Nhân một trường hợp: cắt rộng u ác và tạo hình một thì ở vùng cẳng tay
Sarcom phần mềm là bệnh lý ác tính hiếm gặp, thường xuất hiện ở chi thể hơn
là vùng khác. Điều trị đa mô thức sarcom mô mềm có sự kết hợp giữa xạ trị, hóa
trị và phẫu thuật, trong đó phẫu thuật cắt u triệt để đóng vai trò chủ đạo. Phẫu
thuật tạo hình kết hợp với cắt u triệt có thể làm giảm tỉ lệ đoạn chi trong những
trường hợp u chi lớn, phức tạp mà không ảnh hưởng đến tỉ lệ tái phát hay sống
còn. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ, 58 tuổi, phát hiện u vùng
cẳng tay trái bốn năm, đã được phẫu thuật cắt u bốn lần tại bệnh viện tuyến trước
với chẩn đoán không rõ, nhập viện với tình trạng u tái phát lớn khoảng 12x15 cm.
Bệnh nhân được phẫu thuật cắt u triệt để và tạo hình bằng vạt tự do trong cùng một thì
Bạn đang xem tài liệu "Nhân một trường hợp: cắt rộng u ác và tạo hình một thì ở vùng cẳng tay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhân một trường hợp: cắt rộng u ác và tạo hình một thì ở vùng cẳng tay
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu 287 Đậu Thanh Phong* Đỗ Phước Hùng** Lê Thị Lan Anh* *Khoa CTCH, Bệnh Viện Chợ Rẫy **Chủ nhiệm bộ môn CTCH Đại Học Y Dược TP HCM, Phó Khoa CTCH Bệnh Viện Chợ Rẫy Dau Thanh Phong Do Phuoc Hung Le Thi Lan Anh NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP: CẮT RỘNG U ÁC VÀ TẠO HÌNH MỘT THÌ Ở VÙNG CẲNG TAY TÓM TẮT Sarcom phần mềm là bệnh lý ác tính hiếm gặp, thường xuất hiện ở chi thể hơn là vùng khác. Điều trị đa mô thức sarcom mô mềm có sự kết hợp giữa xạ trị, hóa trị và phẫu thuật, trong đó phẫu thuật cắt u triệt để đóng vai trò chủ đạo. Phẫu thuật tạo hình kết hợp với cắt u triệt có thể làm giảm tỉ lệ đoạn chi trong những trường hợp u chi lớn, phức tạp mà không ảnh hưởng đến tỉ lệ tái phát hay sống còn. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ, 58 tuổi, phát hiện u vùng cẳng tay trái bốn năm, đã được phẫu thuật cắt u bốn lần tại bệnh viện tuyến trước với chẩn đoán không rõ, nhập viện với tình trạng u tái phát lớn khoảng 12x15 cm. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt u triệt để và tạo hình bằng vạt tự do trong cùng một thì. Từ khóa: u sarcom mô mềm, phẫu thuật cắt u triệt để, tạo hình. ABTRACT Soft tissue sarcoma is uncommon malignant tumor, more frequent in limbs than other anatomy place. The current management of sarcomas includes surgery, radiation, and chemotherapy. However, surgery remains the key component of therapy. The surgical treatment was based on local radical surgery supported by primary reconstructive surgery decreases amputation rate in huge or complicated limb soft tissue sarcomas without effect of survival or recurrent rate outcomes. Case report is fifty-eight years old female patient had a tumor in left hand four years, was treated by surgery four times in local hospitals with unclear diagnosis, aid our hospital with 12x15 cm recurrent tumor. Patient was treated by radical surgery and reconstructed with free flap. Key words: soft tissue sarcoma, radial surgery, reconstruction. I. ĐẶT VẤN ĐỀ U sarcom tương đối hiếm gặp (chiếm khoảng 1% các loại u ác), trong đó 80% có nguồn gốc từ mô mềm và 20% có nguồn gốc từ xương. U sarcom xuất phát từ tế bào trung mô, là tế bào có khả năng biệt hóa thành các tế bào xương, sụn, cơ, mỡ, nội mạc, thần kinh ngoại biên . Ngày nay, có hơn năm mươi dạng u sarcom mô mềm được tìm thấy. Phân độ mô học u sarcom mô mềm được phân làm 3 độ với mức ác tính tăng dần, độ 1: biệt hóa rõ; độ 2: qui ước; độ 3: biệt hóa kém. U sarcom mô mềm có thể phát triển ở tất cả mọi nơi trong cơ thể, nhưng tần suất xuất hiện ở chi thể là nhiều hơn, đặc biệt là chi dưới. Lứa tuổi xuất hiện bệnh từ 20 đến 60 tuổi, tuy nhiên u có TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 288 thể phát triển ở trẻ sơ sinh. [1],[3],[5],[10] Chỉ định xạ trị phối hợp khi phân độ mô học u là G2, G3; u ở vị trí sâu; kích thước bề mặt lớn hơn 5 cm hoặc bờ phẫu thuật không đảm bảo an toàn [2], [6], [11]. Hóa trị liệu đơn độc chưa được chứng minh là có hiệu quả trên u sarcom mô mềm [12]. Phẫu thuật cắt u triệt để là phương pháp điều trị quan trọng nhất. Tuy nhiên cắt u triệt để có thể đưa đến các biến chứng như mất mô rộng; thiếu máu nuôi phần mềm xung quanh do cố gắng khâu kéo; lộ các cấu trúc quí như thần kinh, mạch máu, gân, xương khớp; tạo các khoảng chếtđòi hỏi phẫu thuật tạo hình tiếp theo. II. BÁO CÁO MỘT CA LÂM SÀNG Bệnh nhân nữ, 58 tuổi,nghề nghiệp làm nông, địa chỉ Giồng Trôm, Bến Tre. Cách nhập viện 4 năm bệnh nhân thấy nổi một khối u ở vùng bờ quay, 1/3 giữa cẳng tay trái, u mật độ chắc, giới hạn rõ, kích thước khoảng 1,5x2 cm, không đau. 1 năm sau, bệnh nhân cắt u tại bệnh viện huyện. Khoảng 6 tháng sau phẫu thuật u tái phát tại vị trí cũ với tính chất tương tự, kích thước khoảng 2 x 3 cm, bệnh nhân được phẫu thuật lần 2 tại bệnh viện tỉnh. Sau 1 năm u tái phát với kích thước khoảng 2 x 4 cm, được mổ cắt lần 3 u tại bệnh viện tỉnh. Khoảng 1 năm sau, u tái phát với kích thước 4 x 4 cm, bệnh nhân mổ cắt u tại bệnh viện tư, vết thương được khâu kín. Sau 1 năm u tái phát thành 3 khối xung quanh sẹo mổ với kích thước lớn. 1. Khám bệnh: tay trái - Ở bờ quay, 1/3 giữa cẳng tay trái có 3 khối u với kích thước lần lượt là 5,4 x 6,4 cm; 5,8 x 4,3 cm; 5,8 x 3,8 cm, mật độ chắc, giới hạn tương đối rõ, di động kém, đau ít, xung quanh sẹo mổ cũ dài 7,5 cm. - Vận động cổ bàn tay, khớp khuỷu, sấp ngữa cẳng tay trong giới hạn bình thường. Mạch quay rõ, test Allen (+), đầu ngón tay hồng, cảm giác nông sâu vùng bàn tay bình thường. - Hạch nách, cổ (-). 2. Chẩn đoán hìn ảnh y học: bệnh nhân được chụp X-quang, cộng hưởng từ, xạ hình Xương, DSA. 3. Kết quả sinh thiết kim u: sarcom sợi biệt hoá cao. 4. Chẩn đoán: sarcom sợi biệt hoá cao kích thước 8 x 15 cm, giai đoạn T2b, N0, M0 vùng cẳng tay trái. Hình 1: Hình ảnh u vùng cẳng tay trái Hình 2: Chụp DSA khảo sát hệ mạch máu tay trái 5. Qui trình phẫu thuật: - Bệnh nhân mê nội khi quản,nằm ngữa, dạng tay trái, garo cánh tay trong 2 giờ, kê mông phải. Tiến hành phẫu thuật với 2 ekip riêng biệt, ekip bóc u và ekip lấy Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu 289 vạt bì đùi trước ngoài bên phải với kích thước vạt lấy 8 x 20 cm. Khi bóc u, thấy phần lớn u nằm ở lớp da, mô dưới da, một phần u dính vào cơ cánh tay quay và có thần kinh bì cẳng tay đi xuyên qua, quyết định cắt bỏ cơ cánh tay quay và thần kinh bì cẳng tay. Sau khi bóc trọn u, bờ phẫu thuật an toàn được kiểm tra bằng 8 mẫu sinh thiết lạnh, 6 mẫu ở rìa và 2 mẫu ở đáy. Nền mô sau bóc u lộ phần lớn các cấu trúc vùng cẳng tay, chỉ còn cầu da khoảng 4 cm che phủ cơ gấp duỗi cổ tay trụ và bó mạch thần kinh trụ. - Nối cuống mạch vạt da vào bó mạch quay với kỹ thuật nối tận-bên. Sau nối vạt da hồng ấm, còn hở da khoảng 3 x 6 cm, được che phủ bằng ghép da dày. Vùng cho da được khâu da kín thì 2. - Cuộc phẫu thuật kéo dài 6 tiếng, lượng máu mất không đáng kể. hậu phẫu không biến chứng, bệnh nhân xuất viện sau 5 ngày. 6. Kết quả giải phẫu bệnh: - Căn cứ trên kích thước u - Độ dương tính Ki67 (++) - Thông tin cho biết từ lâm sàng - Markers cho bản chất tế bào NSE (+++) và Vimentin (++) - Sarcoma thần kinh biệt hóa cao, độ ác thấp (well differentiated neurosarcoma, low grade) - Biệt chú: u có thể tái phát Hình 3: Nền mô sau bóc u Hình 4: Cẳng tay sau che phủ bằng vạt bì đùi trước ngoài và ghép da dày bổ sung 7. Tái khám ngày 16/2/2016: vết mổ lành tốt, không giới hạn vận động, tê nhẹ vùng 2 x 3 cm cạnh ngoài mô cái. Hình 5: Cẳng tay trái hậu phẫu 40 ngày Hình 6: Sẹo mổ nơi cho vạt TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 290 III. BÀN LUẬN Trong trường hợp này, u tái phát sau 4 lần phẫu thuật với kích thước rất lớn, độ sâu phức tạp, ảnh hưởng đến khả năng bảo tồn chi, nên chúng tôi quyết định tạo hình che phủ bằng vạt tự do một thì. Do tính chất phức tạp của 2 cuộc mổ trong một nên cần sự phối hợp tốt giữa 2 ekip phẫu thuật. Hậu phẫu vạt da sống 100%, vết thương lành tốt, có biến chứng tê nhẹ vùng ngón cái do cắt thần kinh bì cẳng tay. Kết quả bước đầu có thể là một minh chứng cho hiệu quả điều trị của cắt rộng và tạo hình một thì sarcom rộng chi. Trên bệnh nhân này, không đặt vấn đề xạ trị hậu phẫu do bản chất mô học không nhạy tia xạ. Bệnh nhân được tái khám mỗi 3-6 tháng trong 2 năm đầu, theo dõi bằng MRI sau 1 năm phẫu thuật. Y văn chưa ghi nhận phẫu thuật tạo hình trong điều trị ung thư ảnh hưởng đến tiên lượng sống còn, sự so sánh khả năng sống 5 năm hoặc 10 năm giữa 2 nhóm cắt u có tạo hình đi kèm hoặc không là rất khó chính xác do nhóm cắt u có chỉ định tạo hình là những u có kích thước lớn, phức tạp, trong khi nhóm còn lại có kích thước u nhỏ, đơn giản, ở vị trí nông. Các nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ tạo hình bằng vạt tự do trong phẫu thuật điều trị u sarcom mô mềm chiếm tỉ lệ từ 7% đến 13% bên cạnh các phương pháp che phủ đơn giản hơn vạt xoay tại chổ, vạt xoay có cuống, ghép da.[4],[7],[8],[10] Phẫu thuật tạo hình phối hợp trong điều trị cắt u mang lại những bước tiến vượt bậc như làm giảm tỉ lệ cắt cụt chi, mở rộng chỉ định cắt u triệt để ở vùng đầu mặt cổ, thân mình. Tạo hình một thì giúp che phủ ngay các cấu trúc quan trọng như thần kinh, mạch máu, gân, xương, khớp, ngăn ngừa các khoảng chết, tránh thiếu máu nuôi mô xung quanh vết thương do khâu kéo [9]. Hiện nay bảo tồn chi và chức năng chi trở thành tiêu chuẩn điều trị trong những u sarcom vùng chi thể bên cạnh tiêu chuẩn tỉ lệ sống còn trong bệnh lý này. IV. KẾT LUẬN Đối với u sarcom mô mềm, phẫu thuật cắt u triệt để là phương pháp điều trị trọng tâm. Để đảm bảo bờ phẫu thuật an toàn, phẫu thuật viên phải loại bỏ tối đa phần mô nghi ngờ. Tạo hình thì đầu giúp che phủ ngay nền cắt u,lành vết thương sinh lý, tăng chỉ định cắt rộng u khả thi, tăng tỉ lệ bảo tồn chi, tạo thuận lợi cho điều trị xa trị hậu phẫu. Tài liệu tham khảo 1/ Lê Chí Dũng (2000) “Bướu xương: lâm sàng-hình ảnh y học- giải phẫu bệnh và điều trị” nhà xuất bản Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh 2/ Alektiar KM, Velasco J, Zelefsky MJ et al (2000) “Adjuvant radiotherapy for margin-positive high grade soft tissue sarcoma of the extremity”. Int JRadiat Oncol Biol Phys 48:1051–1058 3/ Christopher D.M. Fletcher K. Krishnan Unni Fredrik Mertens “Pathology and Genetics of Tumours of Soft Tissue and Bone” Published by IARC Press, International Agency for Research on Cancer, 150 cours Albert Thomas, F-69008 Lyon, France 4/ DeVita VT, Hellman S, Rosenberg SA (1997) “Cancer: principles and practice of oncology” 5th edn. Lippincott- Raven, Philadelphia 5/ Fletcher CDM (2002) “Pathology and genetics of tumours of soft tissue and bone”. In: Unni KK, Mertens F (eds) World Health Organization classification of tumours. IARC Press, Lyon, pp 12–18 6/ Kim YB, Shin KH, Seong J et al (2008) “Clinical significance of margin status in postoperative radiotherapy for extremity and truncal soft-tissue sarcoma”. Int J Radiat Oncol Biol Phys 70:139–14 7/ Kristen M. Davidge (2010) “Function and Health Status Outcomes Following Soft Tissue Reconstruction for Limb Preservation in Extremity Soft Tissue Sarcoma” Ann Surg Oncol 17:1052–1062 DOI 10.1245/s10434-010-0915-5 8/ Mark E. Puhaindran (2010) “PartialHand Preservation for Large Soft Tissue Sarcomas of theHand” J Hand Surg 2010;35A:291–295. Copyright © 2010 by the American Society for Surgery of the Hand. All rights reserved. 9/ Hansen SL, Mathes SJ (2006) “Problem wounds and principles of closure” In: Mathes JS (ed.) Plastic surgery. Vol. 1: General principles, 2nd. Saunders, Philadelphia. pp 901-1030 10/ Juan María Viñals Viñals (2011) “The role of plastic surgery in sarcoma treatment” Clin Transl Oncol 13:102-108 DOI 10.1007/s12094-011-0626-9 11/ Jieun Lee and et (2012) “Treatment outcome of conservative surgery plus postoperative radiotherapy for extremity soft tissue sarcoma” Radiat Oncol J 2012;30(2):62- 69 pISSN 2234- 1900 • eISSN 2234-3156 12/ Woll PJ and et (2012) “Adjuvant chemotherapy with doxorubicin, ifosfamide, and lenograstim for resected soft- tissue sarcoma (EORTC 62931): a multicentre randomised controlled trial.”Lancet Oncol. 2012 Oct;13(10):1045-54. doi: 10.1016/S1470-2045(12)70346-7. Epub 2012 Sep 4.
File đính kèm:
nhan_mot_truong_hop_cat_rong_u_ac_va_tao_hinh_mot_thi_o_vung.pdf

