Nhân một trường hợp dậy thì sớm ngoại biên do nang buồng trứng
Dậy thì sớm ngoại biên do nang bọc noãn là một rối loạn hiếm gặp
ở trẻ gái. Trong nhiều trường hợp, bệnh thường thoái triển tự phát và
không cần điều trị. Tuy nhiên, nang buồng trứng có thể tăng kích thước,
gây xuất hiện và tồn tại kéo dài các đặc tính sinh dục phụ. Chúng tôi
báo cáo một trường hợp trẻ nữ 42 tháng tuổi nhập viện tại bệnh viện
Phụ sản Trung Ương vì phát triển tuyến vú và ra máu âm đạo lần thứ
hai trong vòng 6 tháng. Trẻ cao 1m05 (nằm trên đường bách phân vị 95
so với tuổi), nặng 19,5 kg (nằm trên đường bách phân vị thứ 97 so với
tuổi). Trẻ được phân loại dậy thì sớm theo Tanner B2P1. Xét nghiệm
máu phát hiện nồng độ estradiol tăng cao và test kích thích GnRH âm
tính. Siêu âm bụng phát hiện nang buồng trứng lớn bên trái. Trẻ được
chỉ định mổ nội soi bóc nang buồng trứng, kết quả giải phẫu bệnh là
nang bọc noãn. Kết luận: chỉ nên phẫu thuật nang buồng trứng trong
trường hợp nang tăng kích thước hoặc các đặc tính sinh dục phụ tồn tại
kéo dài. Bảo tồn chức năng sinh sản tối đa trong khi phẫu thuật và có
kế hoạch theo dõi lâu dài bệnh nhi sau phẫu thuật.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhân một trường hợp dậy thì sớm ngoại biên do nang buồng trứng
VŨ BÁ QUYẾT, PHẠM TRÍ HIẾU, NGUYỄN VĂN THẮNG 172 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 B Á O C Á O T R Ư Ờ N G H Ợ P Vũ Bá Quyết, Phạm Trí Hiếu, Nguyễn Văn Thắng Bệnh viện Phụ Sản Trung ương NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP DẬY THÌ SỚM NGOẠI BIÊN DO NANG BUỒNG TRỨNG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Phạm Trí Hiếu, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 01/03/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/03/2017 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 28/04/2017 Từ khóa: dậy thì sớm ngoại biên, nang buồng trứng. Keywords: precocious pseudopuberty, autonomous ovarian cysts. Tóm tắt Dậy thì sớm ngoại biên do nang bọc noãn là một rối loạn hiếm gặp ở trẻ gái. Trong nhiều trường hợp, bệnh thường thoái triển tự phát và không cần điều trị. Tuy nhiên, nang buồng trứng có thể tăng kích thước, gây xuất hiện và tồn tại kéo dài các đặc tính sinh dục phụ. Chúng tôi báo cáo một trường hợp trẻ nữ 42 tháng tuổi nhập viện tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương vì phát triển tuyến vú và ra máu âm đạo lần thứ hai trong vòng 6 tháng. Trẻ cao 1m05 (nằm trên đường bách phân vị 95 so với tuổi), nặng 19,5 kg (nằm trên đường bách phân vị thứ 97 so với tuổi). Trẻ được phân loại dậy thì sớm theo Tanner B2P1. Xét nghiệm máu phát hiện nồng độ estradiol tăng cao và test kích thích GnRH âm tính. Siêu âm bụng phát hiện nang buồng trứng lớn bên trái. Trẻ được chỉ định mổ nội soi bóc nang buồng trứng, kết quả giải phẫu bệnh là nang bọc noãn. Kết luận: chỉ nên phẫu thuật nang buồng trứng trong trường hợp nang tăng kích thước hoặc các đặc tính sinh dục phụ tồn tại kéo dài. Bảo tồn chức năng sinh sản tối đa trong khi phẫu thuật và có kế hoạch theo dõi lâu dài bệnh nhi sau phẫu thuật. Từ khóa: dậy thì sớm ngoại biên, nang buồng trứng. Abstract PRECOCIOUS PSEUDOPUBERTY ASSOCIATED WITH AUTONOMOUS FOLLICULAR CYSTS – A CASE REPORT Background: Precocious pseudopuberty associated with autonomous follicular cysts is a rare disorder in girls. In many cases, symptoms of this condition usually regress spontanously and may not need treatment. However, these cysts may enlarge and produce estrogen, results in signs of sexual precocity. Here we report a case of precocious pseudopuberty due to an autonomous ovarian follicular cyst. Case presentation: A 3.5-year-old girl was admitted to Nation hospital of Obstetrics and Gynecology because of breast development and vaginal bleeding. The first time she had these symptoms was 6 months TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 172 - 177, 2017 173 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 ago. She was 105cm tall (in the 95th percentile for her age) and weighs 19.5kg (in the 97th percentile for her age). Her pubertal development was classified as Tanner stage 2 breast development and Tanner stage I pubic hair development. Endocrinology examination showed elevated estrogen level and supressed gonadotropin level in GnRH stimulation test. Her pelvic ultrasound showed a large ovarian cyst. Based on these observations, laparoscopy was performed and histologic analysis confirmed the diagnosis of a follicular cyst. Conclusion: Autonomous ovarian cysts that cause precocious pseudopuberty usually resolve spontanously sothat no treatment is necessary. Surgery should only be considered if symptoms of progressed precocious puberty are clear or the cyst increases in size. In surgery, normal ovarian tissue should be preserved for future fertility. Due to the possibility of recurrent, a careful long-term follow up after surgery may be necessary in such cases. Key words: precocious pseudopuberty, autonomous ovarian cysts. 1. Đặt vấn đề Dậy thì sớm là một tình trạng hiếm gặp ở các bệnh nhi với tỷ lệ khoảng 1/5000. Theo định nghĩa phổ biến, dậy thì sớm ở trẻ gái là sự khởi phát các dấu hiệu của dậy thì trước 8 tuổi; trẻ sẽ tăng trưởng chiều cao nhanh và biểu hiện các đặc tính sinh dục thứ phát sớm bao gồm: phát triển tuyến vú, xuất hiện lông mu, lông nách và hành kinh. Tuy biểu hiện sự phát triển vượt trội hơn về chiều cao, cân nặng so với những trẻ khác cùng tuổi song ở tuổi trưởng thành, trẻ dậy thì sớm sẽ có chiều cao thấp hơn bình thường do hiện tượng cốt hóa sớm các đầu xương. Hầu hết các trường hợp dậy thì sớm ở trẻ gái là dậy thì sớm trung ương hay dậy thì sớm phụ thuộc GnRH. Ở những trẻ này, nồng độ hormon GnRH tăng cao do hậu quả của sự hoạt hóa sớm trục nội tiết dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng. Ngược lại, dậy thì sớm giả hay dậy thì sớm ngoại biên kém phổ biến hơn. Các bệnh nhi này khi lấy máu làm xét nghiệm sẽ biểu hiện nồng độ các hormon buồng trứng tăng cao trong khi hormon hướng sinh dục không tăng. Vì vậy, trường hợp này còn được gọi là dậy thì sớm không phụ thuộc GnRH. Dậy thì sớm giả ở trẻ gái được chia làm hai nhóm: dậy thì sớm giả đồng giới và dậy thì sớm giả khác giới. Nguyên nhân hàng đầu gây ra dậy thì sớm giả đồng giới ở trẻ gái là do hội chứng McCune Albright với biểu hiện hành kinh sớm đơn độc, loạn sản xơ xương, có mảng sắc tố màu cà phê sữa trên da, tổn thương xương sọ, mù... Ngoài ra còn có những nguyên nhân ít phổ biến khác như u/nang buồng trứng, u vỏ thượng thận nữ tính hóa... Trái ngược với dậy thì sớm giả đồng giới, dậy thì sớm giả khác giới ở trẻ gái có biểu hiện nam tính hóa cơ quan sinh dục nữ, phì đại âm vật, giọng trầm, phát triển cơ bắp... Nguyên nhân của tình trạng này có thể do bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh, u vỏ thượng thận, u buồng trứng nam tính hóa... Vì vậy, để điều trị dậy thì sớm ngoại biên, cần xử trí nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạng tăng nồng độ các steroid sinh dục như phẫu thuật cắt bỏ khối u buồng trứng, u vỏ thượng thận Nghiên cứu trong và ngoài nước về dậy thì sớm ngoại biên không nhiều như nghiên cứu về dậy thì sớm trung ương. Hơn nữa, do tính chất hiếm gặp, quả chụp XQ khối xương bàn cổ tay cho thấy tuổi xương là 4,5 tuổi (lớn hơn so với tuổi thực 1 tuổi), phim chụp cộng hưởng từ sọ não không phát hiện gì bất thường. Khi siêu âm vùng chậu, bệnh nhi được phát hiện có một nang trống âm bờ đều kích thước 61x44mm tại buồng trứng trái, kích thước tử cung là 38x31mm. Kết quả xét nghiệm nội tiết cho thấy nồng độ hormon estrogen (estradiol) cơ sở tăng cao: 3913 pmol/l (bình thường < 55 pmol/l ở trẻ chưa dậy thì); nồng độ các hormon khác bình thường: progesteron: 1,35 nmol/ml; TSH: 1,81 IU/l; FSH: 0,1 IU/l; LH: 0,1 IU/l; beta hCG < 0,1 IU/l. Test kích thích bằng LHRH cho kết quả âm tính, không có đỉnh LH (kết quả trình bày tại bảng 1). Một số marker khối u buồng trứng cũng được đánh giá: tăng nhẹ Ca 125: 63,6 IU/ml; tăng nhẹ HE4: 89 pmol/l; alpha FP: 0,735 ng/ml trong giới hạn bình thường. Trẻ được chẩn đoán u buồng trứng trái /dậy thì sớm ngoại biên và được chỉ định mổ nội soi để xử trí. Ca mổ đã phát hiện một nang buồng trứng trái kích thước 6cm không có dấu hiệu ác tính (vỏ mỏng, trong chứa dịch trong, không có vách, không có nhú) trong khi tử cung và buồng trứng phải của trẻ cũng lớn hơn bình thường, không có sẹo phóng noãn buồng trứng. Phẫu thuật viên đã tiến hành bóc nang buồng trứng trái, để lại phần lành. Kết quả giải phẫu bệnh là nang bọc noãn. Trẻ nhi hậu phẫu ổn định, ra viện sau 03 ngày, sau đó được tiếp tục theo dõi tại Bệnh viện Nhi Trung Ương, không phải điều trị GnRH. VŨ BÁ QUYẾT, PHẠM TRÍ HIẾU, NGUYỄN VĂN THẮNG 174 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 B Á O C Á O T R Ư Ờ N G H Ợ P các nghiên cứu về tình trạng dậy thì sớm ngoại biên do u/nang buồng trứng lại càng hạn chế về kích cỡ mẫu, thường chỉ dừng lại ở báo cáo ca bệnh hoặc loạt ca bệnh. Nhân một trường hợp bệnh nhi có biểu hiện dậy thì sớm kèm theo nang buồng trứng được phát hiện và điều trị tại khoa Phụ ung thư bệnh viện Phụ sản Trung ương, các tác giả hy vọng có thể chia sẻ kinh nghiệm chẩn đoán và xử trí đối với những trường hợp đặc biệt này. 2. Giới thiệu ca bệnh Trẻ nữ Nguyễn Thị B.H, 3 tuổi 6 tháng, chưa quan hệ tình dục, nhập viện Phụ sản Trung Ương với biểu hiện ra máu âm đạo ngày thứ hai. Tiền sử bệnh tật và quá trình mang thai của mẹ bệnh nhi không phát hiện bất thường. Trẻ đẻ thường, nặng 3,5 kg, khóc tốt. Trẻ bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt từ lúc 3 tuổi 1 tháng kèm phát triển tuyến vú. Tại thời điểm đó, trẻ được khám tại Bệnh viện Nhi Trung ương đã được chụp cộng hưởng từ vùng bụng – chậu phát hiện một khối u buồng trứng (T) dạng nang dịch kích thước 27x14mm; hiện tại hành kinh lần thứ hai. Khám lâm sàng: trẻ có chiều cao, cân nặng lớn hơn giới hạn bình thường so với tuổi: cao 1,05m (nằm trên đường bách phân vị thứ 95 so với tuổi), nặng 19,5 kg (nằm trên đường bách phân vị thứ 97 so với tuổi), chỉ số khối cơ thể BMI: 17,5 (nằm trên đường bách phân vị thứ 93 so với tuổi). Qua khai thác, trẻ đã tăng 12cm chiều cao trong vòng 1 năm qua. Khám phụ khoa: có nụ tuyến vú, đầu vú thâm, chưa có lông mu hay lông nách, hai môi bé thâm, âm đạo ra máu đỏ tươi. Trẻ được phân loại giai đoạn dậy thì sớm B2 P1 theo Tanner. Trẻ đã được tiến hành một số xét nghiệm cận lâm sàng để thăm dò tình trạng dậy thì sớm. Kết Ảnh 1. Hình ảnh tuyến vú của bệnh nhi (B2 theo Tanner) Nồng độ các hormon (IU/l) Sau 1 giờ Sau 2 giờ Sau 3 giờ FSH 0,51 0,6 0,72 LH 0,04 0,02 0,01 Estradiol 94,01 89,75 125,68 Bảng 1. Nồng độ các hormon khi thực hiện test kích thích bằng LHRH Ảnh 2. Hình ảnh nang buồng trứng trái phát hiện được khi mổ nội soi TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 172 - 177, 2017 175 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 3. Bàn luận Dậy thì sớm ở trẻ gái có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, những trẻ này có sự bất tương xứng giữa phát triển thể chất và phát triển tâm thần vận động. Vì trẻ phát triển nhanh hơn, lớn hơn bạn bè cùng trang lứa, cùng lúc phát triển kích thước tuyến vú, xuất hiện lông mu, hành kinh giống như những thiếu nữ có thể khiến cho trẻ sợ hãi, mặc cảm; đồng thời có nguy cơ bị lạm dụng tình dục, có thai sớm. Trong y văn đã ghi lại trường hợp làm mẹ trẻ nhất, đó là bệnh nhi Lena Medina đã sinh con khi mới chỉ 5 tuổi 7 tháng 21 ngày, do hậu quả của dậy thì sớm và quan hệ tình dục sớm [1]. Bên cạnh đó, nồng độ hormon estrogen tăng cao trong dậy thì sớm một mặt làm phát triển xương, mặt khác làm cốt hóa sớm các sụn liên hợp ở đầu xương dài, dẫn đến khống chế mức độ phát triển, làm trẻ khi đạt đến độ tuổi trưởng thành lại có chiều cao thấp hơn người bình thường. Theo nghiên cứu của Carel (2004), dậy thì sớm không được điều trị ở trẻ nữ đã làm giảm chiều cao trung bình tại tuổi trưởng thành tới 12cm [2]. Vì vậy, cần phát hiện kịp thời để điều trị cho các bệnh nhi bị dậy thì sớm, đảm bảo cho sự phát triển bình thường về thể chất và tâm thần vận động cho trẻ. Đứng trước một trường hợp có những biểu hiện gợi ý dậy thì sớm như: phát triển tuyến vú, ra máu âm đạo..., cần xác định rõ các tập hợp triệu chứng hướng tới dậy thì sớm đang thực sự tiến triển hay chỉ là một dấu hiệu đơn độc (xuất hiện lông mu đơn độc hoặc phát triển tuyến vú đơn độc). Từ đó cần thực hiện các xét nghiệm tương ứng để tìm nguyên nhân của tình trạng này. Thông thường, để chẩn đoán dậy thì sớm, thày thuốc cần hỏi tiền sử, bệnh sử, khám lâm sàng tỉ mỉ, đo tuổi xương bằng phim XQ bàn – cổ tay, định lượng nồng độ estradiol huyết thanh, thực hiện test kích thích bằng GnRH và siêu âm khảo sát vùng chậu [3]. Ở bệnh nhi đã báo cáo, các triệu chứng lâm sàng hướng tới dậy thì sớm đang tiến triển như: các chỉ số phát triển chiều cao, cân nặng cao hơn bình thường (chiều cao của trẻ nằm trên đường bách phân vị thứ 95 và cân nặng nằm trên đường bách phân vị thứ 97 so với tuổi), trẻ tăng 12cm chiều cao trong vòng 1 năm, tuổi xương lớn hơn tuổi thực 1 tuổi, phát triển tuyến vú (giai đoạn B2 theo Tanner). Thông thường, trẻ dậy thì sớm đang tiến triển có tăng tốc độ phát triển chiều cao rõ rệt (> 6 cm/năm) và tăng phát triển chiều cao nhiều tháng trước khi phát triển tuyến vú; tuổi xương trên phim XQ lớn hơn tuổi thực của bệnh nhi > 2 năm [4]. Đây đều là những tác dụng của hormon estrogen trên quá trình phát triển xương cũng như cơ quan sinh dục nữ. Ở những trẻ này, nồng độ hormon estradiol ở điều kiện cơ sở tăng cao hơn giá trị trong giai đoạn tiền dậy thì. Tuy vậy, bản thân nồng độ hormon estradiol cơ sở dao động rất lớn và độ đặc hiệu thấp trong chẩn đoán dậy thì sớm nên chỉ có giá trị tham khảo. Một xét nghiệm quan trọng – tiêu chuẩn vàng để phân biệt giữa dậy thì sớm trung ương và dậy thì sớm ngoại biên là test kích thích bằng GnRH (hoặc test kích thích LHRH). Tại bệnh viện Nhi Trung ương, test kích thích bằng GnRH được tiến hành bằng cách tiêm dưới da cho bệnh nhi Dipherelin (một chất đồng vận GnRH), sau đó định lượng hormon LH, FSH và estradiol huyết thanh sau các thời điểm 1 giờ, 2 giờ và 3 giờ. Kết quả dương tính (hướng đến dậy thì sớm trung ương) khi có sự đáp ứng tăng nồng độ của các hormon hướng sinh dục mà biểu hiện là LH tăng cao hơn FSH và có đỉnh đáp ứng > 5 IU/l. Ở bệnh nhi đã mô tả, xét nghiệm nồng độ hormon estrogen tăng rất cao (3913 pmol/l) song nồng độ FSH, LH cơ sở thấp (đều có giá trị 0,1 IU/L), khi thực hiện test kích thích GnRH không có đỉnh đáp ứng LH và đáp ứng LH không cao bằng đáp ứng FSH (theo bảng số 1). Bởi vậy, cần nghĩ tới chẩn đoán dậy thì sớm ngoại biên và tìm nguyên nhân như u/nang buồng trứng, u tuyến thượng thận, hội chứng McCune – Albright... Nang buồng trứng là một biểu hiện thường gặp ở trẻ gái tại nhiều độ tuổi. Hầu hết các nang buồng trứng ở trẻ dậy thì sớm không có ý nghĩa lâm sàng, không cần phải điều trị vì sẽ tự biến mất sau thời gian theo dõi. Năm 1985, Lyon và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 9 trẻ gái dưới 7 tuổi để tìm hiểu mối liên quan giữa nang buồng trứng với những biểu hiện dậy thì sớm thoáng qua. Tác giả đã kết luận sự hình thành những nang buồng trứng thoái triển tự phát có thể gây ra những biểu hiện dậy thì sớm thoáng qua, hầu hết các trường hợp đó không cần can thiệp [5]. Theo nghiên cứu được thực hiện tại Jordan (2000) trên 65 trẻ gái từ 2 đến VŨ BÁ QUYẾT, PHẠM TRÍ HIẾU, NGUYỄN VĂN THẮNG 176 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 B Á O C Á O T R Ư Ờ N G H Ợ P 9 tuổi được phát hiện nang buồng trứng, 89,2% số trẻ có nang buồng trứng tự thoái triển trong vòng 6 tháng [6]. Tuy nhiên, một số trường hợp nang buồng trứng có thể tồn tại kéo dài, tăng kích thước và tiếp tục sản xuất estrogen, biểu hiện những dấu hiệu dậy thì sớm như phát triển tuyến vú, sưng môi bé và xuất hiện kinh nguyệt [5]. Theo các tác giả trên thế giới, nang buồng trứng là một dấu hiệu có thể gặp ở cả dậy thì sớm trung ương và dậy thì sớm ngoại biên khi tiến hành siêu âm khảo sát vùng chậu. Nếu buồng trứng có nhiều nang noãn nhỏ, kích thước tối đa khoảng 10mm thì sự phát triển các nang thường là đáp ứng với kích thích của GnRH, gợi ý dậy thì sớm trung ương. Mặt khác, nếu chỉ có một nang buồng trứng kích thước lớn kèm theo test kích thích GnRH âm tính sẽ hướng tới một nang cơ năng hoạt động độc lập (nang bọc noãn) thường liên quan tới dậy thì sớm ngoại biên, hội chứng McCune – Albright [7]. Trong báo cáo của chúng tôi, bệnh nhi chỉ phát hiện thấy một nang buồng trứng trái kích thước 61x44mm, không quan sát thấy các nang nhỏ kèm theo test kích thích GnRH âm tính là phù hợp với chẩn đoán dậy thì sớm giả. Nang bọc noãn (autonomous ovarian cyst) tuy chỉ chiếm 5% số nang buồng trứng gặp ở trẻ nữ trước tuổi dậy thì song là một trong những nguyên nhân thường gặp của dậy thì sớm không phụ thuộc GnRH [7]. Trong những ca bệnh này, thường phát hiện mức tăng cao của nồng độ hormon estrogen huyết thanh (estradiol) trong khi nồng độ của các hormon gonadotropin (FSH và LH) cơ sở và sau test kích thích GnRH đều thấp [7]. Bên cạnh đó, qua siêu âm vùng chậu thường phát hiện nang buồng trứng ở một hoặc hai bên buồng trứng. Theo nhiều tài liệu khác nhau, kích thước của nang buồng trứng có thể liên quan đến tình trạng dậy thì sớm. Theo Millar và cộng sự (1993), nang buồng trứng có đường kính dưới 1cm ở trẻ gái bị dậy thì sớm ít có ý nghĩa quan trọng về lâm sàng; trong khi những nang buồng trứng liên quan đến dậy thì sớm ngoại biên thường có đường kính trên 2cm [7]. Fakhry và cộng sự (1988) đã báo cáo sự có mặt có các nang bọc noãn kích thước từ 2,2 đến 5,5 cm ở 3 trẻ gái mắc dậy thì sớm [8]. Mặt khác, một số nghiên cứu lại chỉ ra kích thước của nang buồng trứng không phải đặc điểm chắc chắn gây ra tình trạng tăng tiết hormon estrogen. Sinnecker và cộng sự (1999) cho rằng 20% đến 30% các nang buồng trứng gây ra tăng kích thước buồng trứng nhưng chỉ có số ít trong đó liên quan đến tình trạng dậy thì sớm vì ngay cả khi nang có kích thước lớn cũng có thể không chế tiết hormon [9]. Các khối u buồng trứng, trong đó có u tế bào hạt là nguyên nhân hiếm gặp nhất gây ra dậy thì sớm ngoại biên song có tiên lượng tồi, bởi vậy cần loại trừ loại u này khi chẩn đoán hướng tới nang bọc noãn [3]. Ngoài ra, nang bọc noãn có thể là dấu hiệu của hội chứng McCune – Albright, nang có thể phát triển trước khi những dấu hiệu đặc thù của bệnh như vết sắc tố trên da, tổn thương sọ xuất hiện. Hội chứng này là hậu quả của đột biến soma do khuyết tật gen GNAS1, dẫn đến biến đổi tiểu phần alpha của protein Gs và không có tính chất di truyền [10]. Rodriguez và cộng sự (1999) khi theo dõi 7 trẻ gái bị dậy thì sớm ngoại biên do sự tồn tại của nang bọc noãn đã phát hiện 3 trẻ cuối cùng đã biểu hiện triệu chứng lâm sàng của hội chứng McCune – Albright [11]. Hiện nay, những xét nghiệm sinh học phân tử, phân tích gen trên DNA có thể giúp phát hiện đột biến gen GNAS1 và từ đó giúp phát hiện sớm hội chứng McCune – Albright trước khi có biểu hiện lâm sàng [10]. Theo nhiều nghiên cứu, nang bọc noãn trong nhiều trường hợp thường sẽ phát triển giới hạn và biến mất, không cần điều trị [3], [10], [11]. Năm 2008, khi nghiên cứu trên 10 trẻ nữ dậy thì sớm ngoại biên do nang bọc noãn, Sousa và cộng sự đã ghi nhận được các đặc tính sinh dục phụ tự thoái lui ở 9 trẻ mà không cần điều trị, chỉ một trường hợp đã phẫu thuật bóc nang do yêu cầu của gia đình [3]. Theo một số tác giả, phẫu thuật nên chỉ định hạn chế trong trường hợp có biến chứng xoắn nang hoặc xuất hiện các đặc tính sinh dục phụ hoặc nang không giảm kích thước hoặc biến mất sau 3 tháng [3]. Trong ca bệnh đã báo cáo ban đầu, bệnh nhi được chỉ định phẫu thuật nội soi do sự tồn tại của các biểu hiện dậy thì sớm và do nang buồng trứng tăng kích thước trong thời gian theo dõi 5 tháng. Thông thường, các biểu hiện dậy thì sớm ngoại biên do nang bọc noãn thường thoáng qua và sẽ tái phát. Một TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 172 - 177, 2017 177 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 khi tái phát sẽ dẫn đến hậu quả phơi nhiễm với hormon estrogen kéo dài và lặp lại, thúc đẩy sự chín của trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng, khiến dậy thì sớm ngoại biên chuyển biến thành dậy thì sớm trung ương. Tình trạng này gọi là dậy thì sớm kết hợp và cần điều trị bằng liệu pháp GnRH [3]. Sousa (2008) đã ghi nhận trong số 9 trẻ dậy thì sớm ngoại biên trước đó đã thoái lui bệnh, có 3 trẻ bị tái phát, và 2 trong số 3 trẻ đó tiến triển thành dậy thì sớm trung ương, điều trị có hiệu quả bằng chất đồng vận GnRH [3]. Engiz và cộng sự (2009) đã nhấn mạnh vai trò của điều trị dậy thì sớm ngoại biên do các nang bọc noãn tái phát bằng thuốc ức chế enzym aromatase [12]. Tuy vậy, chưa có sự đồng thuận về xử trí các nang buồng trứng tái phát ở trẻ dậy thì sớm và cần nhiều nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. 4. Kết luận Vì các nang bọc noãn gây ra tình trạng dậy thì sớm ngoại biên thường thoái triển tự phát và có thể tái phát nên cần trì hoãn phẫu thuật lâu nhất có thể nhằm tránh nguy cơ phải phẫu thuật lại. Nếu phải can thiệp phẫu thuật, cần bảo tồn phần buồng trứng lành của bệnh nhi tối đa nhằm đảm bảo chức năng sinh sản sau này. Bên cạnh đó, cần có kế hoạch theo dõi bệnh nhi lâu dài sau phẫu thuật nhằm phát hiện những biểu hiện tái phát, chuyển biến thành dậy thì sớm trung ương hoặc hội chứng McCune – Albright. Tài liệu tham khảo 1. United Press. Five-and-half-year-old mother and baby reported doing well. Los Angeles Times. 16 May 1939, p.2. 2. Carel JC, Lahlou N, Roger M et al. Precocious puberty and statural growth. Hum Reprod Update. 2004; 10: 135 – 47. 3. Sousa G, Wunsch R, Andler W. Precocious pseudopuberty due to autonomous ovarian cysts: a report of ten cases and long-term follow-up. Hormones (Athens). 2008; 7(2): 170 – 4. 4. Jean – Claude C, Najiba L, Marc R et al. Precocious puberty and statural growth. Hum Reprod Update. 2004; 10(2): 135 – 147. 5. Lyon AJ, Bruyn RDE, Grant DB. Transient sexual precocity and ovarian cysts. Arch Dis Child. 1985; 60(9): 819 – 22. 6. Qublan HS, Abdel-Hadi J. Simple ovarian cysts: frequency and outcome in girls aged 2–9 years. Clin Exp Obstet Gynecol. 2000; 27: 51 – 53. 7. Millar DM, Blake JM, Stringer DA et al. Prepubertal ovarian cyst formation: 5 years’ experience. Obstet Gynecol. 1993; 81: 434 – 8. 8. Fakhry J, Khoury A, Kotval PS et al. Sonography of autonomous follicular ovarian cysts in precocious pseudopuberty. J Ultrasound Med. 1988; 7: 597 –603. 9. Sinnecker G, Willig RP, Stahnke N et al. Precocious pseudopuberty associated with multiple ovarian follicular cysts and low plasma estradiol concentrations. Eur J Pediatr. 1999; 148: 600 – 602. 10. Fritz MA, Speroff L. Normal and abnormal growth and pubertal development. 8. Philadelphia (PA): Lippincott, Williams & Wilkins. 2011; pp. 391 – 434. 11. Rodriguez - Macias KA, Thibaud E, Houang M et al. Follow up of precocious pseudopuberty associated with isolated ovarian follicular cysts. Arch Dis Child. 1999; 81: 53 – 56. 12. Engiz O, Berberoglu M, Siklar Z et al. Treatment of autonomous ovarian follicular cyst with long-term anastrozole therapy. Indian J Pediatr. 2009; 76: 950 – 951.
File đính kèm:
nhan_mot_truong_hop_day_thi_som_ngoai_bien_do_nang_buong_tru.pdf

