Nhân 1 trường hợp: u tủy thượng thận 2 bên
U tủy thượng thận (PCC) là khối u bài tiết catecholamine khá hiếm gặp, có thể
gây ra bệnh lý và/hoặc biến chứng nguy kịch (như bệnh lý tim mạch và/hoặc não)
do hậu quả của quá trình tiết catecholamin quá mức và tăng huyết áp. Chúng tôi
báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 19 tuổi, tình cờ phát hiện u tuyến thượng
thận hai bên khi đi khám vì biểu hiện đau bụng không đặc hiệu, không có các biểu
hiện cường giao cảm điển hình. Bệnh nhân không có tiền căn bệnh lí tính chất
gia đình, không biểu hiện triệu chứng bệnh lí ác tính. Khám lâm sàng không có
ghi nhận đáng kể nào trừ nhịp tim nhanh thường xuyên và tình trạng cường giáp
được kiểm soát bằng thuốc kháng giáp và chẹn beta vài ngày trước phẫu thuật.
Huyết áp bệnh nhân ổn định trước và sau mổ.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nhân 1 trường hợp: u tủy thượng thận 2 bên
TRAO ĐỔI HỌC TẬP - SỐ 8 - 12/2016 91 Tóm tắt U tủy thượng thận (PCC) là khối u bài tiết catecholamine khá hiếm gặp, có thể gây ra bệnh lý và/hoặc biến chứng nguy kịch (như bệnh lý tim mạch và/hoặc não) do hậu quả của quá trình tiết catecholamin quá mức và tăng huyết áp. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 19 tuổi, tình cờ phát hiện u tuyến thượng thận hai bên khi đi khám vì biểu hiện đau bụng không đặc hiệu, không có các biểu hiện cường giao cảm điển hình. Bệnh nhân không có tiền căn bệnh lí tính chất gia đình, không biểu hiện triệu chứng bệnh lí ác tính. Khám lâm sàng không có ghi nhận đáng kể nào trừ nhịp tim nhanh thường xuyên và tình trạng cường giáp được kiểm soát bằng thuốc kháng giáp và chẹn beta vài ngày trước phẫu thuật. Huyết áp bệnh nhân ổn định trước và sau mổ. Xét nghiệm ban đầu catecholamine máu và nước tiểu đều bình thường, trừ dopamine máu tăng không đáng kể. Xét nghiệm metanephrine máu cũng cho giá trị bình thường. CT scan cho thấy hình ảnh u tuyến thượng thận 2 bên không đồng nhất (bên phải 5x7 cm, bên trái 6x8 cm), MRI não không phát hiện tổn thương. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt tuyến thượng thận 2 bên, trong quá trình mổ huyết áp có dao động thoáng qua. Hậu phẫu thuận lợi. Chẩn đoán mô bệnh học khẳng định PCC 2 bên. Chúng tôi báo cáo trường hợp này vì tính hiếm gặp và những biểu hiện không thông thường. NHÂN 1 TRƯỜNG HỢP: U TỦY THƯỢNG THẬN 2 BÊN Nguyễn Việt Cường1, Hoàng Trung Nghĩa1 (1) Bệnh viện Quân y 175 Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Việt Cường ([email protected]) Ngày nhận bài: 19/12/2016. Ngày phản biện đánh giá bài báo: 25/12/2016. Ngày bài báo được đăng: 30/12/2016 TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 8 - 12/2016 92 Từ khóa: U tủy thượng thận, u tủy thượng thận 2 bên, u tuyến thượng thận phát hiện tình cờ, cường giáp, phẫu thuật cắt tuyến thượng thận 2 bên. BILATERAL PHEOCHROMOCYTOMA Abstract Pheochromocytoma (PCC) is a relatively rare, catecholamine – secreting tumor that can cause severe morbidity and/or lethal complications (e.g., cerebrovascular and/or cardiovascular) from effects of excess circulating catecholamines and hypertensin . We present a case of 19-year-old female, incidentally found bilateral adrenal masses while being investigated for non specific abdominal pain, without typical signs and symptoms of sympathetic overstimulation. She had no evidence of inherited PCC or any other malignant lesion. Her physical examination was unremarkable but slightly regular tachycardia on ECG and hyperthyroidism being well - controlled by anti thyroid agent and beta blocker administration for several days before surgery. Also, she was normotensive throughout the pre and post operative period. Initial screening with plasma and 24-hour urinary catecholamines was normal, exception insignificantly raised plasma dopamine. On further evaluation, plasma metanephrine was also normal. CT scan showed bilateral heterogeneously enhancing adrenal masses (Rt 5x7cm, Lt 6x8cm). Brain MRI revealed no lesion as well. She was successfully underwent bilateral adrenalectomy, her blood pressure was unremarkably fluctuating during surgical manipulation. Post-operative period was uneventful. Histopathological evaluation showed bilateral PCC. We are reporting this case because of its rarity and the unusual mode of presentation. Keyword: PCC, Bilateral PCC, adrenal incidentaloma, hyperthyroidism, bilateral adrenalectomy. ĐẶT VẤN ĐỀ PCC là u tiết catecholamin hiếm gặp có nguồn gốc từ tế bào ưa crôm trong tủy thượng thận và dọc chuỗi giao cảm cạnh sống. Triệu chứng lâm sàng của bệnh là hậu quả của tình trạng tiết catecholamin và triệu chứng do khối u gây ra. Catecholamin chủ yếu là norepinephrin và epinephrine, một số u tiết dopamin. Triệu chứng chủ yếu là đau đầu cơn, vã mồ hôi, hồi hộp trống ngực, và tăng huyết áp. PCC thường tuân theo quy luật 10%: 10% ngoài tuyến thượng thận, 10% cả hai bên, 10% ác tính, 10% không có tăng huyết áp, 10% ở trẻ em. TRAO ĐỔI HỌC TẬP - SỐ 8 - 12/2016 93 Tuy nhiên, có những PCC tình cờ phát hiện mà triệu chứng lâm sàng không rõ hoặc không đáng kể, chủ yếu dựa vào chẩn đoán hình ảnh. Những PCC không triệu chứng vẫn có thể gây hậu quả nặng nề nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. U tuyến thượng thận phát hiện tình cờ được định nghĩa là những khối u có kích thước lớn hơn 1 cm, được chẩn đoán bằng hình ảnh học cho những lí do khác hơn là biểu hiện triệu chứng của tuyến thượng thận. Tỉ lệ u tuyến thượng thận chiếm khoảng 1,5 – 7% dân số chung, chủ yếu là u lành tính, tăng cùng với tuổi, bệnh nhân hơn 70 tuổi chiếm tỉ lệ là 7% so với 0,2% tuổi 20 – 29 tuổi. PCC hiếm gặp hơn, tình cờ phát hiện và cả hai bên rất hiếm gặp. TÓM TẮT BỆNH ÁN Bệnh nhân nữ 19 tuổi, đi khám tại bệnh viện đa khoa Bình Dương vì biểu hiện đau âm ỉ bụng hạ sườn 2 bên khoàng 2 tuần trước đó, siêu âm phát hiện u tuyến thượng thận 2 bên. Bệnh nhân không có tiền sử bản thân và gia đình có bệnh lí u nội tiết, bệnh lí não, tim mạch. Hỏi bệnh sử bệnh nhân không có biểu hiện hồi hộp trống ngực, đau đầu, lo lắng, run chân tay, cũng như sút cân, mặc dù bệnh nhân có than đổ mồ hôi khi nghỉ. Khám thực thể phát hiện bệnh nhân có nhịp tim nhanh thường xuyên khoảng 100 – 123 chu kì/phút, không sốt, không lồi mắt, không nhân giáp. Huyết áp luôn trong giới hạn bình thường cả trước và sau mổ. Siêu âm bụng phát hiện u tuyến thượng thận 2 bên có tín hiệu mạch trong u, kích thước 85x51 mm, siêu âm giáp không phát hiện bất thường. CT scan bụng có hình ảnh u tuyến thượng thận 2 bên, bắt thuốc cản quang mạnh, kích thước u bên phải 5x7 cm, bên trái 6x8 cm. MRI não không phát hiện bất thường. Xét nghiệm nước tiểu 24h catecholamin (epinephrin và norepinephrine) trong giới hạn bình thường, trừ cortisol tăng 304,2 ug/ 24h (giá trị tham chiếu 21 – 143 ug/24h). Xét nghiệm máu ACTH, cortisol, aldosterone, và metanephrin đều trong giới hạn bình thường, mặc dù nồng độ Dopamin máu có tăng nhẹ 130 pg/mL (giá trị tham chiếu < 100 pg/mL). Xét nghiệm chức năng giáp nồng độ FT4 tăng 31,18 pmol/L (giá trị tham chiếu 12 – 22 pmol/L), nồng độ T3 bình thường, nồng độ TSH giảm thấp < 0,005 (giá trị tham chiếu 0,27 – 4,2 uU/mL), xét nghiệm Glucose máu lúc đói tăng nhẹ 7,78 mmol/L (giá trị tham chiếu 4,1 – 5,9 mmol/L), điện giải đồ bình thường, nồng độ Kali 3,5 mmol/L, nồng độ Calci, Phosphate, cũng như xét nghiệm chức năng gan, thận đều trong giới hạn bình thường. Xét nghiệm hormone giáp lần 2 cho kết quả FT3, FT4 bình thường nhưng TSH TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 8 - 12/2016 94 vẫn thấp 0,015 uU/mL (giới hạn tham chiếu 0,32 – 5 uU/mL) (bệnh nhân đã dùng thuốc kháng giáp hai ngày) gợi ý tình trạng cường giáp. Với chẩn đoán ban đầu là u tuyến thượng thận 2 bên kết hợp cường giáp. Bệnh nhân đã được điều trị dùng thuốc kháng giáp Carbimazole 5mg ba lần/ ngày, và Propanolol 40 mg một lần/ ngày. Mười ngày sau xét nghiệm lại hormone giáp cho kết quả bình thường với nồng độ TSH 0,46 uU/mL (giới hạn tham chiếu 0,34 – 5 uU/mL) có thể can thiệp ngoại khoa. Chúng tôi đã thực hiện phẫu thuật cắt tuyến thượng thận hai bên, bên phải trước, và bên trái cách một tháng. Trong mổ huyết áp có dao động 170/90 mmHg và tự điều chỉnh. Theo dõi hậu phẫu diễn biến ổn định. Xét nghiệm giải phẫu bệnh cho kết quả PCC cả hai bên. Theo dõi sau 1 và 3 tháng không ghi nhận biến cố bất thường, bệnh nhân đang được bổ sung cortisol với liều prednisolone 5mg một lần/ngày. BÀN LUẬN Tần suất của PCC là 2 – 8 ca trên 1 triệu dân số chung [1], [2] với 10 – 20% gặp ở trẻ em [3]. Trong nghiên cứu gần đây, khoảng 6,7% PCC có tính chất gia đình [4]. Trong số 271 bệnh nhân PCC không biểu hiện triệu chứng lâm sàng điển hình và không có tiền sử gia đình có 66 bệnh nhân (24%) phát hiện có đột biến gen. Những bệnh nhân này thường trẻ tuổi và mắc cả 2 bên [5]. Ở trẻ em, PCC hai bên thường gặp có tính chất gia đình [6], [7], bệnh xuất hiện đơn độc hoặc trong bệnh cảnh của bệnh lí nội tiết khác như u xơ thần kinh (Von Reckinghausen), hoặc u máu võng mạc (Von Hippel – Lindau), xơ củ, hội chứng Sturge – Weber. PCC hai bên thường liên quan tới hội chứng đa u nội tiết (MEN). Do đó cần tìm hiểu tính chất gia đình ở tất cả trường hợp PCC cả 2 bên [13]. Trường hợp chúng tôi báo cáo bệnh nhân PCC 2 bên không có tiền sử gia đình và đã được tầm soát một số bệnh lí di truyền đã liệt kê trên. Về lâm sàng bệnh nhân không có biểu hiện tổn thương dạng chấm màu café sữa (Café au lait spot) để loại trừ bệnh lí u xơ thần kinh, cũng như tiền sử gia đình để loại trừ nhóm bệnh lí có tính chất gia đình. Tuy vậy chúng tôi đã không xét nghiệm thêm PTH và calcitonin máu để loại trừ hội chứng MEN, mặc dù xét nghiệm calci máu và siêu âm tuyến giáp đều bình thường. Khoảng 5% các u tuyến thượng thận phát hiện tình cờ là PCC [8]. Trong một nghiên cứu 19/33 (58%) PCC là các u tuyến thượng thận tỉnh cờ phát hiện, trong số đó có 10/19 bệnh nhân có biểu hiện tăng huyết áp. Trong trường hợp báo cáo của chúng tôi, bệnh nhân TRAO ĐỔI HỌC TẬP - SỐ 8 - 12/2016 95 không có biểu hiện tăng huyết áp nhưng có nhịp tim nhanh thường xuyên, triệu chứng này có thể gặp do PCC và hội chứng cường giáp. Mặc dù bệnh nhân được điều chỉnh về tình trạng bình giáp với 10 ngày dùng thuốc kháng giáp ở liều không cao. Ngoài ra, trong trường hợp của chúng tôi có thể PCC 2 bên không bài tiết catecholamine nên khó nhận xét tình trạng cường giáp và PCC có liên quan hay không. Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ vì chưa xác định bản thân của u cũng như huyết áp bệnh nhân bình thường nên chúng tôi đã không sử dụng thuốc chẹn alpha. Trong quá trình phẫu thuật, huyết áp bệnh nhân có tăng lên 170/90 mmHg khi thắt mạch máu nuôi u. Tuy nhiên, huyết áp tự điều chỉnh mà chưa cần phải can thiệp. Điều trị ngoại khoa là chỉ định trong trường hợp u tuyến thượng thận 2 bên. Chưa có khuyến cáo phương pháp phẫu thuật nào là tối ưu cho PCC 2 bên. Tuy nhiên, phẫu thuật nội soi cắt u tuyến thượng thận 2 bên có thể giảm số ngày nằm điều trị, giảm đau sau mổ hơn, bệnh nhân nhanh chóng quay trở lại sinh hoạt bình thường hơn. Tuy nhiên, nhiều phẫu thuật viên có quan ngại phương pháp này có những nguy cơ nhất định, như những rối loạn về huyết động có thể gặp khi can thiệp vào khối u do hậu quả của tăng tiết catecholamine, cũng như khó khăn về mặt kỹ thuật do kích thước u (u > 5 cm) và sót mảnh u khi lấy u ra ngoài, đặc biệt là những u ác tính. Sau mổ cần chú ý nguy cơ suy tuyến thượng thận, theo dõi để điều trị glucocorticoid và mineralocorticoid hợp lý. Tuy nhiên, phẫu thuật bảo tồn tuyến thượng thận có thể hạn chế việc thay thế steroid sau mổ đối với PCC 2 bên, KẾT LUẬN PCC là u khá hiếm gặp, nếu không được phát hiện và điều trị sớm, có thể khá nguy hiểm. Thực tế ngay cả PCC không có biểu hiện lâm sàng vẫn có nguy cơ rất cao. Những PCC 2 bên càng hiếm gặp hơn, đặc biệt các trường hợp không có triệu chứng lâm sàng là những thách thức về mặt chẩn đoán. Vấn đề mấu chốt để chẩn đoán được là phải nghĩ đến PCC khi gặp những trường hợp u tuyến thượng thận tình cờ phát hiện. Những phương pháp cận lâm sàng hiện nay cho phép chẩn đoán PCC. Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chính hầu hết các trường hợp. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. P.F. Plouin, A.P. Gimenez – Roqueplo (2006), Pheochromocytoma and secreting paragangliomas, Orphanet J Rare Dis, Volume 1, pp 1 – 14. 2. R.A. DeLellis, R. V. Lloyd, TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 8 - 12/2016 96 P.U. Heitz, et al (2004), World Health Organization classification of tumors, Pathology and genetics of tumors of endocrine organs, IARC Press, Lyon, France. 3. J.M. Rodríguez González, P. Parrilla Paricio, A. Pinero Madrona (1999), Feocromocitoma, Cirugiá Endocrina, A. Sitges – Serra, J.Sancho Insenser, Aran, Madrid, pp. 143 – 150. 4. K.H. Kim, J.S. Chung, W.T. Kim, C.K. Oh, Y.B. Chae, H.S. Yu, et al. (2011), Clinical experiences of pheochromocytoma in Korea, Yondei Med J, Volume 52, pp. 45 – 50. 5. H.P. Neumann, B. Bausch, S.R. McWhinney, B.U. Bender, O.Gimm, G. Franke, et al., Columbus Pheochromocytoma Study Group (2002), Germ-line mutations in nonsyndromic pheochromocytoma, N Engl J Med, Volume 346, p. 1459. 6. K.S.King, K. Pacak (2013), Familial pheochromocytomas and paragangliomas, Mol Cel Endocrinol, Volume 386, Issue 1 – 2, pp. 92 – 100. 7. G. Stringel, S.H. Ein, R. Creighton, D. Daneman, N. Howard, R.M. Filler (1980), Pheochromocytoma in children – an update, J Peadiatr Surg, Volume 15, pp. 496 – 500. 8. Young, WF Jr. (2000), Management approaches to adrenal incidentalomas: a view from Rochester, Minnesota, Endocrinol Metab Clin North Am, 29, pp. 159 – 185. 9. Anders L. Carlson, Annis M. Marney, Scott R.Anderson, and Matthew P. Gilbert (2013), Bilateral incidentalomas: A case report and review of diagnostic challenges, Case reports in Endocrinology, Volume 2013, Article ID 953052, 4 pages. 10. Hager Aref, Osama Safdar, Wasim Anshasi, Shafiqa Alsharif (2013) Bilateral adrenal pheochromocytoma in a 10-year old male patient: a case report, Journal of Pediatric Surgery Case Reports, Vol.2(8), pp. 400 – 402. 11. William F. Young, Jr., M.D.(2007), Clinical practice: The incidentally discovered adrenal mass, N Engl J of Med 2007; 356, pp. 601 – 610. 12. R.T. Dolan, J.S. Butler, G.P. Mentee, M. Byrne (2011), Pheochromocytoma presenting as recurrent urinary tract infections: a case report, J Med Case Rep, Volume 5, 2011, p.6. 13. Đỗ Trung Quân (2013), Pheochromocytoma, Bệnh học nội khoa tập 2, ĐH Y Hà Nội, trang 377 – 384.
File đính kèm:
nhan_1_truong_hop_u_tuy_thuong_than_2_ben.pdf

