Nhân một trường hợp dậy thì sớm ngoại biên do nang buồng trứng

Dậy thì sớm ngoại biên do nang bọc noãn là một rối loạn hiếm gặp

ở trẻ gái. Trong nhiều trường hợp, bệnh thường thoái triển tự phát và

không cần điều trị. Tuy nhiên, nang buồng trứng có thể tăng kích thước,

gây xuất hiện và tồn tại kéo dài các đặc tính sinh dục phụ. Chúng tôi

báo cáo một trường hợp trẻ nữ 42 tháng tuổi nhập viện tại bệnh viện

Phụ sản Trung Ương vì phát triển tuyến vú và ra máu âm đạo lần thứ

hai trong vòng 6 tháng. Trẻ cao 1m05 (nằm trên đường bách phân vị 95

so với tuổi), nặng 19,5 kg (nằm trên đường bách phân vị thứ 97 so với

tuổi). Trẻ được phân loại dậy thì sớm theo Tanner B2P1. Xét nghiệm

máu phát hiện nồng độ estradiol tăng cao và test kích thích GnRH âm

tính. Siêu âm bụng phát hiện nang buồng trứng lớn bên trái. Trẻ được

chỉ định mổ nội soi bóc nang buồng trứng, kết quả giải phẫu bệnh là

nang bọc noãn. Kết luận: chỉ nên phẫu thuật nang buồng trứng trong

trường hợp nang tăng kích thước hoặc các đặc tính sinh dục phụ tồn tại

kéo dài. Bảo tồn chức năng sinh sản tối đa trong khi phẫu thuật và có

kế hoạch theo dõi lâu dài bệnh nhi sau phẫu thuật.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Nhân một trường hợp dậy thì sớm ngoại biên do nang buồng trứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhân một trường hợp dậy thì sớm ngoại biên do nang buồng trứng

Nhân một trường hợp dậy thì sớm ngoại biên do nang buồng trứng
VŨ BÁ QUYẾT, PHẠM TRÍ HIẾU, NGUYỄN VĂN THẮNG
172
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
Vũ Bá Quyết, Phạm Trí Hiếu, Nguyễn Văn Thắng 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP DẬY THÌ SỚM NGOẠI BIÊN 
DO NANG BUỒNG TRỨNG 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Trí Hiếu, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: dậy thì sớm ngoại 
biên, nang buồng trứng.
Keywords: precocious 
pseudopuberty, autonomous 
ovarian cysts.
Tóm tắt
Dậy thì sớm ngoại biên do nang bọc noãn là một rối loạn hiếm gặp 
ở trẻ gái. Trong nhiều trường hợp, bệnh thường thoái triển tự phát và 
không cần điều trị. Tuy nhiên, nang buồng trứng có thể tăng kích thước, 
gây xuất hiện và tồn tại kéo dài các đặc tính sinh dục phụ. Chúng tôi 
báo cáo một trường hợp trẻ nữ 42 tháng tuổi nhập viện tại bệnh viện 
Phụ sản Trung Ương vì phát triển tuyến vú và ra máu âm đạo lần thứ 
hai trong vòng 6 tháng. Trẻ cao 1m05 (nằm trên đường bách phân vị 95 
so với tuổi), nặng 19,5 kg (nằm trên đường bách phân vị thứ 97 so với 
tuổi). Trẻ được phân loại dậy thì sớm theo Tanner B2P1. Xét nghiệm 
máu phát hiện nồng độ estradiol tăng cao và test kích thích GnRH âm 
tính. Siêu âm bụng phát hiện nang buồng trứng lớn bên trái. Trẻ được 
chỉ định mổ nội soi bóc nang buồng trứng, kết quả giải phẫu bệnh là 
nang bọc noãn. Kết luận: chỉ nên phẫu thuật nang buồng trứng trong 
trường hợp nang tăng kích thước hoặc các đặc tính sinh dục phụ tồn tại 
kéo dài. Bảo tồn chức năng sinh sản tối đa trong khi phẫu thuật và có 
kế hoạch theo dõi lâu dài bệnh nhi sau phẫu thuật. 
Từ khóa: dậy thì sớm ngoại biên, nang buồng trứng.
Abstract 
PRECOCIOUS PSEUDOPUBERTY ASSOCIATED WITH 
AUTONOMOUS FOLLICULAR CYSTS – A CASE REPORT
Background: Precocious pseudopuberty associated with autonomous 
follicular cysts is a rare disorder in girls. In many cases, symptoms of 
this condition usually regress spontanously and may not need treatment. 
However, these cysts may enlarge and produce estrogen, results in signs 
of sexual precocity. Here we report a case of precocious pseudopuberty 
due to an autonomous ovarian follicular cyst. 
Case presentation: A 3.5-year-old girl was admitted to Nation hospital 
of Obstetrics and Gynecology because of breast development and 
vaginal bleeding. The first time she had these symptoms was 6 months 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 172 - 177, 2017
173
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
ago. She was 105cm tall (in the 95th percentile for her age) and weighs 19.5kg (in the 97th percentile for 
her age). Her pubertal development was classified as Tanner stage 2 breast development and Tanner 
stage I pubic hair development. Endocrinology examination showed elevated estrogen level and 
supressed gonadotropin level in GnRH stimulation test. Her pelvic ultrasound showed a large ovarian 
cyst. Based on these observations, laparoscopy was performed and histologic analysis confirmed the 
diagnosis of a follicular cyst. 
Conclusion: Autonomous ovarian cysts that cause precocious pseudopuberty usually resolve 
spontanously sothat no treatment is necessary. Surgery should only be considered if symptoms of 
progressed precocious puberty are clear or the cyst increases in size. In surgery, normal ovarian 
tissue should be preserved for future fertility. Due to the possibility of recurrent, a careful long-term 
follow up after surgery may be necessary in such cases. 
Key words: precocious pseudopuberty, autonomous ovarian cysts.
1. Đặt vấn đề
Dậy thì sớm là một tình trạng hiếm gặp ở các 
bệnh nhi với tỷ lệ khoảng 1/5000. Theo định 
nghĩa phổ biến, dậy thì sớm ở trẻ gái là sự khởi 
phát các dấu hiệu của dậy thì trước 8 tuổi; trẻ sẽ 
tăng trưởng chiều cao nhanh và biểu hiện các đặc 
tính sinh dục thứ phát sớm bao gồm: phát triển 
tuyến vú, xuất hiện lông mu, lông nách và hành 
kinh. Tuy biểu hiện sự phát triển vượt trội hơn về 
chiều cao, cân nặng so với những trẻ khác cùng 
tuổi song ở tuổi trưởng thành, trẻ dậy thì sớm sẽ có 
chiều cao thấp hơn bình thường do hiện tượng cốt 
hóa sớm các đầu xương. Hầu hết các trường hợp 
dậy thì sớm ở trẻ gái là dậy thì sớm trung ương hay 
dậy thì sớm phụ thuộc GnRH. Ở những trẻ này, 
nồng độ hormon GnRH tăng cao do hậu quả của 
sự hoạt hóa sớm trục nội tiết dưới đồi – tuyến yên 
– buồng trứng. 
Ngược lại, dậy thì sớm giả hay dậy thì sớm 
ngoại biên kém phổ biến hơn. Các bệnh nhi này 
khi lấy máu làm xét nghiệm sẽ biểu hiện nồng 
độ các hormon buồng trứng tăng cao trong khi 
hormon hướng sinh dục không tăng. Vì vậy, trường 
hợp này còn được gọi là dậy thì sớm không phụ 
thuộc GnRH. Dậy thì sớm giả ở trẻ gái được chia 
làm hai nhóm: dậy thì sớm giả đồng giới và dậy thì 
sớm giả khác giới. Nguyên nhân hàng đầu gây ra 
dậy thì sớm giả đồng giới ở trẻ gái là do hội chứng 
McCune Albright với biểu hiện hành kinh sớm đơn 
độc, loạn sản xơ xương, có mảng sắc tố màu cà 
phê sữa trên da, tổn thương xương sọ, mù... Ngoài 
ra còn có những nguyên nhân ít phổ biến khác 
như u/nang buồng trứng, u vỏ thượng thận nữ tính 
hóa... Trái ngược với dậy thì sớm giả đồng giới, 
dậy thì sớm giả khác giới ở trẻ gái có biểu hiện 
nam tính hóa cơ quan sinh dục nữ, phì đại âm vật, 
giọng trầm, phát triển cơ bắp... Nguyên nhân của 
tình trạng này có thể do bệnh tăng sản thượng thận 
bẩm sinh, u vỏ thượng thận, u buồng trứng nam 
tính hóa... Vì vậy, để điều trị dậy thì sớm ngoại 
biên, cần xử trí nguyên nhân trực tiếp gây ra tình 
trạng tăng nồng độ các steroid sinh dục như phẫu 
thuật cắt bỏ khối u buồng trứng, u vỏ thượng thận 
Nghiên cứu trong và ngoài nước về dậy thì sớm 
ngoại biên không nhiều như nghiên cứu về dậy thì 
sớm trung ương. Hơn nữa, do tính chất hiếm gặp, 
quả chụp XQ khối xương bàn cổ tay cho thấy tuổi 
xương là 4,5 tuổi (lớn hơn so với tuổi thực 1 tuổi), 
phim chụp cộng hưởng từ sọ não không phát hiện gì 
bất thường. Khi siêu âm vùng chậu, bệnh nhi được 
phát hiện có một nang trống âm bờ đều kích thước 
61x44mm tại buồng trứng trái, kích thước tử cung 
là 38x31mm. Kết quả xét nghiệm nội tiết cho thấy 
nồng độ hormon estrogen (estradiol) cơ sở tăng cao: 
3913 pmol/l (bình thường < 55 pmol/l ở trẻ chưa 
dậy thì); nồng độ các hormon khác bình thường: 
progesteron: 1,35 nmol/ml; TSH: 1,81 IU/l; FSH: 
0,1 IU/l; LH: 0,1 IU/l; beta hCG < 0,1 IU/l. Test kích 
thích bằng LHRH cho kết quả âm tính, không có đỉnh 
LH (kết quả trình bày tại bảng 1). Một số marker 
khối u buồng trứng cũng được đánh giá: tăng nhẹ 
Ca 125: 63,6 IU/ml; tăng nhẹ HE4: 89 pmol/l; 
alpha FP: 0,735 ng/ml trong giới hạn bình thường.
Trẻ được chẩn đoán u buồng trứng trái /dậy 
thì sớm ngoại biên và được chỉ định mổ nội soi 
để xử trí. Ca mổ đã phát hiện một nang buồng 
trứng trái kích thước 6cm không có dấu hiệu ác tính 
(vỏ mỏng, trong chứa dịch trong, không có vách, 
không có nhú) trong khi tử cung và buồng trứng 
phải của trẻ cũng lớn hơn bình thường, không có 
sẹo phóng noãn buồng trứng. Phẫu thuật viên đã 
tiến hành bóc nang buồng trứng trái, để lại phần 
lành. Kết quả giải phẫu bệnh là nang bọc noãn. 
Trẻ nhi hậu phẫu ổn định, ra viện sau 03 ngày, sau 
đó được tiếp tục theo dõi tại Bệnh viện Nhi Trung 
Ương, không phải điều trị GnRH.
VŨ BÁ QUYẾT, PHẠM TRÍ HIẾU, NGUYỄN VĂN THẮNG
174
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
các nghiên cứu về tình trạng dậy thì sớm ngoại 
biên do u/nang buồng trứng lại càng hạn chế về 
kích cỡ mẫu, thường chỉ dừng lại ở báo cáo ca 
bệnh hoặc loạt ca bệnh. Nhân một trường hợp 
bệnh nhi có biểu hiện dậy thì sớm kèm theo nang 
buồng trứng được phát hiện và điều trị tại khoa Phụ 
ung thư bệnh viện Phụ sản Trung ương, các tác giả 
hy vọng có thể chia sẻ kinh nghiệm chẩn đoán và 
xử trí đối với những trường hợp đặc biệt này. 
2. Giới thiệu ca bệnh
Trẻ nữ Nguyễn Thị B.H, 3 tuổi 6 tháng, chưa 
quan hệ tình dục, nhập viện Phụ sản Trung Ương với 
biểu hiện ra máu âm đạo ngày thứ hai. Tiền sử bệnh 
tật và quá trình mang thai của mẹ bệnh nhi không 
phát hiện bất thường. Trẻ đẻ thường, nặng 3,5 kg, 
khóc tốt. Trẻ bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt từ lúc 3 
tuổi 1 tháng kèm phát triển tuyến vú. Tại thời điểm 
đó, trẻ được khám tại Bệnh viện Nhi Trung ương đã 
được chụp cộng hưởng từ vùng bụng – chậu phát 
hiện một khối u buồng trứng (T) dạng nang dịch 
kích thước 27x14mm; hiện tại hành kinh lần thứ hai. 
Khám lâm sàng: trẻ có chiều cao, cân nặng lớn hơn 
giới hạn bình thường so với tuổi: cao 1,05m (nằm 
trên đường bách phân vị thứ 95 so với tuổi), nặng 
19,5 kg (nằm trên đường bách phân vị thứ 97 so với 
tuổi), chỉ số khối cơ thể BMI: 17,5 (nằm trên đường 
bách phân vị thứ 93 so với tuổi). Qua khai thác, trẻ 
đã tăng 12cm chiều cao trong vòng 1 năm qua. 
Khám phụ khoa: có nụ tuyến vú, đầu vú thâm, chưa 
có lông mu hay lông nách, hai môi bé thâm, âm đạo 
ra máu đỏ tươi. Trẻ được phân loại giai đoạn dậy thì 
sớm B2 P1 theo Tanner. 
Trẻ đã được tiến hành một số xét nghiệm cận 
lâm sàng để thăm dò tình trạng dậy thì sớm. Kết 
Ảnh 1. Hình ảnh tuyến vú của bệnh nhi (B2 theo Tanner)
Nồng độ các hormon (IU/l) Sau 1 giờ Sau 2 giờ Sau 3 giờ
FSH 0,51 0,6 0,72
LH 0,04 0,02 0,01
Estradiol 94,01 89,75 125,68
Bảng 1. Nồng độ các hormon khi thực hiện test kích thích bằng LHRH
Ảnh 2. Hình ảnh nang buồng trứng trái phát hiện được khi mổ nội soi
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 172 - 177, 2017
175
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
3. Bàn luận
Dậy thì sớm ở trẻ gái có thể gây ra nhiều hậu 
quả nghiêm trọng. Trước hết, những trẻ này có sự 
bất tương xứng giữa phát triển thể chất và phát 
triển tâm thần vận động. Vì trẻ phát triển nhanh 
hơn, lớn hơn bạn bè cùng trang lứa, cùng lúc phát 
triển kích thước tuyến vú, xuất hiện lông mu, hành 
kinh giống như những thiếu nữ có thể khiến cho trẻ 
sợ hãi, mặc cảm; đồng thời có nguy cơ bị lạm dụng 
tình dục, có thai sớm. Trong y văn đã ghi lại trường 
hợp làm mẹ trẻ nhất, đó là bệnh nhi Lena Medina 
đã sinh con khi mới chỉ 5 tuổi 7 tháng 21 ngày, 
do hậu quả của dậy thì sớm và quan hệ tình dục 
sớm [1]. Bên cạnh đó, nồng độ hormon estrogen 
tăng cao trong dậy thì sớm một mặt làm phát triển 
xương, mặt khác làm cốt hóa sớm các sụn liên hợp 
ở đầu xương dài, dẫn đến khống chế mức độ phát 
triển, làm trẻ khi đạt đến độ tuổi trưởng thành lại 
có chiều cao thấp hơn người bình thường. Theo 
nghiên cứu của Carel (2004), dậy thì sớm không 
được điều trị ở trẻ nữ đã làm giảm chiều cao trung 
bình tại tuổi trưởng thành tới 12cm [2]. Vì vậy, 
cần phát hiện kịp thời để điều trị cho các bệnh nhi 
bị dậy thì sớm, đảm bảo cho sự phát triển bình 
thường về thể chất và tâm thần vận động cho trẻ.
Đứng trước một trường hợp có những biểu hiện 
gợi ý dậy thì sớm như: phát triển tuyến vú, ra máu 
âm đạo..., cần xác định rõ các tập hợp triệu chứng 
hướng tới dậy thì sớm đang thực sự tiến triển hay 
chỉ là một dấu hiệu đơn độc (xuất hiện lông mu đơn 
độc hoặc phát triển tuyến vú đơn độc). Từ đó cần 
thực hiện các xét nghiệm tương ứng để tìm nguyên 
nhân của tình trạng này. Thông thường, để chẩn 
đoán dậy thì sớm, thày thuốc cần hỏi tiền sử, bệnh 
sử, khám lâm sàng tỉ mỉ, đo tuổi xương bằng phim 
XQ bàn – cổ tay, định lượng nồng độ estradiol 
huyết thanh, thực hiện test kích thích bằng GnRH 
và siêu âm khảo sát vùng chậu [3]. 
Ở bệnh nhi đã báo cáo, các triệu chứng lâm 
sàng hướng tới dậy thì sớm đang tiến triển như: các 
chỉ số phát triển chiều cao, cân nặng cao hơn bình 
thường (chiều cao của trẻ nằm trên đường bách 
phân vị thứ 95 và cân nặng nằm trên đường bách 
phân vị thứ 97 so với tuổi), trẻ tăng 12cm chiều 
cao trong vòng 1 năm, tuổi xương lớn hơn tuổi 
thực 1 tuổi, phát triển tuyến vú (giai đoạn B2 theo 
Tanner). Thông thường, trẻ dậy thì sớm đang tiến 
triển có tăng tốc độ phát triển chiều cao rõ rệt (> 6 
cm/năm) và tăng phát triển chiều cao nhiều tháng 
trước khi phát triển tuyến vú; tuổi xương trên phim 
XQ lớn hơn tuổi thực của bệnh nhi > 2 năm [4]. 
Đây đều là những tác dụng của hormon estrogen 
trên quá trình phát triển xương cũng như cơ quan 
sinh dục nữ. Ở những trẻ này, nồng độ hormon 
estradiol ở điều kiện cơ sở tăng cao hơn giá trị 
trong giai đoạn tiền dậy thì. Tuy vậy, bản thân 
nồng độ hormon estradiol cơ sở dao động rất lớn 
và độ đặc hiệu thấp trong chẩn đoán dậy thì sớm 
nên chỉ có giá trị tham khảo. 
Một xét nghiệm quan trọng – tiêu chuẩn vàng 
để phân biệt giữa dậy thì sớm trung ương và 
dậy thì sớm ngoại biên là test kích thích bằng 
GnRH (hoặc test kích thích LHRH). Tại bệnh viện 
Nhi Trung ương, test kích thích bằng GnRH được 
tiến hành bằng cách tiêm dưới da cho bệnh nhi 
Dipherelin (một chất đồng vận GnRH), sau đó 
định lượng hormon LH, FSH và estradiol huyết 
thanh sau các thời điểm 1 giờ, 2 giờ và 3 giờ. 
Kết quả dương tính (hướng đến dậy thì sớm trung 
ương) khi có sự đáp ứng tăng nồng độ của các 
hormon hướng sinh dục mà biểu hiện là LH tăng 
cao hơn FSH và có đỉnh đáp ứng > 5 IU/l. Ở 
bệnh nhi đã mô tả, xét nghiệm nồng độ hormon 
estrogen tăng rất cao (3913 pmol/l) song nồng 
độ FSH, LH cơ sở thấp (đều có giá trị 0,1 IU/L), 
khi thực hiện test kích thích GnRH không có đỉnh 
đáp ứng LH và đáp ứng LH không cao bằng đáp 
ứng FSH (theo bảng số 1). Bởi vậy, cần nghĩ tới 
chẩn đoán dậy thì sớm ngoại biên và tìm nguyên 
nhân như u/nang buồng trứng, u tuyến thượng 
thận, hội chứng McCune – Albright...
Nang buồng trứng là một biểu hiện thường gặp 
ở trẻ gái tại nhiều độ tuổi. Hầu hết các nang buồng 
trứng ở trẻ dậy thì sớm không có ý nghĩa lâm sàng, 
không cần phải điều trị vì sẽ tự biến mất sau thời 
gian theo dõi. Năm 1985, Lyon và cộng sự đã 
tiến hành nghiên cứu trên 9 trẻ gái dưới 7 tuổi để 
tìm hiểu mối liên quan giữa nang buồng trứng với 
những biểu hiện dậy thì sớm thoáng qua. Tác giả 
đã kết luận sự hình thành những nang buồng trứng 
thoái triển tự phát có thể gây ra những biểu hiện 
dậy thì sớm thoáng qua, hầu hết các trường hợp 
đó không cần can thiệp [5]. Theo nghiên cứu được 
thực hiện tại Jordan (2000) trên 65 trẻ gái từ 2 đến 
VŨ BÁ QUYẾT, PHẠM TRÍ HIẾU, NGUYỄN VĂN THẮNG
176
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
9 tuổi được phát hiện nang buồng trứng, 89,2% số 
trẻ có nang buồng trứng tự thoái triển trong vòng 
6 tháng [6]. Tuy nhiên, một số trường hợp nang 
buồng trứng có thể tồn tại kéo dài, tăng kích thước 
và tiếp tục sản xuất estrogen, biểu hiện những dấu 
hiệu dậy thì sớm như phát triển tuyến vú, sưng môi 
bé và xuất hiện kinh nguyệt [5]. 
Theo các tác giả trên thế giới, nang buồng 
trứng là một dấu hiệu có thể gặp ở cả dậy thì 
sớm trung ương và dậy thì sớm ngoại biên khi tiến 
hành siêu âm khảo sát vùng chậu. Nếu buồng 
trứng có nhiều nang noãn nhỏ, kích thước tối đa 
khoảng 10mm thì sự phát triển các nang thường 
là đáp ứng với kích thích của GnRH, gợi ý dậy thì 
sớm trung ương. Mặt khác, nếu chỉ có một nang 
buồng trứng kích thước lớn kèm theo test kích thích 
GnRH âm tính sẽ hướng tới một nang cơ năng hoạt 
động độc lập (nang bọc noãn) thường liên quan 
tới dậy thì sớm ngoại biên, hội chứng McCune – 
Albright [7]. Trong báo cáo của chúng tôi, bệnh 
nhi chỉ phát hiện thấy một nang buồng trứng trái 
kích thước 61x44mm, không quan sát thấy các 
nang nhỏ kèm theo test kích thích GnRH âm tính là 
phù hợp với chẩn đoán dậy thì sớm giả. 
Nang bọc noãn (autonomous ovarian cyst) 
tuy chỉ chiếm 5% số nang buồng trứng gặp ở trẻ 
nữ trước tuổi dậy thì song là một trong những 
nguyên nhân thường gặp của dậy thì sớm không 
phụ thuộc GnRH [7]. Trong những ca bệnh này, 
thường phát hiện mức tăng cao của nồng độ 
hormon estrogen huyết thanh (estradiol) trong khi 
nồng độ của các hormon gonadotropin (FSH và 
LH) cơ sở và sau test kích thích GnRH đều thấp 
[7]. Bên cạnh đó, qua siêu âm vùng chậu thường 
phát hiện nang buồng trứng ở một hoặc hai bên 
buồng trứng. Theo nhiều tài liệu khác nhau, kích 
thước của nang buồng trứng có thể liên quan đến 
tình trạng dậy thì sớm. Theo Millar và cộng sự 
(1993), nang buồng trứng có đường kính dưới 
1cm ở trẻ gái bị dậy thì sớm ít có ý nghĩa quan 
trọng về lâm sàng; trong khi những nang buồng 
trứng liên quan đến dậy thì sớm ngoại biên 
thường có đường kính trên 2cm [7]. Fakhry và 
cộng sự (1988) đã báo cáo sự có mặt có các 
nang bọc noãn kích thước từ 2,2 đến 5,5 cm ở 
3 trẻ gái mắc dậy thì sớm [8]. Mặt khác, một số 
nghiên cứu lại chỉ ra kích thước của nang buồng 
trứng không phải đặc điểm chắc chắn gây ra 
tình trạng tăng tiết hormon estrogen. Sinnecker 
và cộng sự (1999) cho rằng 20% đến 30% các 
nang buồng trứng gây ra tăng kích thước buồng 
trứng nhưng chỉ có số ít trong đó liên quan đến 
tình trạng dậy thì sớm vì ngay cả khi nang có kích 
thước lớn cũng có thể không chế tiết hormon [9]. 
Các khối u buồng trứng, trong đó có u tế bào 
hạt là nguyên nhân hiếm gặp nhất gây ra dậy thì 
sớm ngoại biên song có tiên lượng tồi, bởi vậy cần 
loại trừ loại u này khi chẩn đoán hướng tới nang 
bọc noãn [3]. 
 Ngoài ra, nang bọc noãn có thể là dấu hiệu 
của hội chứng McCune – Albright, nang có thể 
phát triển trước khi những dấu hiệu đặc thù của 
bệnh như vết sắc tố trên da, tổn thương sọ xuất 
hiện. Hội chứng này là hậu quả của đột biến soma 
do khuyết tật gen GNAS1, dẫn đến biến đổi tiểu 
phần alpha của protein Gs và không có tính chất 
di truyền [10]. Rodriguez và cộng sự (1999) khi 
theo dõi 7 trẻ gái bị dậy thì sớm ngoại biên do sự 
tồn tại của nang bọc noãn đã phát hiện 3 trẻ cuối 
cùng đã biểu hiện triệu chứng lâm sàng của hội 
chứng McCune – Albright [11]. Hiện nay, những 
xét nghiệm sinh học phân tử, phân tích gen trên 
DNA có thể giúp phát hiện đột biến gen GNAS1 
và từ đó giúp phát hiện sớm hội chứng McCune – 
Albright trước khi có biểu hiện lâm sàng [10]. 
Theo nhiều nghiên cứu, nang bọc noãn trong 
nhiều trường hợp thường sẽ phát triển giới hạn và 
biến mất, không cần điều trị [3], [10], [11]. Năm 
2008, khi nghiên cứu trên 10 trẻ nữ dậy thì sớm 
ngoại biên do nang bọc noãn, Sousa và cộng sự 
đã ghi nhận được các đặc tính sinh dục phụ tự 
thoái lui ở 9 trẻ mà không cần điều trị, chỉ một 
trường hợp đã phẫu thuật bóc nang do yêu cầu 
của gia đình [3]. Theo một số tác giả, phẫu thuật 
nên chỉ định hạn chế trong trường hợp có biến 
chứng xoắn nang hoặc xuất hiện các đặc tính 
sinh dục phụ hoặc nang không giảm kích thước 
hoặc biến mất sau 3 tháng [3]. Trong ca bệnh đã 
báo cáo ban đầu, bệnh nhi được chỉ định phẫu 
thuật nội soi do sự tồn tại của các biểu hiện dậy 
thì sớm và do nang buồng trứng tăng kích thước 
trong thời gian theo dõi 5 tháng. Thông thường, 
các biểu hiện dậy thì sớm ngoại biên do nang 
bọc noãn thường thoáng qua và sẽ tái phát. Một 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 172 - 177, 2017
177
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
khi tái phát sẽ dẫn đến hậu quả phơi nhiễm với 
hormon estrogen kéo dài và lặp lại, thúc đẩy sự 
chín của trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng, 
khiến dậy thì sớm ngoại biên chuyển biến thành 
dậy thì sớm trung ương. Tình trạng này gọi là dậy 
thì sớm kết hợp và cần điều trị bằng liệu pháp 
GnRH [3]. Sousa (2008) đã ghi nhận trong số 9 
trẻ dậy thì sớm ngoại biên trước đó đã thoái lui 
bệnh, có 3 trẻ bị tái phát, và 2 trong số 3 trẻ đó 
tiến triển thành dậy thì sớm trung ương, điều trị có 
hiệu quả bằng chất đồng vận GnRH [3]. Engiz và 
cộng sự (2009) đã nhấn mạnh vai trò của điều trị 
dậy thì sớm ngoại biên do các nang bọc noãn tái 
phát bằng thuốc ức chế enzym aromatase [12]. 
Tuy vậy, chưa có sự đồng thuận về xử trí các nang 
buồng trứng tái phát ở trẻ dậy thì sớm và cần 
nhiều nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. 
4. Kết luận
Vì các nang bọc noãn gây ra tình trạng dậy 
thì sớm ngoại biên thường thoái triển tự phát và có 
thể tái phát nên cần trì hoãn phẫu thuật lâu nhất 
có thể nhằm tránh nguy cơ phải phẫu thuật lại. 
Nếu phải can thiệp phẫu thuật, cần bảo tồn phần 
buồng trứng lành của bệnh nhi tối đa nhằm đảm 
bảo chức năng sinh sản sau này. Bên cạnh đó, cần 
có kế hoạch theo dõi bệnh nhi lâu dài sau phẫu 
thuật nhằm phát hiện những biểu hiện tái phát, 
chuyển biến thành dậy thì sớm trung ương hoặc 
hội chứng McCune – Albright. 
Tài liệu tham khảo
1. United Press. Five-and-half-year-old mother and baby reported doing 
well. Los Angeles Times. 16 May 1939, p.2.
2. Carel JC, Lahlou N, Roger M et al. Precocious puberty and statural 
growth. Hum Reprod Update. 2004; 10: 135 – 47.
3. Sousa G, Wunsch R, Andler W. Precocious pseudopuberty due to 
autonomous ovarian cysts: a report of ten cases and long-term follow-up. 
Hormones (Athens). 2008; 7(2): 170 – 4. 
4. Jean – Claude C, Najiba L, Marc R et al. Precocious puberty and 
statural growth. Hum Reprod Update. 2004; 10(2): 135 – 147.
5. Lyon AJ, Bruyn RDE, Grant DB. Transient sexual precocity and 
ovarian cysts. Arch Dis Child. 1985; 60(9): 819 – 22. 
6. Qublan HS, Abdel-Hadi J. Simple ovarian cysts: frequency and outcome 
in girls aged 2–9 years. Clin Exp Obstet Gynecol. 2000; 27: 51 – 53.
7. Millar DM, Blake JM, Stringer DA et al. Prepubertal ovarian cyst 
formation: 5 years’ experience. Obstet Gynecol. 1993; 81: 434 – 8.
8. Fakhry J, Khoury A, Kotval PS et al. Sonography of autonomous 
follicular ovarian cysts in precocious pseudopuberty. J Ultrasound Med. 
1988; 7: 597 –603.
9. Sinnecker G, Willig RP, Stahnke N et al. Precocious pseudopuberty 
associated with multiple ovarian follicular cysts and low plasma estradiol 
concentrations. Eur J Pediatr. 1999; 148: 600 – 602.
10. Fritz MA, Speroff L. Normal and abnormal growth and pubertal 
development. 8. Philadelphia (PA): Lippincott, Williams & Wilkins. 2011; 
pp. 391 – 434.
11. Rodriguez - Macias KA, Thibaud E, Houang M et al. Follow up of 
precocious pseudopuberty associated with isolated ovarian follicular 
cysts. Arch Dis Child. 1999; 81: 53 – 56.
12. Engiz O, Berberoglu M, Siklar Z et al. Treatment of autonomous 
ovarian follicular cyst with long-term anastrozole therapy. Indian J Pediatr. 
2009; 76: 950 – 951.

File đính kèm:

  • pdfnhan_mot_truong_hop_day_thi_som_ngoai_bien_do_nang_buong_tru.pdf