Nhân một trường hợp bướu chu bào phổi trái tái phát (Hemangiopericytoma)

Bướu mạch máu chu bào phổi

(Hemangioperi cytoma) rất hiếm. Chúng tôi gặp

đầu tiên trường hợp trên. Định bệnh ban đầu

không được mà gọi là bướu lành tính nên cho

bệnh nhân về. Hơn 10 năm sau, bướu tái phát nên

bệnh nhân nhập viện lại.

Bệnh nhân Trần thị Kim H, sanh năm 1970,

có chồng và 4 con, làm ruộng ở An thới Đông,

huyện Cần Giờ, nhập viện ngày 26/9/2019 vì

bướu phổi trái tái phát. BN chỉ có triệu chứng

nhức đầu, chóng mặt 2 năm gần đây sau 10 năm

mổ phổi tại BV Bình Dân . Khám không thấy gì

lạ, ngoài bướu phổi trái. Các xét nghiệm đều bình

thường, ngoài ra hơi thiếu máu

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nhân một trường hợp bướu chu bào phổi trái tái phát (Hemangiopericytoma)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhân một trường hợp bướu chu bào phổi trái tái phát (Hemangiopericytoma)

Nhân một trường hợp bướu chu bào phổi trái tái phát (Hemangiopericytoma)
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 50
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BƯỚU CHU BÀO PHỔI TRÁI TÁI PHÁT 
(HEMANGIOPERICYTOMA) 
Văn Tần**, Văn Hùng Dũng**, Nguyễn Văn Việt Thành*, Đoàn Hùng Dũng*, Dương Thanh Hải* 
TÓM TẮT 
A CASE OF RECUR 
HEMANGIOPERICYTOMA OF THE LUNG 
SUMMARY 
* Bệnh viện Bình Dân 
** ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch 
Người chịu trách nhiệm khoa học: GS Văn Tần 
Ngày nhận bài: 01/02/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 23/03/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
Bướu mạch máu chu bào phổi 
(Hemangioperi cytoma) rất hiếm. Chúng tôi gặp 
đầu tiên trường hợp trên. Định bệnh ban đầu 
không được mà gọi là bướu lành tính nên cho 
bệnh nhân về. Hơn 10 năm sau, bướu tái phát nên 
bệnh nhân nhập viện lại. 
Bệnh nhân Trần thị Kim H, sanh năm 1970, 
có chồng và 4 con, làm ruộng ở An thới Đông, 
huyện Cần Giờ, nhập viện ngày 26/9/2019 vì 
bướu phổi trái tái phát. BN chỉ có triệu chứng 
nhức đầu, chóng mặt 2 năm gần đây sau 10 năm 
mổ phổi tại BV Bình Dân . Khám không thấy gì 
lạ, ngoài bướu phổi trái. Các xét nghiệm đều bình 
thường, ngoài ra hơi thiếu máu. 
Ban đầu tính mổ nội soi nhưng không được 
vì gây mê phổi trái không xẹp. 1 tuần sau quyết 
định mổ lại, lần nầy mổ mở. Lúc mổ thấy bướu 
dinh thành ngực và phổi, nên sau khi gở dính, cắt 
bỏ bướu, khâu cầm máu bằng Vicyl 3.0. Đóng 
ngực và dẫn lưu màng phổi. Sau mổ, diễn tiến 
bình thường và nằm viện 15 ngày. Giải phẫu bệnh 
mô bướu: lần đầu sinh thiết qua hướng dẫn 
MSCT, thấy ung thư không tế bào nhỏ, biệt hóa 
kém ; lần mổ làm sinh thiết với kết quả lympho tế 
bào lớn ; lần thứ ba với kỹ thuật hóa mô miễn 
dịch cho kết quả là bướu mạch chu bào phổi (lung 
hemangiopericytoma).Chúng tôi cân nhắc hóa trị 
cho bệnh nhân hay không. 
Hemangiopericytoma, of the lung is seldom 
ever bengin or malignant. We met a 
hemangiopericytoma firstly in the lung. The 
diagnosis at that time is vascular tumor, it is 
benign so no chemotherapy. About over 10 years, 
the tumor recur, so the patient come back. 
Patient Tran thi Kim H., date naissance 
1970, mariage with 4 children, farmer. Live at 
An thoi Đong, Can Gio district, admitted 
26/9/2019, by recurrent tumor of the left lung. 
After 10 years of lung operation, patient has 
symptom of headache and vertiginous in two 
recent years. At Binh Dan hospital, in 
examination, no is abnormal except the tumor of 
the inferior left lung. Labo data is normal, except 
a mild anemia. 4 
Firstly, we decide remove the tumor by 
thoracotomy, but the left lung cannot be deflated 
so the operation is postponed. A week after, a left 
thoracotomy, we saw the tumor adhere to the 
thoracic wall and to the left lung; when we 
dissected the tumor was ruptured. We removed 
all of tumor with a partial left inferior lung and 
vascular control with Vicryl 3.O. We drain and 
close the thorax. Post- operation was stable and 
patient was discharged after 15 days . 
Từ khóa: Bướu mạch chu bào phổi 
(hemangiocytoma) 
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BƯỚU CHU BÀO PHỔI TRÁI TÁI PHÁT... 
 51
(Hemangioperi cytoma) rất hiếm. Chúng tôi gặp 
đầu tiên trường hợp trên. Định bệnh ban đầu 
không được mà gọi là bướu lành mạch máu nên 
mổ xong, cho bệnh nhân về. Hơn 10 năm sau, 
bướu tái phát nên bệnh nhân nhập viện lại. 
 Bệnh nhân Trần thị Kim H, 1970, số lưu 
trữ 2019/24341. Ở An Thới Đông, Cần Giờ, TP 
HCM. Nhập viện ngày 26/9/2019, vì bướu thùy 
dưới phổi trái tái phát. Đã mổ cắt bướu phổi trái 
năm 2009 tại BV BD. BN đã điều trị tại BV Ung 
bướu, TP HCM 20 ngày, MSCT phát hiện bướu 
mạch máu nên chuyển BV Bình Dân. 
 Bệnh sử: Trong khoảng 2 năm, BN bị 
chóng mặt, nhức đầu, sụt cân, đau lưng. Chụp CT 
tại Hòa Hảo, phát hiện bướu ở phổi, dạng mạch 
máu. BN sanh 4 con, mổ triệt sản năm 30 tuổi. 
 Lần mổ đầu, mở ngực trái, cắt bướu, 
nằm viện 14 ngày. Giải phẫu bệnh: bướu lành nên 
cho về, không hóa trị. Từ lúc về đến nay, không 
triệu chứng. 2 năm gần đây, người hay nóng lạnh, 
2 tháng nay, thường bị cảm sốt, không đau ngực. 
Hiện tại, bướu tái phát ở thùy dưới, trên 10 năm, 
không đau, chỉ khó chịu ngực bên trái. Khám 
bệnh viện huyện Cần Giờ khuyên lên BV Bình 
Dân để mổ. 
Hình 1: X quang phổi năm 2008 
Là phụ nữ vóc dáng vừa phải, ngực trái có 
sẹo vết mổ qua liên sườn 5-6 dài từ đường ngực 
trước ra đường ngực sau, có gãy xương sườn 6 do 
đặt dụng cụ banh ngực. Lần đầu, mở ngực trái, 
cắt bướu từng mảnh, lấy sạch, rửa xoang màng 
phổi, đóng ngực, đặt dẫn lưu. 3 ngày sau mổ rút 
dẫn lưu, vết mổ lành, phổi nở tốt. 7 ngày sau, giải 
phẫu bệnh cho biết mô bướu lành tính nên không 
cho hóa trị. Hơn 10 năm, bệnh nhân không có 
triệu chứng gì về phổi nên không tái khám.2 năm 
gần đây, người bệnh thấy nhức đầu, chóng mặt và 
1 tuần trước, vì khó chịu bên ngực trái nên đến 
khám bệnh BV huyện Cần Giờ, chụp phổi thấy 
bướu ở đáy phổi trái, chuyển BV Bình Dân. 
Key word: Hemangiopericytoma. 
I. CA LÂM SÀNG 
Bướu mạch máu chu bào phổi 
Biopsy with MSCT, the diagnosis is 
undifferentiated non small cell lung cancer. But 
at opened operation, the diagnosis is lymphocyte 
with big cell B. After that, the diagnosis is 
hemangiopericytoma of the lung 
(immunohistochemistry test). For this patient, we 
hesite the chemotherapic treatment or not. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 52
Chụp CT 32 dãy có tiêm thuốc cản quang, 
thực hiện các lớp cắt liên tục dày 03 mm qua 
vùng ngực. Vùng đáy phổi trái có tổn thương đậm 
độ mô D = 17 x 22 mm, tăng quang mạnh sau 
tiêm cản quang vùng màng phổi đáy phổi trái. 
Không có tổn thương khác. Chẩn đoán ban đầu là 
theo dõi bướu màng phổi đáy phổi trái. 
Hình 2: 
A: MSCT lần mổ đầu: Khối bướu rất lớn ở phổi trái, chiếm hết lồng ngực trái 
B: khối bướu đẩy trung thất qua phải. Khối bướu đậm độ không đều, có mạch máu lớn gần kề 
bên trong nên nghĩ là bướu mạch máu (Hemangioma). 
C: BN Trần thi Kim H, 1970 ; D: Seo trên đường mở ngực cũ 
Khoa lồng ngực đã cho làm xét nghiệm, 
không thấy các tổn thương khác, trừ bướu ở dưới 
thành ngực trái. Thử máu: nhóm máu B, Hct 
37,2%, HGB 11,1 g/dL, Bạch cầu 12,24K/uL, 
PLT 265 K/uL, (9/10/2019). Sau mổ bạch cầu 
18,32 K/ul, PLT 313 K/ul (10/10/019). Ion đồ 
Na+ 134, K+ 4.1, Cl – 100, Ca ++ 106 mmol/L 
Nước tiểu: bình thường. Đàm: không thấy trực 
trùng kháng acid alcool (27/9/2019). SA doppler 
tim: EF 74%. ECG Nhịp xoang. Chức năng phổi: 
C 
A B
C D 
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BƯỚU CHU BÀO PHỔI TRÁI TÁI PHÁT... 
 53
bình thường, X quang ngực: gãy cũ xương sườn 
5-6 trái , mờ không đồng nhất đáy phổi trái, nghi 
ngờ là khối u.(7/10/2019) . Sinh thiết xuyên thành 
ngực dưới hướng dẫn MSCT với kết quả GPB: 
Carcinoma tuyến biệt hóa kém . 
Phẫu thuật lại ngày 17/10/2019 với phương 
pháp vô cảm: Mê NKQ. (Equipe mổ : GS Văn 
Tần, BS Nguyễn văn Việt Thành, BS Đòan Hùng 
Dũng; BS Gây mê: Nguyễn Cao Thúy Hằng, Tôn 
Thất Hùng). 
Lý do phẫu thuật: Cắt bướu và 1 phần thùy dưới phổi trái 
Hình 3: X quang ngực thẳng và MSCT cho thấy bướu tái phát ở ngực trái 
Tư thế BN: nằm nghiêng phải 90 độ. Rạch 
da: Đường bên dài 12 cm theo đường cũ . Mở 
khoang liên sườn 5-6, vào ngực. Phổi dính nhiều 
vào thành ngực và phổi trái. Gở dính phổi vì 
bướu dính chặt vào thành ngực, bóc tách khó 
khăn gây vỡ bướu. Cắt trọn bướu và 1 phần thùy 
dưới phổi trái. Cầm máu cẩn thận, Khâu bằng 
Vicryl 3.0. Đặt dẫn lưu màng phổi . Thời gian 
phẫn thuật 100 phút, máu mất khoảng 200 ml. 
Ban đầu mổ nội soi không thành do không 
thể làm xẹp phổi trái, phải hoản mổ. 1 tuần sau, 
lên lịch mổ lại. Đặt ống NG, chuẩn bị mổ mở vì 
thành ngực đã mổ lần trước nên phổi dính. 
Giải phẫu bệnh mô bướu: Bướu lympho B . 
Làm hóa mô miển dịch: Bướu mạch chu bào của 
phổi (hemangiopericytoma) 
II. BÀN LUẬN 
Bướu mạch chu bào phổi là u hiếm, có thể là 
lành hay ác [1, 2, 3]. Lần đầu, cắt bỏ bướu, không 
hóa trị vì định bệnh mô bướu lành tính. Sau 10 năm 
bướu tái phát và mổ lại tại BV Bình Dân, cắt bướu 
và 1 phần phổi thùy dưới trái. Mô bướu lần đầu là 
ung thư (sinh thiết qua kim theo CT), lần sau là 
bướu lympho B tế bào lớn, hóa mô miển dịch là 
bướu mạch chu bào phổi. Vấn đề là sau mổ có hóa 
trị hay không, cần xem lại mô bướu. 
Bướu nầy có thể có ở tuổi từ mới sanh đến 
60, trên lý thuyết, bướu ở đâu có vi quản [7, 
11,13,14], rất hiếm. Bướu xuất phát từ mô quanh 
mạch máu. Tế bào là tế bào cơ trơn thay đổi và có 
tính co dãn làm dãn nở vi quản. Khi xem lại 197 
BN, Stout chứng minh rằng, bướu thường ban 
đầu ở mô ngoại biên [6,17]. Bướu nầy phát xuất 
đầu tiên ở phổi thì thật là hiếm. Nhiều trường hợp 
(TH) không có triệu chứng khi dưới 5 cm đường 
kính và chỉ tìm thấy nhờ chụp hình phổi. 
Stout AF và Murray MR, năm 1942 người 
đầu tiên nhận thấy khi mổ và định bệnh là 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 54
hemangiopericytoma, với mô gốc từ tế bào quanh 
mạch máu Zimmerman. Họ mô tả 9 TH bướu 
chung quanh mao mạch [17], từ 1923. 
Enzinger FM, Smith BH [7] chia bướu 
thành 2 nhóm, nhóm trẻ và nhóm người lớn. 
Nhóm trẻ thường tìm thấy ở đầu và cổ, các chi và 
thân, thường lành tính, ở người già thường ở 
trong hốc mủi và trong xoang mủi và các nơi 
khác. Ung thư gặp 1% ở mạch máu và 5% ở các 
sarcoma [15]. Bướu ở phổi rất hiếm, khoảng 145 
TH trong y văn từ năm 1954 đến 2007 
[2,5,7,13,18]. Ở phổi thường tuổi 50-60, nam nữ 
giống nhau. Triệu chứng chính là đau ngực, khó 
thở, ho và ho ra máu [5]. X quang phổi sẽ thấy 
bướu, có ít tràn dịch màng phổi. Mô bướu là một 
nhóm tế bào bao quanh các vi quản. Tế bào thì 
nhỏ với ít tế bào chất, nhân tròn. Nhuộm bạc thấy 
tế bào nằm ngoài mạch máu [12]. Căn cứ trên mô 
bướu, tác giả đã xếp nhóm I, nhóm II và nhóm III 
theo phân loại WHO năm 2016. Nhóm I xem như 
lành tính vì tế bào không thay đổi; Nhóm III gồm 
tế bào phát triển cao (> 5 per hpf); nhóm II có 
tiêu chuẩn anaplasic HPC, gần giống nhóm III. 
Tuổi TB 42,5 (60 bệnh nhân) [5]. 
Căn cứ theo phân loại WHO 2016, tác giả 
Sung [18] thấy nhóm I sau theo dõi 42,9 tháng, 
không tái phát vì tế bào không sinh mới, không 
có nhiều tế bào, và không có nhân bất thường . 
Nhóm II, điều trị có 8 tái phát (29,6%), nhóm III 
cũng có 8 tái phát (61,5%), nhưng không có ý 
nghĩa trên thống kê. Cũng theo tác giả, tử vong 
gồm có 1 TH di căn ngoài sọ, 4 TH di căn trong 
nảo, 1 TH chảy máu trong não, 1 TH chảy máu ở 
mô còn sót. Như vậy di căn ngoài sọ 5 TH 
(12,5%). Guthrie và CS báo cáo di căn ngoài sọ là 
kết quả của tăng tỉ lệ tử vong [4,9]. Ngoài ra, di 
căn ngoài sọ của nhóm tác giả tử vong 3 trên 6 
bệnh nhân [9]. Di căn sớm nhất của nhóm tác giả 
là sau 7 đến 20 năm. Thời kỳ di căn dài nhất là 
182,3 tháng. Do đó, nhóm I là không di căn, 
Nhóm III phát triển di căn rất nhanh. Nhóm II di 
căn trung bình [17]. 
Nguồn gốc thật của bướu không biết rõ, có 
thể bướu từ tế bào mesenchyme kém biệt hóa, 
vấn đề còn tranh cải [5,7,11]. Đa số tác giả xếp 
bướu vào nhóm sarcoma. 
Riêng trường hợp của chúng tôi có thể 
thuộc nhóm II vì chúng tôi tìm thấy bướu di căn ở 
đáy phổi trái khoảng 8 năm. Về hóa trị, xử dụng 
Panzopanib theo Lee và cộng sự vì nguyên nhân có 
thể từ tyrosine, kinase inhibitors [14]. Các tác giả 
khác dùng Doxorubicin đơn độc hoặc phối hợp với 
Cisplatin, Etoposide, và Gemcitabin [5, 20] 
Hình 4: X quang phổi sau mổ và sau mổ 1 tháng 
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BƯỚU CHU BÀO PHỔI TRÁI TÁI PHÁT... 
 55
III. KẾT LUẬN 
Bướu có tế bào quanh mạch máu thật khó 
chẩn đoán. Chúng tôi ước lượng bệnh nhân H. ở 
nhóm II. Nhóm II ở phổi di căn chậm cho nên 
sau 10 năm mới thấy bướu. Thật ra người bệnh 
cảm thấy nhức đầu, chóng mặt khoàng 2 năm 
trước nên chúng tôi nghĩ là sau 8 năm, có thể đã 
tái phát, di căn và thời kỳ đó bướu còn nhỏ, nên 
không biết vì lâm sàng khó phân biệt và nhất là 
không làm MSCT phổi.Phẫu thuật cắt trọn bướu 
nên thực hiện khi điều kiện cho phép. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1-Barjas R,Piccioni DE Malignant 
hemangiopericytoma: Treatment patterns and 
survival. J Clinical Oncology 35, no. 15_suppl. 
DOI: 10.1200/JCO.2017.35.15_suppl.e13520 . 
2- Briselli M, Mark EJ, Dikerson GR: 
Solitaty fibrous tumor of the pleura, eight new 
cases and review of 360 cases in the literature. 
Cancer 1981; 47:2678-2689. 
3- Chnaris A, Barberaki N, Efstarhieu A et 
al: Primary mediastinal hemangiopericytoma. 
World J Surg Oncol 2006, 4-23. 
4- Damodaran O, Robbins P, Knuckey et al: 
Primary intracranien hemangiopericytoma, 
comparison of survival outcomes and metastatic 
potential in WHO grade II and III variants. J Clin 
Neurosci 21:1310-1314, 2014 
5- Fuijita A, Minase T, Takabatake H et al: 
A case of primary malignant hemangiopericytoma 
of the lung with marked response in combination 
chemotherapy with cisplatin, ifosfamide and 
gentamycine Japanese J Cancer and 
Chemotherapy, 2001; 28:373-376. 
6- Fletcher CDM: Diagnosis histopatology 
of tumor. 2nd ed London, UK Churchill 
Livingstone, 2000:77-80. 
7-Enzinger FM, Smith BH: 
Hemangiomapericytoma. An analysis of 106 
cases. Hum pathol 1976, 7:61-82 
8- Gengler C, Guillon I.: Solitary fibrous 
tumor and hemangiopericytoma evolution of a 
concept. Histopathology 2006; 48:63-74. 
9- Guthrie BL, Ebersold MJ, Scheithauer 
BW et al: Meningeal hemangiopericytoma 
histopathological feature, treatment, and long-
term follow up of 44 cases. Neurosurgery 
25:514-522, 1989. 
10- Ghose A, Guha G, Kundu R et al: CNS 
hemangiopericytoma: a systemic review of 523 
patients. Am J clin 40:223-227, 2017. 
11- Hallen M, Parada LA, Goeunova L et 
al: Cytogenic abnormalities in a hemagiopericytoma 
of the spleen. Cancer Genet Cytogenet 
2002,136: 62-65 
12- Hugle WP: Malignant 
hemangiopericytoma. A clinical overview and 
case study. Clin J Oncol 2003:7:57-62. 
13- Kaminska I, S-Wojcik E, Kudsinski P 
et al: Primary lung hemangiopericytoma: a rare 
neoplasm with a long course of recurrence over 
many years. Pneumonol Alergol Pol 2001,69: 
290-294. 
14- Lee SJ, Kim ST, Park SH et al: 
Successful use of pazopanib for treatment of 
refractory metastatic hemangiopericytoma. 
Division of Hematology-Oncology, dpt of 
Medecine Samsung, Seoul 135-710, Korea. 
15- Penel N, Amela EY, Decanter G, Robin 
YM, Marec- Berard P. Solitary Fibrous Tumors 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 56
and So-Called Hemangiopericytoma. Volume 2012, 
Article ID 690251, doi:10.1155/2012/69025. 
16- Radulescu D, Pripon S, Ciuleanu TE, et 
al: Malignant primary tumor with 
hemangiopericytoma-like feature: conventional 
hemangiopericytoma versus solitary fibrous tumor. 
Clinical lung cancer, vol 8, No 8, 504-508, 2007. 
17- Stout AP and Murray MR: 
Hemagiopericytoma a vascular tumor featuring 
Zimmerman’s pericytes. Ann Surg 1942, 116:26-32. 
18- Sung KS, Moon JH, Kim EH et al: 
Solitary fibrous tumor/hemangiopericytoma. 
Treatment results based on the 2016 WHO 
classification. J Neurosurg, March 9, 2018. 
19- Van de Rijn M, Lombard CM, Rouse 
RV: Expression of CD34 by solidary fibrous 
tumors of pleura, mediastinum and lung. Am J 
Surg Pathol 1994,18:815-820. 
20- Tulay Akman, Ahmet Alacacioglu, 
Devrim Dolek, Tugba Unek, Duygu Gurel, 
Ahmet Ugur Yilmaz, and Ahmet Onen . Malign 
Recurrence of Primary Chest Wall 
Hemangiopericytoma in the Lung after Four 
Years : A Case Report and Review of the Literature. 
Hindawi, Volume 2014, Article ID 470268, 

File đính kèm:

  • pdfnhan_mot_truong_hop_buou_chu_bao_phoi_trai_tai_phat_hemangio.pdf