Nhận thức, thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp của người chăm sóc chính tại Khoa Điều trị Tự nguyện C - Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019

Mục tiêu: Mô tả nhận thức, thực hành của người chăm sóc chính có con dưới 5 tuổi mắc

tiêu chảy cấp tại khoa Điều trị Tự nguyện C- Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019 và xác

định một số yếu tố liên quan.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện 382 người chăm sóc

chính có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp ≤ 2 lần đang được điều trị tại khoa Điều trị tự

nguyện C từ 01/04/2019 đến 31/12/2019.

Kết quả: Số người chăm sóc chính có nhận thức đúng về chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp là

29,8%; Số người chăm sóc chính có thực hành đúng về chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp là

37,2%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và kiến thức của người

chăm sóc chính với thực hành chăm sóc trẻ mắc tiêu chảy cấp.

Kết luận: Hầu hết người chăm sóc chính chưa có nhận thức đúng và thực hành đúng về

chăm sóc trẻ mắc tiêu chảy cấp. Trình độ học vấn và kiến thức của người chăm sóc chính

là những yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ mắc tiêu chảy cấp

pdf 8 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Nhận thức, thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp của người chăm sóc chính tại Khoa Điều trị Tự nguyện C - Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhận thức, thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp của người chăm sóc chính tại Khoa Điều trị Tự nguyện C - Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019

Nhận thức, thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp của người chăm sóc chính tại Khoa Điều trị Tự nguyện C - Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 65-72 
65 
Research Paper 
Awareness and Practice of Caring for Children Under 5 Years 
Old Suffered from Acute Diarrhea of Primary Caregiver 
at the Department of Pediatric C - Vietnam National 
Children’s Hospital in 2019 
Quach Thi Hoa* 
Vietnam National Children's Hospital, 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
Received 13 April 2020 
Revised 17 June 2020; Accepted 29 June 2020 
Abstract 
Purpose: To describe awareness and practice of primary caregivers of children under 5 
years old with acute diarrhea at the Department of Pediatrics C-Vietnam National 
Children's Hospital in 2019 and identify some related factors. 
Methods: A cross-sectional descriptive study, convenient sampling of 382 primary 
caregivers of children under 5 years of age with acute diarrhea ≤ 2 times being treated at 
Department of Pediatrics C from 1st April 2019 to 31th December 2019. 
Results: The number of primary caregivers with correct awareness of acute diarrhea was 
29.8%; The number of primary caregivers proper practice of caring for acute diarrhea 
children is 37.2%. There is a statistically significant relationship between educational 
attainment and knowledge of primary caregivers and care for children suffered from acute 
diarrhea. 
Conclusions: Most primary caregivers do not have proper awareness and practice of 
caring for children with acute diarrhea. The careers' education and knowledge are the 
factors related to child care practice in acute diarrhea. 
Keywords: Acute diarrhea; primary caregiver; under 5 years old. 
*
_______ 
* Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i3.189 
D.N. Hoai / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 3 (2020) 65-72 
66 
Nhận thức, thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy 
cấp của người chăm sóc chính tại Khoa Điều trị 
Tự nguyện C - Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019 
Quách Thị Hoa* 
Bệnh viện Nhi Trung ương, 18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam 
Nhận ngày 13 tháng 4 năm 2020 
Chỉnh sửa ngày 17 tháng 06 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 29 tháng 6 năm 2020 
Tóm tắt 
Mục tiêu: Mô tả nhận thức, thực hành của người chăm sóc chính có con dưới 5 tuổi mắc 
tiêu chảy cấp tại khoa Điều trị Tự nguyện C- Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2019 và xác 
định một số yếu tố liên quan. 
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện 382 người chăm sóc 
chính có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp ≤ 2 lần đang được điều trị tại khoa Điều trị tự 
nguyện C từ 01/04/2019 đến 31/12/2019. 
Kết quả: Số người chăm sóc chính có nhận thức đúng về chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp là 
29,8%; Số người chăm sóc chính có thực hành đúng về chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp là 
37,2%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và kiến thức của người 
chăm sóc chính với thực hành chăm sóc trẻ mắc tiêu chảy cấp. 
Kết luận: Hầu hết người chăm sóc chính chưa có nhận thức đúng và thực hành đúng về 
chăm sóc trẻ mắc tiêu chảy cấp. Trình độ học vấn và kiến thức của người chăm sóc chính 
là những yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ mắc tiêu chảy cấp. 
Từ khóa: Tiêu chảy cấp; người chăm sóc chính; dưới 5 tuổi. 
1. Đặt vấn đề* 
Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây 
tử vong cho trẻ em các nước đang phát 
triển. Trên thế giới, hàng năm có khoảng 
1,3 tỷ lượt trẻ em dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy 
và 4 triệu trẻ chết vì bệnh này. Theo thống 
kê của Tổ chức y tế thế giới, 80% trường 
hợp tử vong do tiêu chảy xảy ra ở nhóm trẻ 
dưới 2 tuổi,đặc biệt là 6 - 24 tháng tuổi [4]. 
Tỷ lệ trẻ mắc tiêu chảy cấp bị mất nước và 
điện giải trước khi đến các cơ sở y tế chiếm 
3,8% và cũng là nhóm có tỷ lệ tử vong cao 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i3.189 
nhất [5]. Bệnh viện Nhi Trung ương là bệnh 
viện hàng đầu trong chăm sóc nhi khoa của 
Việt Nam. Mỗi ngày có đến hàng trăm trẻ 
mắc tiêu chảy khám và điều trị tại bệnh 
viện. Nắm bắt được thực trạng về kiến thức 
và thực hành của người chăm sóc trẻ mắc 
tiêu chảy cấp, cán bộ y tế có kế hoạch trao 
đổi, cung cấp thông tin về bệnh, cách chăm 
sóc trẻ với người chăm sóc sẽ giúp cho trẻ 
hồi phục tốt hơn, rút ngắn thời gian điều trị 
cũng như tránh những diễn biến xấu dẫn 
đến bệnh nặng hoặc tử vong và phòng bệnh 
tại cộng đồng là hết sức cần thiết. 
Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện 
đề tài “Thực trạng nhận thức, thực hành 
chăm sóc trẻ dưới 05 tuổi mắc tiêu chảy cấp 
của người chăm sóc chính tại khoa Điều trị 
Q.T. Hoa / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 65-72 
67 
tự nguyện C, Bệnh viện Nhi Trung ương 
năm 2019 ” với mục tiêu: mô tả thực trạng 
nhận thức, thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 
tuổi mắc tiêu chảy cấp của người chăm sóc 
chính (CSC) và xác định một số yếu tố liên 
quan. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Người chăm sóc chính của trẻ dưới 5 
tuổi mắc tiêu chảy cấp đang điều trị nội trú 
tại khoa Điều trị tự nguyện C, Bệnh viện 
Nhi Trung ương trong thời gian nghiên cứu 
Tiêu chuẩn lựa chọn: 
- Người chăm sóc chính có trẻ dưới 5 
tuổi mắc tiêu chảy cấp ≤ 2 lần nhập viện từ 
01/04/2019 đến 31/12/2019. 
- Đối tượng có khả năng nghe, 
nói bình thường và đồng ý tham gia 
nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại trừ: 
- Đối tượng nghiên cứu không thỏa 
mãn tiêu chuẩn lựa chọn 
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 
Nghiên cứu được tiến hành từ 
01/04/2019 đến 31/12/2019 tại Khoa Điều 
trị tự nguyện C, Bệnh viện Nhi Trung ương. 
2.3. Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang 
2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu 
2.4.1. Cỡ mẫu 
Công thức tính cỡ mẫu 
n= 
- n= cỡ mẫu nghiên cứu cần có 
- p= 0,39 (tham chiếu từ nghiên cứu của 
tác giả Nguyễn Thị Hiền, Lê Hoàng Em 
(2014), Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi 
về bệnh tiêu chảy của các bà mẹ có con 
dưới 5 tuổi tại khoa Nội tổng hợp Bệnh viện 
Sản Nhi Cà Mau). 
- d= 0,06 sai số tuyệt đối 
Thay vào công thức ta có n= 253. Tuy 
nhiên để thuận lợi trong công việc thu thập 
số liệu chúng tôi lấy toàn bộ số người chăm 
sóc chính có bệnh nhi phù hợp tiêu chuẩn 
nghiên cứu nhập viện từ 01/04/2019 đến 
31/12/2019. Số liệu thu thập được là 382 
phiếu. 
2.4.2. Phương pháp chọn mẫu 
Chọn ngẫu nhiên theo tiêu chuẩn lựa 
chọn và tiêu chuẩn loại trừ. 
2.5. Bộ công cụ nghiên cứu 
2.5.1. Bộ công cụ nghiên cứu 
Sử dụng bộ câu hỏi (phiếu phỏng vấn) 
đã được thiết kế sẵn phù hợp với mục tiêu 
nghiên cứu. Phiếu phỏng vấn được xây 
dựng gồm các nội dung về: Đặc điểm nhân 
khẩu học của bà mẹ, kiến thức của bà mẹ, 
thực hành của bà mẹ. 
2.5.2. Tiêu chuẩn đánh giá 
Tiêu chuẩn đánh giá điểm kiến thức: 
- Tổng số điểm là 21 điểm 
- Kiến thức đạt: 15/21 điểm trở lên (Trả 
lời đúng 2/3 câu hỏi về kiến thức) 
- Kiến thức không đạt: Từ 14/21 điểm 
trở xuống 
Tiêu chuẩn đánh giá điểm thực hành: 
- Tổng số điểm thực hành là 8 điểm 
- Thực hành đạt: từ 6/8 điểm trở lên (Trả 
lời đúng 2/3 nội dung câu hỏi) 
- Thực hành không đạt; Từ 5/8 điểm trở 
xuống 
2.5.3. Phương pháp thu thập thông tin 
Phỏng vấn cá nhân trực tiếp để thu thập 
được các số liệu nghiên cứu. 
2.5.4. Xử lý và phân tích số liệu 
Q.T. Hoa / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 65-72 
68 
Số liệu sau khi thu thập sẽ được làm 
sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 
3.1, sau đó sẽ được xử lý và phân tích bằng 
phần mềm SPSS 18.0. 
3. Kết quả nghiên cứu 
3.1. Thông tin về đối tượng nghiên cứu 
Tuổi của đối tượng nghiên cứu chủ yếu 
là từ 20-39 tuổi; trong đó nam chiếm 11%; 
nữ chiếm 89%.Trình độ đại học, sau đại học 
chiếm 44%; trình độ cao đẳng,trung cấp: 
30,4%; và phổ thông trung học chiếm 
25,6%. Người CSC là mẹ bệnh nhi chiếm 
87,4% (Bảng 1). 
3.2. Kiến thức và thực hành của người chăm 
sóc chính về chăm sóc trẻ mắc tiêu chảy cấp 
Có 63,9% người CSC cho rằng dấu hiệu 
cho thấy trẻ mắc tiêu chảy cấp khi trẻ đi 
ngoài phân lỏng nhiều lần trong ngày; 
42,9% khi phân lẫn nhầy mũi hoặc có máu; 
chỉ có 25,1% biết đúng định nghĩa của tiêu 
chảy cấp (TCC) (Bảng 2). 
Bảng 1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=382) 
Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 
Tuổi 
Min = 20; Max = 60 
Mean±SD = 29,9±6,1 
<20 6 1,6 
20-39 202 93,2 
>=40 20 5,2 
Giới tính 
Nam 42 11,0 
Nữ 340 89,0 
Trình độ học vấn 
Cao đẳng, trung cấp 116 30,4 
Đại học, Sau đại học 168 44 
Phổ thông trung học 98 25,6 
Nghề nghiệp 
Nông dân, nghề tự do 134 55,5 
Công nhân 76 19,9 
Cán bộ viên chức 94 24,6 
Nơi ở 
Nội thành 114 29,8 
Ngoại thành và nông thôn 120 70,2 
Người chăm sóc chính được 
phỏng vấn 
Cha 44 11,5 
Mẹ 334 87,4 
Khác 4 1,1 
Bảng 2. Kiến thức chung về bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi của người chăm sóc chính (n=382) 
Nội dung Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 
Dấu hiệu 
nào cho thấy 
trẻ đã mắc 
Tiêu chảy 
cấp 
Đi ngoài phân lỏng > 3 lần/ngày kéo dài ít 
hơn 14 ngày 
96 25,1 
Đi ngoài phân lỏng nhiều lần trong ngày 244 63,9 
Phân lẫn nhầy mũi hoặc có máu 164 42,9 
Nguyên Do vệ sinh tay và dụng cụ chế biến thức ăn 276 72,3 
Q.T. Hoa / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 65-72 
69 
nhân nào 
gây ra tiêu 
chảy cấp 
không sạch 
Do ăn uống không hợp vệ sinh 326 85,3 
Do cho trẻ ăn thức ăn nhiều chất như: cá, 
tôm, lươn, cua, ốc, tinh bột 
78 20,5 
Tiêu chảy 
cấp lây 
truyền theo 
những 
đường nào 
Ăn uống 318 83,2 
Phân 148 38,7 
Nước tiểu 20 5,2 
Máu 10 2,6 
Hô hấp 56 14,7 
Dấu hiệu trẻ 
bị mất nước 
khi mắc tiêu 
chảy cấp 
Trẻ khát nước đòi uống nước liên tục 186 48,7 
Trẻ đái ít 158 41,4 
Trẻ mệt, li bì 266 69,6 
Trẻ khóc liên tục 74 19,4 
Nhận thức 
về chăm sóc 
trẻ TCC 
Nhận thức Đạt 114 29,8 
 Nhận tnức không Đạt 268 70,2 
Bảng 3. Thực hành về bù dịch cho trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp của người chăm sóc chính (n=382) 
Nội dung Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 
Làm gì khi thấy trẻ đi 
ngoài nhiều lần phân 
lỏng trong ngày 
Ra hiệu thuốc mua men tiêu hóa cho 
trẻ uống 
138 36,1 
Cho trẻ uống nước sôi để nguội 46 12,0 
Cho trẻ uống thêm Oresol (ORS) 250 65,4 
Cách pha gói ORS 
Chia nhỏ gói ORS để pha và cho trẻ 
uống 
38 9,9 
Pha cả gói với nước sôi để nguội và 
cho trẻ uống theo hướng dẫn trên gói. 
336 88,0 
Pha ORS với sữa, nước hoa quả cho 
trẻ dễ uống 
8 2,1 
Cách cho trẻ uống ORS 
Uống càng nhiều càng tốt 72 18,8 
Uống theo nhu cầu 304 79,6 
Nếu trẻ nôn thì thôi không cho uống 
nữa 
6 1,6 
Có 65,4% người CSC cho trẻ uống thêm ORS khi trẻ đi ngoài nhiều lần phân lỏng; 9,9% 
chia nhỏ gói ORS để pha cho trẻ uống; 2,1% người CSC pha ORS với sữa, nước hoa quả cho 
trẻ uống; 79,6% cho trẻ uống ORS theo nhu cầu của trẻ. 
Q.T. Hoa / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 65-72 
70 
Biểu đồ 1.Thực hành đạt về chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp 
của người chăm sóc chính (n=382). 
Nhận xét: Chỉ có 37,2% người CSC có thực hành Đạt khi chăm sóc trẻ mắc TCC 
3.3. Một số yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ mắc TCC của người chăm sóc chính 
Bảng 4. Các yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ mắc TCC 
Đặc điểm 
Thực hành chăm sóc trẻ mắc tiêu chảy 
cấp p-Value 
Không đạt n (%) Đạt n (%) 
Tuổi 
<30 140 (58,8) 98 (41,2) 
0,141 
>30 100 (69,4) 44 (30,6) 
Giới tính 
Nam 30 (71,4) 12(28,6) 
0,387 
Nữ 210 (61,8) 130 (38,2) 
Trình độ học vấn 
Cao đẳng 150 (70,1) 64 (29,9) 
0,019* 
Đại học và sau ĐH 90 (53,6) 78 (46,4) 
Kiến thức về chăm 
sóc trẻ bị tiêu chảy 
Đạt 46 (40,4) 68 (59,6) <0,0001
* Không đạt 194 (72,4) 74 (27,6) 
*có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê 
giữa trình độ học vấn; kiến thức về chăm 
sóc trẻ bị tiêu chảy với thực hành đạt trong 
chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc TCC. Trong 
số người CSC có kiến thức đạt thì chỉ có 
59.6% có Thực hành Đạt. 
4. Bàn luận 
4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 
Có 89,0% người CSC tham gia nghiên 
cứu là mẹ của bệnh nhi. Nhóm tuổi từ 20-39 
tuổi chiếm 93,2%. Hơn một nửa trong số đó 
(55,5%) là nghề nông dân và tự do. Trình 
độ đại học và sau đại học chiếm 44% còn 
lại là trình độ cao đẳng, trung cấp và trung 
học phổ thông. Đây là một yếu tố thuận lợi 
cho chúng tôi khi tổ chức truyền thông tại 
khoa phòng. 
Q.T. Hoa / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 65-72 
71 
4.2. Kiến thức, thực hành về chăm sóc trẻ 
mắc TCC của người chăm sóc chính 
4.2.1. Kiến thức về chăm sóc trẻ mắc 
TCC của người chăm sóc chính 
Trong nghiên cứu của chúng tôi thì chỉ 
có 25,1 % người CSC có định nghĩa đúng 
về TCC. Kết quả này thấp hơn rất nhiều so 
với nghiên cứu của Yasmin Mumtaz 
(71,0%) [3]; Phan Hoàng Thùy Linh (2018) 
là 78,7% [9]. Có 85,3% cho rằng nguyên 
nhân gây TCC là ăn uống không hợp vệ 
sinh và 83,2% cho rằng TCC lây qua đường 
ăn uống. Như vậy có thể thấy việc không 
biết hết nguyên nhân gây bệnh, đường lây 
lan sẽ dẫn đến việc trẻ có thể tái mắc bệnh, 
thậm chí cả bản thân người chăm sóc có thể 
mắc bệnh giống trẻ. Tỷ lệ người CSC có 
nhận thức đúng về chăm sóc trẻ TCC là 
29,8%; nhận thức không đúng là 70,2%. 
Kết quả của chúng tôi có sự khác biệt với 
nghiên cứu năm 2012 tại Nepal của tác giả 
Ansari Mukhtar và cộng sự (0%) [1] và thấp 
hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị 
Hiền tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau 
(44,2%) [6]. Kiến thức đúng về bệnh TCC 
của người chăm sóc còn thấp cho thấy cần 
đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, 
giáo dục sức khỏe nhằm cung cấp thông tin 
giúp cho các bà mẹ có thể chăm sóc con 
mình tốt hơn qua đó giảm tỷ lệ trẻ 
nhập viên. 
4.2.2. Thực hành về chăm sóc trẻ mắc 
TCC của người chăm sóc chính 
Bù dịch đúng và đủ trong điều trị TCC 
là một yếu tố chính để giảm tỷ lệ tử vong ở 
trẻ dưới 5 tuổi mắc TCC. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, 65,4% người CSC chọn cho 
trẻ uống ORS khi thấy trẻ đi ngoài nhiều lần 
phân lỏng trong ngày và 79,6% chọn cho trẻ 
uống ORS theo nhu cầu của trẻ. Đây là một 
kết quả khá tốt trong đánh giá thực hành của 
những người trực tiếp chăm sóc trẻ. Kết quả 
này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn 
Văn Thanh (74,1%)[7]. Có 88,0% người 
chăm sóc trẻ biết pha ORS đúng cách và 
vẫn còn 13% chưa biết (9,9% người CSC 
chọn cách chia nhỏ gói ORS để pha cho trẻ 
uống và 2,1% chọn pha ORS với sữa, nước 
hoa quả). Số liệu này tương đồng với 
nghiên cứu của Huỳnh Thị Thúy Hằng 
(13%) [8]. Qua đó cho thấy việc truyền 
thông về cách pha, cách sử dụng gói ORS 
để bù nước cho trẻ mắc TCC tại nhà cần 
phải được làm tốt hơn nữa đặc biệt là truyền 
thông trực tiếp. Đánh giá chung về thực 
hành chăm sóc trẻ TCC có 37,2% người 
CSC có thực hành Đạt và 62,8% người CSC 
không có thực hành Đạt. 
4.3.Một số yếu tố liên quan đến thực hành 
chăm sóc trẻ mắc TCC của người chăm 
sóc chính 
Kết quả nghiên cứu chỉ ra trình độ học 
vấn của người CSC có mối liên quan có ý 
nghĩa thống kê với thực hành chăm sóc trẻ 
mắc TCC của người CSC (P<0,05). Kết quả 
này tương đồng với nghiên cứu của Lê Thị 
Thanh Xuân và cộng sự tại Bình Thuận năm 
2013 [10]. Và nghiên cứu của chúng tôi 
cũng cho thấy có mối liên quan mạnh mẽ 
giữa kiến thức với thực hành về chăm sóc 
trẻ TCC của người chăm sóc trẻ (p<0,0001). 
Số liệu này hoàn toàn tương đồng với 
nghiên cứu của Laxmipati và cộng sự thực 
hiện tại Bệnh viện Đại học Y, Mangaluru 
Ấn Độ năm 2018 [2]. Điều này cho thấy 
giáo dục sức khỏe cho bà mẹ nên được sử 
dụng như một công cụ hiệu quả để thúc đẩy 
kiến thức, thực hành tốt về chăm sóc và 
phòng ngừa TCC ở trẻ em dưới 5 tuổi. 
5. Kết luận 
Kiến thức chung của người CSC về 
chăm sóc trẻ mắc TCC: 
Q.T. Hoa / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 65-72 
72 
Số người CSC có kiến thức chung đúng 
về chăm sóc trẻ TCC là 29,8%. Trong đó 
kiến thức về nguyên nhân gây bệnh cao 
nhất là 85,3%. Kiến thức về nhận biết dấu 
hiệu mất nước của trẻ thấp nhất là 19,4%. 
Thực hành của người CSC về chăm sóc 
trẻ mắc TCC: 
Thực hành chung đúng của người CSC 
về chăm sóc trẻ mắc TCC là 37,2%. Trong 
đó có 65,4% người CSC chọn cho trẻ uống 
ORS khi thấy trẻ đi ngoài nhiều lần phân 
lỏng trong ngày; 88% biết pha ORS đúng và 
76,9% cho trẻ uống ORS đúng. 
Trình độ văn hóa, kiến thức về chăm sóc 
trẻ mắc TCC là những yếu tố liên quan có ý 
nghĩa thống kê với thực hành của người 
CSC khi chăm sóc trẻ mắc bệnh (P<0,05) 
Tài liệu tham khảo 
[1] Ansari M, Izham M, Ibrahim M et al. 
Mothers’ Knowledge, Attitude and 
Practice Regarding Diarrhea and its 
Management in Morang Nepal: An 
Interventional Study. Tropical Journal of 
Pharmaceutical Research 2012;11(5):847-
854. 
[2] Gollar LH, Avabratha KS. Knowledge, 
attitude and practice of mothers of under-
five, Children regarding diarrheal illness: 
A study from coastal Karnataka. Muller J 
Med Sci Res 2018;9(2):66-70. 
[3] Mumtaz Y, Zafar M, Mumtaz Z. 
Knowledge attitude and practices of 
mothers about diarrhea in children under 5 
years. J Dow Uni Health Sci 2014;8(1):3-
6. 
[4] UNICEF/WHO. Ending Preventable 
Deaths from Pneumonia and Diarrhoea by 
2025. The Intergrated Global Action Plan 
for Pneumonia and Diarhoea (GAPPD), 
UNICEF World Health Organization; 
2013. 
[5] UNICEF/WHO. Diarrhoea: Why Children 
Are Still Dying and What Can Be Done. 
UNICEF World Health Organization; 
2009. 
[6] Ca Mau Obstetrics and Pediatrics Hospital 
Bulletin, https://bvsannhicamau.vn/hoat-
dong/10/nghien-cuu-khoa-hoc/khao-sat-kien-
thuc-thai-do-va-hanh-dong.html [Accessed 
12 April 2020]. (in Vietnamese) 
[7] Thanh NV. Assessing the knowledge of 
mothers who have babies with diarrhea at 
the Department of Pediatrics, Bong Son 
Regional General Hospital 2009. The 4th 
National Scientific Research on Nursing, 
Hanoi, October 25-26, 2010, Vietnam 
Nurses Association, 2010, p.102-108. (in 
Vietnamese) 
[8] Ca Mau Obstetrics and Pediatrics Hospital 
Bulletin,https://bvsannhicamau.vn/hoat-dong 
/10/nghien-cuu-khoa-hoc/khao-sat-kien-thuc-
thai-do.html. [Accessed 12 April 2020]. (in 
Vietnamese) 
[9] Ca Mau Obstetrics and Pediatrics Hospital 
Bulletin, https://bvsannhicamau.vn/hoat-don 
g/10/nghien-cuu-khoa-hoc/khao-sat-kien-
thuc-thai-do.html [Accessed 12 April 2020]. 
(in Vietnamese) 
[10] Xuan LTT, Anh TQ, Tuy LTT. Some 
factors related to knowledge, attitude, 
practice of acute diarrhea of people in 2 
communes of Ham Thuan Bac district, the 
Binh Thuan province in 2013. Journal of 
Preventive Medicine 2015;166(6):352. (in 
Vietnamese) 

File đính kèm:

  • pdfnhan_thuc_thuc_hanh_cham_soc_tre_duoi_5_tuoi_mac_tieu_chay_c.pdf