Nhận xét kết quả bước đầu điều trị viêm cân gan chân bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện 175

Mục Tiêu: Nhận xét kết quả điều trị ban đầu viêm cân gan chân bằng nội soi.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Là 07 bệnh nhân được chẩn đoán xác

định viêm cân gan chân tại bệnh viện quân y 175. Điều trị nội khoa là cơ bản gồm

các biện pháp như là chống viêm, giảm đau, mang giày phù hợp, vật lý trị liệu, tiêm

corticoid, liệu pháp sóng xung kích. Khi các phương pháp điều trị bảo tồn không hiệu

quả, điều trị phẫu thuật sẽ được xem xét chỉ định. Điều trị ngoại khoa có các phương

pháp: Mổ mở, mổ mở với đường rạch nhỏ, mổ nội soi. Chúng tôi tiến hành phẫu thuật

nội soi cắt cân gan chân trên 07 bệnh nhân cho kết quả rất khả quan. Phương pháp

nghiên cứu mô tả loạt ca lâm sàng

pdf 9 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Nhận xét kết quả bước đầu điều trị viêm cân gan chân bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện 175", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận xét kết quả bước đầu điều trị viêm cân gan chân bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện 175

Nhận xét kết quả bước đầu điều trị viêm cân gan chân bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện 175
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
36
NHẬN XÉT KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ VIÊM CÂN GAN CHÂN 
BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN 175
Trần Đức Tài1, Nguyễn Hà Ngọc1, Nguyễn Thông Phán1 
Ngô Quốc Hoàn1, Nguyễn Đức Thọ1, Trịnh Anh Tuấn1
TÓM TẮT
Mục Tiêu: Nhận xét kết quả điều trị ban đầu viêm cân gan chân bằng nội soi.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Là 07 bệnh nhân được chẩn đoán xác 
định viêm cân gan chân tại bệnh viện quân y 175. Điều trị nội khoa là cơ bản gồm 
các biện pháp như là chống viêm, giảm đau, mang giày phù hợp, vật lý trị liệu, tiêm 
corticoid, liệu pháp sóng xung kích. Khi các phương pháp điều trị bảo tồn không hiệu 
quả, điều trị phẫu thuật sẽ được xem xét chỉ định. Điều trị ngoại khoa có các phương 
pháp: Mổ mở, mổ mở với đường rạch nhỏ, mổ nội soi. Chúng tôi tiến hành phẫu thuật 
nội soi cắt cân gan chân trên 07 bệnh nhân cho kết quả rất khả quan. Phương pháp 
nghiên cứu mô tả loạt ca lâm sàng.
Kết quả: Thang điểm AOFAS tăng từ 57,45 lên 88,65 điểm, 100% bệnh nhân hài 
lòng với kết quả sau mổ.
Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt cân gan chân mang lại rất nhiều ưu điểm và 
lợi ích so với mổ mở.
Từ khóa: Viêm cân gan chân, phẫu thuật nội soi. 
EVALUATE THE PRIMARY-TERM CLINICAL RESULTS 
OF ENDOSCOPIC PLANTAR FASCIA RELEASE AT 175 MILITARY 
HOSPITAL
ABTRACT
Object: Evaluate the primary-term clinical results of endoscopic plantar fascia 
release.
1 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Trần Đức Tài ([email protected])
Ngày nhận bài: 05/02/2020, ngày phản biện: 15/02/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/3/2020
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
37
Participants and methods: 07 patients who underwent definitive diagnosis 
plantar fasciitis at 175 military hospital. Basic medical treatment is composed of 
measures such as anti-inflammatory, analgesic (NSAIDs); bring customized functional 
foot orthoses (CFO), physiotherapy, corticosteroid injections, shock-wave therapy. 
Most of patients who are treated conservatively, but a further procedure is required 
in the minority who do not respond to conservative therapy. Surgical treatment with 
methods: open surgery, minimally invasive, arthroscopy. We performed arthroscopic 
surgery to cut fascia and the post – operations have showed an effective result. The 
research method is cases series.
Results and conclusion: AOFAS Scale increased from 57.45 to 88.65 points, 
100% of patients are satisfied with the outcome after surgery.
Conclusion: The arthroscopy shows the more dominant benefits than open 
technique in treating plantar fasciitis
Keyword: Plantar fasciitis, arthroscopy.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm cân gan chân là bệnh lý hay 
gặp nhất trong các bệnh mạn tính vùng cổ 
bàn chân. Một số tác giả báo cáo khoảng 
10% dân số sẽ gặp bệnh lý này ít nhất một 
lần trong đời.[7],[11] Điều trị nội khoa 
là phương pháp đầu tay như thuốc chống 
viêm, giảm đau, mang giày phù hợp, vật 
lý trị liệu làm mềm cân gan chân và gân 
gót, tiêm corticoid, liệu pháp sóng xung 
kích.[1],[4],[8] Khi bệnh nhân (BN) đã 
được điều trị nội khoa tích cực nhưng triệu 
chứng đau không giảm, liệu pháp tiêm 
corticoid vào cân gan chân của bệnh nhân 
có thể được xem xét. Tỉ lệ khỏi sau khi áp 
dụng các biện pháp trên là 90%.[2]
Khi áp dụng các phương pháp điều 
trị bảo tồn không đem lại hiệu quả, triệu 
chứng đau còn ảnh hưởng đến sinh hoạt 
của bệnh nhân, thì can thiệp ngoại khoa 
được lựa chọn cho bước điều trị tiếp theo.
[6],[10],[13] Phẫu thuật mở cắt cân và 
đục gai xương gót nếu có là một kỹ thuật 
không phức tạp, tuy nhiên các biến chứng 
sau mổ cao thể gặp với tỷ lệ khá cao như 
viêm loét da vết mổ, đau tái phát di dẳng, 
rối loạn thần kinh cảm giác.[8]
Phẫu thuật nội soi cắt cân gan chân 
đã được thực hiện tại Bệnh viện Quân Y 
175 từ tháng 11/2018, kết quả sau mổ cho 
thấy phương pháp này có nhiều ưu điểm 
hơn phẫu thuật mở. Chúng tôi tiến hành 
báo cáo này nhằm mục tiêu: “Nhận xét kết 
quả bước đầu điều trị viêm cân gan chân 
bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện quân 
y 175".
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU:
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
38
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Có tổng số 07 bệnh nhân được 
chẩn đoán xác định viêm cân gan chân, 
điều trị bằng phẫu thuật nội soi tại khoa 
Chấn thương chung – Bệnh viện Quân 
y 175, thời gian từ tháng 11/2018 đến 
08/2019.
+ Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Bệnh nhân trên 18 tuổi, được 
chẩn đoán viêm cân gan chân, đã được 
điều trị bảo tồn nhưng không hiệu quả, 
được điều trị bằng phẫu thuật nội soi.
- BN có đầy đủ hồ sơ bệnh án, hồ 
sơ tái khám sau mổ.
+ Tiêu chuẩn loại trừ:
- Viêm điểm bám gân gót kèm 
theo, gãy xương gót do mỏi.
- Biến dạng bệnh lý bàn chân bẩm 
sinh hay mắc phải.
- Tổn thương thần kinh ngoại biên, 
các bệnh lý viêm khớp, Goute.
- BN có chống chỉ định phẫu thuật.
- BN không tái khám sau mổ hay 
tử vong do nguyên nhân khác. 
Bệnh nhân được theo dõi đánh giá 
sau mổ 03 tháng, 06 tháng. Thời gian theo 
dõi này còn ngắn, do kỹ thuật mới được 
triển khai.
Chức năng vận động cổ bàn chân 
của bệnh nhân trước và sau phẫu thuật 
được đánh giá theo thang điểm chức năng 
của Hiệp Hội Chỉnh Hình Cổ Bàn Chân 
Hoa Kỳ (American Orthopaedic Foot 
&Ankle Society - AOFAS).
Kết quả chung: 
. Rất tốt: 90 – 100 điểm.
. Tốt: 80 – 89 điểm.
. Trung bình: 60 – 79 điểm.
. Kém: < 60 điểm.
Mức độ đau trước và sau mổ được 
đánh giá theo cảm quan của bệnh nhân, 
thang điểm từ 1 đến 100 (VAS)..
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, báo 
cáo loạt ca.
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đặc điểm chung:
Nam/Nữ 0/7
Tuổi trung bình 54 tuổi
Thời gian điều trị nội khoa trung bình 17,57 tháng
Bên P/Bên T 3/5
Số lần tiêm thuốc 1,85 lần
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
39
Nghiên cứu của chúng tôi tiến 
hành trên 07 bệnh nhân, trong đó có 01 
bệnh nhân bị cả 2 chân và 100% BN là nữ 
giới . Theo các nghiên cứu của Hogan et al 
(2014) ,Wataru Miyamoto (2017), số BN 
nữ cũng lớn hơn nam. Tuy nhiên chưa có 
nghiên cứu y sinh nào khẳng định nữ có 
nguy cơ mắc bệnh cao hơn nam. Các tác 
giả cũng thống nhất bệnh lý này thường 
xảy ra ở các bệnh nhân vận động nhiều 
nhưng đi chân trần hoặc đi giày không 
tương thích với bàn chân [2], [6].
Thời gian mắc bệnh trung bình 
là 17,57 tháng, dao động từ 9 tháng đến 
29 tháng. Các bệnh nhân khi được chẩn 
đoán bệnh sẽ được điều trị bảo tồn với các 
phương pháp như: dùng thuốc NSAIDs, 
mát xa tại chỗ, hướng dẫn đi giày mềm, 
các bài tập vật lý trị liệu. Tại cơ sở chúng 
tôi chưa triển khai hệ thống thiết kế giày 
chỉnh hình, nên phương pháp này không 
được áp dụng.
Trong 07 bệnh nhân đều đã được 
can thiệp liệu pháp corticoid, trung bình 
tái phát sau điều trị 14 tháng; 01 BN được 
điều trị với sóng xung kích, tái phát đau sau 
15 tháng. Theo báo cáo của Yuan Xiong 
và cộng sự (2010), sau điều trị sóng xung 
kích, triệu chứng đau có thể tái phát sau 12 
tháng với tỷ lệ 40%. Liệu pháp corticoid 
chỉ giảm các triệu chứng đau trong 6 -12 
tháng [12].
3.2. Chẩn đoán.
Chẩn đoán bệnh không khó, bệnh 
nhân đến khám với than phiền về triệu 
chứng đau tại gót chân khi bước đi sau ngủ 
dậy vào buổi sáng. Triệu chứng đau có thể 
tăng lên cuối ngày, sau khi đi lại nhiều.
Khám lâm sàng: đau khi ấn vào 
vùng diện trước lồi củ xương gót, test 
Windlass dương tính.
Hình 3.1. Test windlass của BN Nguyễn Thị T, Số BA: 19.041561
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
40
+ X quang: có thể thấy hình ảnh 
gai xương gót, tuy nhiên không phải 
trưởng hợp viêm cân gan chân nào cũng 
có gai xương. X quang bàn chân còn đánh 
giá cấu trúc xương vùng cổ bàn chân, vòm 
gan chân và các cấu trúc liên quan, từ đó 
loại trừ các bệnh lý khác.
Trong báo cáo của chúng tôi, X 
quang bàn chân của 07 BN đều có hình ảnh 
gai xương gót. Các bệnh nhân đều được 
giải thích rõ gai xương này không phải là 
nguyên nhân chính gây ra triệu chứng đau 
gót chân.
Hình 3.2. Ảnh XQ bàn chân của BN Nguyễn Thị Thanh T, Số BA: 18.44484
+ MRI: là phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiệu quả. Trên phim T2, viêm cân 
gan chân thể hiện hình ảnh của một tăng cường độ tín hiệu, đồng nhất, tăng bề dày. Ngoài 
ra trên phim MRI có thể phân biệt viêm cân gan chân với các trường hợp viêm bao hoạt 
dịch điểm bám gân gân Achille, đánh giá các tổn thương khác vùng cổ bàn chân.
Hình 3.3. Ảnh MRI bàn chân của BN Nguyễn Thị Thanh T, Số BA: 18.44484
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
41
3.3. Phương pháp phẫu thuật.
a. Đường mổ:
Chúng tôi sử dụng kỹ thuật 2 lối vào từ 2 phía trong và ngoài bàn chân.
- Lối mặt trong bàn chân: vị trí là giao điểm của 2 đường
. Đường dọc sát bờ sau mắt cá trong.
. Đường ngang là đường đi vuông góc với đường dọc cách bờ giới hạn giữa da 
gan chân 2 khoát ngón tay (khoảng 2cm).
Hình 3.4. Đường vào phía trong Hình 3.4. Dụng cụ tự tạo
Ảnh BN Nguyễn Thị T, Số BA: 
19.041561
Sử dụng đường rạch dọc khoảng 
5 mm qua da. Bóc tách tách tổ chức phần 
mềm bằng một banh cong đầu tù hoặc 
trocar, chúng tôi ưa thích sử dụng trocar 
vì thao tác thuận lợi, chú ý dụng cụ phải đi 
sát mặt dưới của cân gan chân.
- Lối vào mặt ngoài: đẩy 1 troca 
đầu tù từ lối vào phía trong vuông góc mặt 
da, sát dưới cân gan chân đến mặt da phía 
đối diện, tại vị trí troca tiếp xúc da mở lối 
vào khoảng 5 mm. Đây là vị trí vào của 
camera đường kính 2,7 mm, góc 30o.
b. Kỹ thuật cắt cân gan chân:
Với lối vào như trên, chúng tôi sử 
dụng dụng cụ cải biên để bộc lộ cân gan 
chân và dung dao cắt tự tạo để cắt cân gan 
chân. 
Sau khi bộc lộ cân gan chân vùng 
nguyên ủy, đánh giá bề dày, chiều rộng 
của cân, chúng tôi không cắt gai xương 
gót theo các tác giả như Fumito Komatsu 
(2011), Wataru Miyamoto (2017), không 
có sự khác biệt về giảm triệu chứng đau 
sau mổ giữa nhóm có loại bỏ gai xương 
với nhóm không loại bỏ gai xương. Ngoài 
ra, việc cố gắng làm sạch gai xương có thể 
tăng nguy cơ tạo phàn ứng viêm tại chỗ 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
42
sau mổ do vùng này có sự tăng sinh các 
vi mạch máu và nhánh của thần kinh gan 
chân trong, tổn thương nhánh đầu của TK 
gan chân ngoài (TK Baxters), kích thích 
quá phát lớp mỡ, hoặc gây đau kéo dài.
[6],[9]
Chúng tôi sử dụng dụng cụ tự tạo 
cắt bán phần bề rộng cân từ phía ngoài vào 
trong, không cắt hết bề dài cân do sẽ làm 
yếu cấu trúc vòm của gan chân [8],[13]
và phải cắt hết chiều dày lớp cân cho tới 
khi thấy lớp cơ của cơ gấp các ngón chân 
ngắn. Về vấn đề chiều rộng đường cắt cân, 
phẫu thuật viên có thể cắt ½ bề rộng, hoặc 
đường cắt có thể 2/3 bề rộng của cân. [8] 
Vấn đề này hiện vẫn còn nhiều tranh luận, 
do có quan điểm cho rằng cắt cân quá rộng 
sẽ làm yếu vòm bàn chân, tăng áp lực cơ 
thể lên bờ ngoài bàn chân. Tuy nhiên trong 
nghiên cứu của Ossama El Shazly (2010) 
trên 18 bệnh nhân, tác giả cắt 2/3 bề rộng 
cân từ phía trong ra ngoài, sau mổ 85% đạt 
kết quả rất tốt.[2]
c. Phương pháp vô cảm:
Bệnh nhân có thể được gây tê tủy 
sống hay mê nội khí quản. 
Chúng tôi lựa chọn gây tê tủy sống 
vì thời gian phẫu thuật ngắn, thuận tiện 
chăm sóc sau hồi tỉnh. Tuy nhiên nếu xảy 
ra tai biến tổn thương thần kinh gan chân 
trong sẽ khó phát hiện hơn so với phương 
pháp mê nội khí quản.[6]
3.4. Kết quả điều trị.
a. Kết quả gần:
Bệnh nhân sau chăm sóc hồi tỉnh, 
sẽ được hướng dẫn tập vận động không tải 
cổ bàn chân sau mổ 01 ngày, tập vận động 
chịu tải theo khả năng sau mổ 03 ngày, có 
thể dùng nạng hỗ trợ.
Các báo cáo của Ossama El Shazly 
(2010), Fumito Komatsu (2011), Wataru 
Miyamoto (2018) cũng khuyến cáo bệnh 
nhân nên tập vận động chịu tải sớm, hoạt 
động này không làm tăng triệu chứng đau 
gót chân hay mất vững vòm bàn chân sau 
mổ.[2],[6],[9]
Các bệnh nhân trong nghiên cứu 
chỉ sử dụng kháng sinh dự phòng và thuốc 
uống sau mổ, các BN được tập vận động có 
tải ngay sau mổ từ ngày đầu tiên và không 
xuất hiện dấu hiệu đau nghiêm trọng nào.
Khi ra viện, 7/7 BN có vết mổ khô 
sạch, được cắt chỉ khi tái khám vào ngày 
thứ 14 sau mổ. 100% bệnh nhân đi lại tốt 
sau 02 tuần, có 1/7 bệnh nhân còn than đau 
nhẹ tại thời điểm 03 tháng, sau đó đỡ dần 
vào tháng 06. 
b. Kết quả xa: Bệnh nhân được 
hẹn tái khám xa sau mổ 03 tháng, 06 tháng.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
43
+ So sánh AOFAS và VAS trước mổ - sau mổ:
Trước mổ Sau mổ P value
VAS 75,71 ± 5,22 16,57 ± 2,22 0,029
AOFAS 55,57 ± 3,15 88,85 ± 3,29 0,023
 Triệu chứng đau giảm và chức năng cổ bàn chân của BN sau phẫu thuật được cải 
thiện rõ rệt so với trước mổ, thể hiện qua sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của VAS và 
AOFAS (p < 0,05).
+ Kết quả chung (n = 7):
Kết quả chung Số BN Tỷ lệ (%)
Rất tốt 4 57.14
Tốt 3 42.86
Trung bình 0 0
Kém 0 0
Tổng 7 100
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 
có 7/7 BN có kết quả sau mổ tốt và rất tốt. 
Kết quả này tương đương với kết quả của 
Fumito Komatsu (2011) (8/10 trường hợp 
đạt tốt và rất tốt). [6]
Hogan et al (2014) báo cáo kết 
quả phẫu thuật nội soi cắt cân gan chân 
viêm trên 22 bệnh nhân, tỷ lệ hài lòng sau 
phẫu thuật này là 97,7% và triệu chứng đau 
được cải thiện ngay sau mổ ở 50% BN. [5]
 Báo cáo của Ogilvie-Harris và 
Lobo (2000) trong nghiên cứu lâm sàng 
trên 53 BN (65 chân được phẫu thuật), 
giảm đau gót chân hiệu quả ở 89% BN, 
giảm cứng khớp buổi sáng ở 92% BN, 
và 71% số BN trở lại hoạt động thể thao 
không giới hạn. [10]
Kết quả của chúng tôi có khác 
biệt so với hai tác giả trên do số lượng BN 
trong nghiên cứu còn ít, thời gian đáng giá 
sau mổ ngắn, đây cũng là hạn chế của báo 
cáo. Trong thời gian tới chúng tôi cần tiến 
hành đánh giá trên số lượng bệnh nhân lớn 
hơn, kết quả xa cần được đánh giá ngoài 
12 tháng sau mổ.
Một số tác giả như là Miyamoto, 
El Shazly [2],[3],[9]báo cáo tổn thương 
hay gặp nhất của phẫu thuật nội soi cắt cân 
gan chân là tổn thương nhánh đầu của thần 
kinh gan chân ngoài tách từ thần kinh chày 
sau, trong nghiên cứu của chúng tôi không 
có trường hợp nào bị tổn thương nhánh này 
do chúng tôi chỉ dùng dao cắt qua da sau 
đó dung dụng cụ để tách lớp mỡ và cân. 
Vì thế trong nghiên cứu này chúng 
tôi nhận thấy phẫu thuật nội soi cắt cân 
gan chân có rất nhiều ưu điểm so với mổ 
mở: cho trường quan sát rộng, thời gian 
nằm viện ngắn, tiết kiệm chi phí, vết mổ 
mau lành, bệnh nhân tập vận động sớm, 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
44
hạn chế các biến chứng hơn phẫu thuật mở 
như là tổn thương TK Baxters, quá phát 
lớp mỡ, đau kéo dài. Nhược điểm tồn tại 
của nghiên cứu là số lượng bệnh nhân chưa 
nhiều và thời gian theo dõi còn ngắn nên 
cần có những nghiên cứu dài hơn sau này.
4. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu điều trị viêm cân 
ngắn gan chân bằng phẫu thuật nôi soi cho 
07 bệnh nhân tại Bệnh viện Quân Y 175, 
thời gian từ tháng 11/2018 đến 08/2019 
chúng tôi rút ra kết quả ban đầu như sau:
+ Kết quả gần: 7/7 bệnh nhân liền 
vết mổ kỳ đầu.
+ Kết quả xa: 7/7 bệnh nhân có kết 
quả chung đạt tốt và rất tốt. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cottom J. M., Baker J. 
S. (2016), “Endoscopic Plantar Fascia 
Debridement for Chronic Plantar Fasciitis”, 
Clin Podiatr Med Surg, 33(4), 545-51, 
2. El Shazly O., El Beltagy A. 
(2010), “Endoscopic plantar fascia release, 
calcaneal drilling and calcaneal spur 
removal for management of painful heel 
syndrome”, Foot (Edinb), 20(4), 121-5, 
3. El Shazly O., et al. (2010), 
“Endoscopic plantar fascia release by 
hooked soft-tissue electrode after failed 
shock wave therapy”, Arthroscopy, 26(9), 
1241-5, 
4. Gill L. H. (1997), “Plantar 
Fasciitis: Diagnosis and Conservative 
Management”, J Am Acad Orthop Surg, 
5(2), 109-117.
5. Hogan K. A., Webb D., 
Shereff M. (2004), “Endoscopic plantar 
fascia release”, Foot Ankle Int, 25(12), 
875-81.
6. Komatsu F., et al. (2011), 
“Endoscopic surgery for plantar fasciitis: 
application of a deep-fascial approach”, 
Arthroscopy, 27(8), 1105-9, 
7. Landorf K. B., Keenan A. 
M., Herbert R. D. (2004), “Effectiveness 
of different types of foot orthoses for the 
treatment of plantar fasciitis”, J Am Podiatr 
Med Assoc, 94(6), 542-9.
8. Michelle L. B. (2009), 
“Complications of plantar fascia release”, 
pp. 31-35.
9. Miyamoto W., et al. (2018), 
“Endoscopic plantar fascia release via 
a suprafascial approach is effective for 
intractable plantar fasciitis”, Knee Surg 
Sports Traumatol Arthrosc, 26(10), 3124-
3128, 
10. Ogilvie-Harris D. J., Lobo J. 
(2000), “Endoscopic plantar fascia release”, 
Arthroscopy, 16(3), 290-8, 
11. Uden H., Boesch E., Kumar 
S. (2011), “Plantar fasciitis - to jab or to 
support? A systematic review of the current 
best evidence”, J Multidiscip Healthc, 4, 
155-64.
12. Xiong Y., et al. (2019), 
“Comparison of efficacy of shock-wave 
therapy versus corticosteroids in plantar 
fasciitis: a meta-analysis of randomized 
controlled trials”, Arch Orthop Trauma 
Surg, 139(4), 529-536.
13. Yamakado K. (2013), 
“Subcalcaneal bursitis with plantar fasciitis 
treated by arthroscopy”, Arthrosc Tech, 
2(2), e135-9.

File đính kèm:

  • pdfnhan_xet_ket_qua_buoc_dau_dieu_tri_viem_can_gan_chan_bang_ph.pdf