 33,33
- Kết quả sớm sau mổ, có 9/9=100% trường hợp hết đau đầu hoàn toàn và có 5 
trường hợp cải thiện rõ về thị lực mắt so với trước mổ, chiếm 55,56%. Tuy nhiên có vài 
bệnh nhân trước mổ bị teo gai thị do u chèn ép lâu ngày, sau mổ thị lực không cải thiện 
hoặc cải thiện rất ít. So với nghiên cứu của Đồng Văn Hệ có 83,33% bệnh nhân cải thiện 
về lâm sàng, 85,29% bệnh nhân cải thiện thị giác.[2] 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
70
3.7. Tai biến biến chứng sau mổ:
Bảng 8: Tai biến - biến chứng sau mổ
Triệu chứng Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
Chảy máu 0 0
Chảy dịch não tủy 0 0
Đái nhạt 1 11,11
Giảm thị lực 1 11,11
Tử vong 0 0
Suy yên 0 0
- Ngay sau mổ, có 1 trường hợp 
giảm thị lực, sáng tối (+-), chiếm 11,11%, 
và cũng trường hợp này xuất hiện đa niệu, 
tuy nhiên cũng được điều trị nội khoa ổn 
định. So với nghiên cứu của Đồng Văn 
Hệ có 11,11% đa niệu và 5,55% lâm sàng 
nặng hơn trước mổ. [2]
- Không có trường hợp nào tử 
vong (so với phương pháp mở nắp sọ, tử 
vong 5-12%, so với nghiên cứu của Đồng 
Văn Hệ là 2,14% [2]), tình trạng phù não 
cũng như tỷ lệ nhiễm khuẩn thấp hơn, do 
không tỳ đè vào cấu trúc não. Trong khi đó 
phẫu thuật mở nắp sọ phải mở màng cứng 
rộng rãi, vén ép thùy não, nguy cơ chảy 
máu và nhiễm trùng cao.
4. KẾT LUẬN
Phẫu thuật u tuyến yên bằng 
phương pháp vi phẫu qua xoang bướm là 
phương pháp có tỷ lệ thành công cao, tỷ lệ 
khỏi bệnh cao và tai biến, biến chứng thấp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lý Ngọc Liên (2013). U tuyến 
yên. Phẫu thuật thần kinh,tr 197-203
2. Đồng Văn Hệ, Lý Ngọc Liên 
(2012). Kết quả vi phẫu thuật u tuyến yên 
bằng đường mổ qua xoang bướm. Y học 
thành phố Hồ Chí Minh,chuyên đề Phẫu 
thuật thần kinh,4: tr 427-432
3. Đồng Văn Hệ, Lý Ngọc Liên 
(2012). Đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và 
hình ảnh u tuyến yên. Y học thành phố Hồ 
Chí Minh, chuyên đề Phẫu thuật thần kinh, 
4, tr 410-416
4. Aron DC et al (1995). Pituitary 
tumors: current concepts in diagnosis and 
management. West J Med, 162, 340-352
5. Seuk JW et al (2011). Visual 
outcome after transsphenoidal surgery in 
patients with pituitary apoplexy. J Korean 
Neurosurg Soc, 49(6), 339-344.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ket_qua_buoc_dau_vi_phau_thuat_u_tuyen_yen_bang_duo.pdf