Nguyên lý và kỹ thuật bơm bóng đối xung trong động mạch chủ
Kỹ thuật bơm bóng đối xung trong động
mạch chủ (IABP: Intra Aortic Balloon Pump) là
một trong những kỹ thuật hỗ trợ tuần hoàn cơ học
đƣợc sử dụng phổ biến nhất cho những bệnh nhân
nặng ở phòng hồi sức có bệnh lý tim mạch. Kỹ
thuật này đƣợc sử dụng cho khoảng 42.000 bệnh
nhân tại Mỹ vào năm 2002. Cùng với những tiến
bộ khoa học kỹ thuật, các thiết bị đã đƣợc cải tiến
và phát triển nhƣ kỹ thuật luồn catheter bóng vào
trong động mạch chủ qua da, với đƣờng kính của
catheter đƣợc thiết kế nhỏ hơn, kỹ thuật luồn bóng
khồng sử dụng kim dẫn đƣờng, và với nhiều công
đoạn tự động hóa trong quy trình kỹ thuật
Bạn đang xem tài liệu "Nguyên lý và kỹ thuật bơm bóng đối xung trong động mạch chủ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nguyên lý và kỹ thuật bơm bóng đối xung trong động mạch chủ
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 42 NGUYÊN LÝ VÀ KỸ THUẬT BƠM BÓNG ĐỐI XUNG TRONG ĐỘNG MẠCH CHỦ Đoàn Đức Hoằng*, Bùi Đức Phú*, Tôn Nữ Phước Thịnh*, Nguyễn Phan Huy*, Trần Chí Thành* Kỹ thuật bơm bóng đối xung trong động mạch chủ (IABP: Intra Aortic Balloon Pump) là một trong những kỹ thuật hỗ trợ tuần hoàn cơ học đƣợc sử dụng phổ biến nhất cho những bệnh nhân nặng ở phòng hồi sức có bệnh lý tim mạch. Kỹ thuật này đƣợc sử dụng cho khoảng 42.000 bệnh nhân tại Mỹ vào năm 2002. Cùng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, các thiết bị đã đƣợc cải tiến và phát triển nhƣ kỹ thuật luồn catheter bóng vào trong động mạch chủ qua da, với đƣờng kính của catheter đƣợc thiết kế nhỏ hơn, kỹ thuật luồn bóng khồng sử dụng kim dẫn đƣờng, và với nhiều công đoạn tự động hóa trong quy trình kỹ thuật. 1. Lịch sử Kantrowitz [1] đã ghi nhận có sự gia tăng lƣu lƣợng vành khi làm chậm nhịp đập động mạch ở các động vật thí nghiệm vào năm 1952. Năm 1958, Harken [2] đã nghĩ đến phƣơng pháp lấy máu qua đƣờng động mạch dùi vào thì tâm thu và truyền nhanh trở lại lƣợng máu này vào thì tâm tƣơng để điều trị suy tâm thất trái, còn đƣợc gọi là gia tăng thì tâm trƣơng. Bốn năm sau, Moulopoulos và cộng sự [3] đã phát triển nguyên bản đầu tiên của IABP có thể bơm và xả bóng tùy thuộc vào chu chuyển tim. Năm 1968, Kantrowitz [1] đã báo cáo có sự cải thiện huyết áp hệ thống và lƣu lƣợng nƣớc tiểu khi sử dụng IABP cho hai bệnh nhân bi sốc tim và một trong hai bệnh nhân này đã đƣợc cứu sống. Kỹ thuật IABP qua da với loại catheter bóng với kích cỡ 8,5 - 9,5F (trƣớc đó là loại 15F) đã đƣợc đƣa vào sử dụng từ năm 1979 bởi Bergman và cộng sự. Loại IABP tự động hóa đƣợc phát triển từ năm 1986. 2. Nguyên lý kỹ thuật bơm bóng đối xung trong động mạch chủ Bơm bóng đối xung trong động mạch là một thuật ngữ mô tả sự bơm bóng vào thì tâm trƣơng và xả bóng vào giai đoạn sớm của thì tâm thu. Điều này giúp làm tăng lƣu lƣợng vành (nhận máu vào thì tâm trƣơng) và cải thiện tƣới máu hệ thống do làm giảm kháng lực mạch máu ngoại biên*. 3. Sinh lý bệnh của kỹ thuật IABP Mục tiêu đầu tiên của IABP là cải thiện hiệu suất co bóp của tâm thất khi bị suy tim qua cơ chế làm tăng lƣu lƣợng vành để tăng cung cấp oxy cho cơ tim. những tác động hỗ trợ huyết động của liệu pháp IABP đƣợc tóm tắt trong bảng 1. Mặc dù tác động huyết động của IABP lên thất trái nổi trội hơn, nhƣng IABP cũng có thể có những tác động có lợi trên thất phải qua một cơ chế phức tạp do làm gia tăng lƣu lƣợng tƣới máu cơ tim thất phải, giảm gánh thất trái nên làm giảm áp lực nhĩ trái và áp lực mạch máu phổi vì vậy làm giảm hậu gánh của thất phải. Kỹ thuạt IABP bơm bóng ở thời g=điểm khởi đầu thì tâm trƣơng nên làm tăng huyết áp tâm trƣơng và xả bóng ngay trƣớc khi bắt đầu thì tâm thu nên làm giảm hậu gánh thất trái. Mức độ tác động của kỹ thuật IABP phụ thuộc vào các yếu tố. - Thể tích bóng: thể tích máu đƣợc bóng hỗ trợ đẩy đi tỉ lệ thuận với thể tích bóng; - Tần số tim: thời gian đổ đầy tâm trƣơng của thất trái và động mạch chủ tỉ lệ nghịch với tần số tim; thời gian tâm trƣơng càng ngắn thì thể tích bơm bóng càng nhỏ; Tính đàn hồi của động mạch chủ: khi tính đàn * Bệnh viện Trung ương Huế Người chịu trách nhiệm khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú Ngày nhận bài: 05/04/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/05/2016 Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng GS.TS. Lê Ngọc Thành NGUYÊN LÝ VÀ KỸ THUẬT BƠM BÓNG ĐỐI XUNG TRONG ĐỘNG MẠCH CHỦ 43 hồi này tăng (sức cản mạch máu hệ thống giảm), thì biên độ giãn nỡ của bóng sẽ giảm. Bảng 1. Hiệu quả huyết động của kỹ thuật IABP Cơ quan Hiệu quả tác động Động mạch chủ Giảm HA tâm thu, tăng HA tâm trƣơng Tâm thất trái Giảm áp lực tâm thu, giảm áp lực cuối thì tâm trƣơng, giảm thể tích thất trái, giảm áp lực thành tâm thất trái Tim Giảm hậu gánh, giảm tiền gánh, tăng cung lƣợng tim Lƣu lƣợng tuần hoàn Tăng lƣu lƣợng tuần hoàn làm tăng tƣới máu vành 3.1 Cân bằng cung cấp và nhu cầu tiêu thụ oxy cơ tim Bơm bóng IABP trong thì tâm trƣơng tạo ra chênh áp giữa động mạch chủ và tâm thất trái, giá trị chênh áp này còn đƣợc gọi là chỉ số thời gian áp lực tâm trƣơng (DPTI). Kết quả là làm tăng lƣu lƣợng tƣới máu vành và vì vậy tăng cung cấp oxy cơ tim. Nhu cầu tiêu thụ oxy liên quan trực tiếp với diện tích bên dƣới đƣờng biểu diễn áp lực tâm thu thất trái, còn đƣợc gọi là chỉ số thời gian áp lực (TTI). Bóng đƣợc xả trong thì tâm thu giúp làm giảm hậu gánh thất trái, vì vậy làm tăng chỉ số TTI. Vì vậy tỷ lệ cung / cầu oxy (DPTI/TTI) sẽ tăng lên nếu nhƣ IABP hoạt động hiệu quả tối ƣu, và điều này có thể đƣợc minh chứng bằng xét nghiệm định lƣợng thấy giảm nồng độ lactate trong máu lấy từ xoang vành. 3.2 Lƣu lƣợng tƣới máu vành Theo định luật Hagen Poiseuille, lƣu lƣợng dòng chảy đi qua một ống tỷ lệ thuận với chênh áp giữa 2 đầu ống và khẩu kính của ống, nhƣng tỷ lệ nghịch với chiều dài đoạn ống và độ nhớt của chất lỏng chảy qua trong ống. vì vậy, ở bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành thì cơ chế tự điều hòa bị tổn thƣơng và lƣu lƣợng vành là tƣơng quan trực tiếp với huyết áp tâm trƣơng. Vì vậy, IABP làm tăng huyết áp tâm trƣơng do đó cải thiện tƣới máu vành ở những bệnh nhân này. 3.3 Chức năng thận Hỗ trợ bơm bóng đối xung trong động mạch chủ làm tăng cung lƣợng tim do đó có thể làm tăng thêm 25% lƣu lƣợng tƣới máu thận. Lƣu lƣợng nƣớc tiểu có thể bị giảm sau khi thực hiện kỹ thuật IABP thƣờng do vị trí bóng IABP ở thấp gần chỗ xuất phát động mạch thận. 3.4 Huyết học Tác động cơ học của bơm bóng IABP làm tổn thƣơng các tế bào hồng cầu gây huyết tán và làm giảm thấp thể tích huyết cầu có thể đến 5%. Ngoài ra, tác động cơ học và liệu pháp kháng đông bằng heparin trong quá trình thục hiện IABP có thể gây huyết khối và giảm số lƣợng tiểu cầu hoặc cả hai. 4. Chỉ định kỹ thuật bơm bóng đối xung trong động mạch chủ Chỉ định và chống chỉ định của kỹ thuật bơm bóng đối xung trong động mạch chủ đƣợc tóm tắt trong bảng 2. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 44 Bảng 2. Chỉ định và chống chỉ định sử dụng liệu pháp IABP Chỉ định Tuyệt đối Tương đối Nhồi máu cơ tim cấp Suy thất trái trơ với điều trị nôi Sốc tim Rối loạn nhịp thất trơ với điều trị nội Hở van 2 lá và thủng vách liên thất cấp tính Bệnh lý cơ tim Thông tim và can thiệp mạch Nhiễm khuẩn Đau thắt ngực không ổn định trơ với điều trị Tim bẩm sinh phức tạp ở trẻ em Phẫu thuật tim Mục đích để cai tuần hoàn ngoài cơ thể Chống chỉ định Tuyệt đối Tương đối Hở van động mạch chủ Nhiễm khuẫn không kiểm soát đƣợc Bóc tách động mạch chủ Phình động mạch chủ bụng Bệnh lý tim giai đoạn cuối không hồi phục Các rối loạn nhịp tim quá nhanh Stents động mạch chủ Bệnh lý mạch máu ngoại vi nặng Phẫu thuật tạo hình các động mạch lớn 4.1 Nhồi máu cơ tim cấp Sử dụng IABP với mục đích duy trì huyết động ổn định trong khi chờ thực hiện liệu pháp điều trị đích hoặc chờ hồi phục. Thực hiện IABP giúp làm giảm công cơ tim và giảm sức cản mạch máu hệ thống, vì vậy các trƣờng hợp hiện diện luồng thông trong tim, hở van 2 lá hoặc cả 2 loại thƣơng tổn này sẽ giảm gây hậu quả, trong khi tƣới máu vành sẽ đƣợc cải thiện. Những trƣờng hợp hở 2 lá nặng thứ phát do rối loạn chức năng hoặc đứt trụ cơ sau nhồi máu cơ tim có thể gây rối loạn huyết động nặng. Liệu pháp IABP rất hiệu quả trong những trƣờng hợp này trong thời gian chờ phẫu thuật điều trị. 4.2 Rối loạn nhịp thất Sử dụng IABO tỏ ra hiêu quả trong trƣờng hợp rối loạn nhịp thất bất thƣờng sau nhồi máu trơ với điều trị nội khoa nhờ tác động làm tăng áp lực tƣới máu vành, làm giảm thiếu máu cơ tim và các nhồi máu xuyên thành cơ tim, đồng thời đảm bảo tƣới máu hệ thống. 4.3 Sốc tim Sốc tim là biến chứng đe dọa tính mạng sau nhồi máu cơ tim, đặc trƣng với các dấu chứng nhƣ cung lƣợng tim giảm thấp, tụt huyết áp không đáp ứng với liệu pháp điều trị bù dịch, tăng áp lực đổ đầy và giảm tƣới máu mô cơ quan dẫn đến thiểu và vô niệu, tăng lactate máu, và rối loạn tri giác. Liệu pháp IABP đƣợc xem là chỉ định nhóm I (khuyến cáo ACC/AHA) nhằm điều trị các trƣờng hợp sốc tim mà không thể hồi phục nhanh với liệu pháp điều trị thuốc. 4.4 Đau thắt ngực không ổn định Đau thắt ngực không ổn định trơ với điều trị thuốc là một chỉ định sử dụng IABP. Những bệnh nhân này thƣờng có nguy cơ cao tiến triển đến nhồi máu cơ tim cấp và tử vong. Liệu pháp IABP có thể NGUYÊN LÝ VÀ KỸ THUẬT BƠM BÓNG ĐỐI XUNG TRONG ĐỘNG MẠCH CHỦ 45 đƣợc thực hiện dễ dàng với kỹ thuật luồn catheter bóng qua da làm cải thiện tình trạng huyết động ở những bệnh nhân này hoặc với mục đích làm cầu nối chờ phẫu thuật điều trị. 4.5 Suy tâm thất trơ với điều trị nội khoa IABP có vai trò quan trọng trong điều trị các trƣờng hợp suy tâm thất không còn đáp ứng với điều trị thuốc không những do nhồi máu cơ tim gây ra mà có thể do các bệnh lý khác nhƣ bệnh cơ tim hoặc các trƣờng hợp tổn thƣơng cơ tim nghiêm trọng do viêm cơ tim do virus. Sử dụng IABP trong các trƣờng hợp này với mục đích hỗ trợ trong thời gian chờ thực hiện các liệu pháp điều trị triệt để nhƣ cấy thiết bị hỗ trợ tâm thất hoặc ghép tim. 4.6 Phẫu thuật tim IABP thƣờng đƣợc sử dụng với mục đích điều trị ổn định huyết động cho những bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp trong trƣờng hợp mổ cấp cứu. Hỗ trợ IABP thƣờng đƣợc bắt đầu ở phòng thông tim can thiệp cho đến giai đoạn trong và sau mổ. IABP đƣợc sử dụng dự phòng cho những bệnh nhân có nguy cơ cao nhƣ hẹp tắc đáng kể thân chung, rối loạn chức năng thất trái nặng (EF<30%), suy tim xung huyết, bệnh cơ tim, suy thận mạn, hoặc các bệnh lý mạch máu não. Các trƣờng hợp khó cai tuần hoàn ngoài cơ thể có thời gian cặp động mạch chủ kéo dài, trƣờng hợp phẫu thuật tái tạo mạch máu chỉ thực hiện đƣợc một phần, hoặc các bệnh nhân bị rối loạn chức năng cơ tim trƣớc mổ. Khi cai tuần hoàn ngoài cơ thể có các biểu hiện nổi bật nhƣ tụt huyết áp với cung lƣợng tim giảm thấp, thì sử dụng IABP giúp làm tăng tƣới máu vành và tƣới máu hệ thống do đó giúp dễ dàng để cai bệnh nhân khỏi tuần hoàn ngoài cơ thể. 5. Chống chỉ định kỹ thuật bơm bóng đối xung trong động mạch chủ Các chống chỉ sử dụng IABP đƣợc tóm tắt trong bảng 2 nói trên. Chống chỉ định ở những bệnh nhân bị hở van động mạch chủ vì nó làm nặng hơn tình trạng hở van. Những trƣờng hợp khó luồn catheter IABP cần nghĩ đến bệnh lý bóc tách động mạch chủ vì gợi ý catheter bóng lạc đƣờng qua lỗ tổn thƣơng bóc tách sẽ làm cho tình trạng bóc tách động mạch chủ lan rộng hơn hoặc thậm chí gây vỡ động mạch chủ. Theo cơ chế tƣơng tự, vỡ động mạch chủ có thể xảy ra khi luồn catheter IABP ở những bệnh nhân bị phình động mạch chủ bụng có kích thƣớc lớn. Những bệnh nhân mắc bệnh lý tim giai đoạn cuối không nên chỉ định sử dụng IABP trừ khi với mục đích làm cầu nối chờ cấy thiết bị hỗ trợ tâm thất hoặc chờ ghép tim. Nên tránh sử dụng IABP cho những bệnh nhân có bệnh lý mạch máu ngoại biên nghiêm trọng. việc luồn catheter bóng IABP qua da theo đƣờng động mạch đùi là chống chỉ định ở bệnh nhân đã đƣợc phẫu thuật bắc cầu nối đùi – khoeo. Các trƣờng hợp nhiễm khuẩn không kiểm soát đƣợc và xuất huyết nội khó kiểm soát cũng là các chống chỉ định tƣơng đối sử dụng IABP. 6. Kỹ thuật luồn và vận hành catheter bóng đối xung trong động mạch chủ 6.1 Kỹ thuật đặt catheter bóng IABP Thiết bị IABP gồm 2 thành phần chính: (1) một catheter 2 nòng cỡ 8,0-9,5F đƣợc thiết kế với một bóng có thể tích từ 25 – 50ml ở đầu xa; và (2) một hệ thống máy gồm 01 đầu bơm để bơm và xả bóng. Bóng catheter đƣợc làm bằng chất liệu polyethylene và đƣợc bơm phồng bằng khí trơ. Helium thƣờng đƣợc sử dụng vì trong lƣợng riêng thấp nên dễ lƣu chuyển từ hệ thống máy bơm vào bóng catheter. Helium cũng dễ đƣợc hấp thu trong máu trong trƣờng hợp vỡ bóng. Trƣớc khi luồng catheter IABP, cần chọn bóng có kích thƣớc phù hợp tùy chiều cao của bệnh nhân ngƣời lớn theo bảng 3. Ngoài ra, còn có các bóng có kích thƣớc nhở hơn để sử dụng trong trƣờng hợp bệnh nhân nhi. Đƣờng kính của bóng khi đƣợc bơm đầy không nên vƣợt quá 80-90% đƣờng kính của đoạn xuống của động mạch chủ ngực của ngƣời bệnh. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 46 Bảng 3. Chọn kích thước bóng catheter IABP (Datascope) Chiều cao thích hợp Thể tích bóng catheter IABP Chiều cao dƣới 152 cm Bóng 25 ml Chiều cao 152 – 163 cm Bóng 34 ml Chiều cao 164 – 183 cm Bóng 40 ml Chiều cao trên 183 cm Bóng 50 ml Catheter IABP đƣợc luồn qua da theo đƣờng vào từ động mạch đùi bên trong một máng dẫn theo kỹ thuật Seldinger. Có thể chọn các đƣờng vào khác từ động mạch dƣới đòn, động mạch nách, động mạch cánh tay, hoặc động mạch chậu. có thể luồn catheter IABP nhờ phẫu thuật mở ngực hoặc đƣờng mở ngang thắt lƣng, nhƣng điều này làm tăng nguy cơ tử vong trong quá trình thực hiện thủ thuật. Kỹ thuật luồn catheter IABP thƣờng dƣới hƣớng dẫn bởi màng hình tăng sáng hƣớng vào trong đoạn xuống của động mạch chủ ngực, với đầu mút của catheter ngang mức cách điểm xuất phát của động mạch dƣới đòn trái khoảng 2 – 3 cm (ngang mức carina). Kỹ thuật luồn catheter IABP trong mổ có thể hƣớng dẫn bởi siêu âm qua đƣờng thực quản. Nòng bao phủ bên ngoài của catheter là đƣờng di chuyển của khí helium vào bóng và nòng bên trong là đƣờng theo dõi huyết áp động mạch xâm nhập. Các biến chứng của kỹ thuật IABP đƣợc nêu trong bảng 4. Bảng 4. Biến chứng của kỹ thuật IABP Mất mạch ngoại biên thoáng qua Thiếu máu chi Thuyên tắc huyết khối Hội chứng chèn ép khoang Bóc tách động mạch chủ Vết thƣơng mạch máu tại vị trí luồn catheter vào gây giả phình, tụ máu, chảy máu Nhiễm trùng Vỡ bóng catheter (có thể gây thuyên tắc do khí) Biến chứng huyết học nhƣ giảm tiểu cầu, tán huyết Đặt catheter sai vị trí gây tổn thƣơng não hoặc thận Chèn ép tim 6.1 Vận hành bơm bóng đối xung trong động mạch chủ IABP Hệ thống máy IABP đƣợc lập trình cài đặt một mức trigger khởi phát việc bơm và xả bóng. Hầu hết các trƣờng hợp đều sử dụng tín hiệu khởi phát là dạng sóng điện tâm đồ và dạng sóng huyết áp động mạch. Cài đặt bơm bóng vào thời điểm khởi đầu thì tâm trƣơng, tƣơng ứng với điểm giữa của sóng T. cài đặt xả bóng vào thời điểm khởi đầu của thì tâm thu, tƣơng ứng với dỉnh của sóng R. NGUYÊN LÝ VÀ KỸ THUẬT BƠM BÓNG ĐỐI XUNG TRONG ĐỘNG MẠCH CHỦ 47 trƣờng hợp tín hiệu ECG có chất lƣợng kém, bị nhiễu sóng và rối loạn nhịp tim có thể làm cho hoạt động bơm và xả bóng không khớp với cài đặt. Cài đặt bơm bóng vòa thời điểm sau khi đóng van động mạch chủ, tƣơng ứng với nóc dội nghịch trên đƣờng điểu diễn dạng sóng huyết áp động mạch; và cài đặt xả bóng ngay trƣớc thời điểm mở van động mạch chủ, tƣơng ứng với điểm ngay trƣớc đoạn lên của đƣờng biểu diễn dạng sóng huyết áp. Việc điều chỉnh thời gian bơm và xả bóng phải tƣơng ứng với chu chuyển tim. Chu chuyển tim đƣợc theo dõi liên tục trên màn hình theo dõi dạng sóng huyết áp động mạch. Theo dõi thời điểm bơm bóng trên dạng sóng huyết áp vào thời điểm khởi phát thì tâm trƣơng sẽ xuất hiện một hình ngấn chữ V ở nóc dội nghịch (hình 1). Tác động bơm bóng làm tăng huyết áp tâm trƣơng tạo thêm một đỉnh thứ 2 trên dạng sóng huyết áp động mạch. Đỉnh thứ 2 này phản ánh tác động bơm hỗ trợ áp lực trong thì tâm trƣơng. Tác động hỗ trợ là lý tƣởng khi đỉnh thứ 2 này cao hơn dỉnh huyết áp tâm thu của bản thân ngƣời bệnh. Tùy thuộc vào tình trạng huyết động của bệnh nhân, lập trình hoạt động bơm bóng hỗ trợ tƣơng ứng với mỗi nhát bóp của tim theo tỉ lệ 1:1 hoặc vài nhát bóp tim mới hỗ trợ 1 lần theo các tỉ lệ 1:2; 1:4; hoặc 1:8. Khi huyết động cải thiện, có thể cai hỗ trợ IABP bằng cách giảm dần tần số nhát bơm bóng hỗ trợ trƣớc khi ngừng IABP hoàn toàn. Tuy nhiên, không bao giờ ngừng hoạt động IABP hoàn toàn nếu nhƣ còn lƣu catheter bóng để tránh tạo huyết khối gây thuyên tắc. Hình 1. Một chu chuyển tim hoàn chỉnh và dạng sóng tương ứng của hoạt động IABP Nếu điều chỉnh IABP hoạt động không đạt tối ƣu dẫn đến tình trạng huyết động không ổn định (hình 2A-D) biểu hiện một số tình huống sau: - Bơm bóng sớm: bơm bóng trƣớc khi van động mạch chủ đóng (hình 2A); - Bơm bóng muộn: bơm bóng sau khi đóng van động mạch chủ (hình 2B); - Xả bóng sớm: bóng xả trong thì tâm trƣơng (hình 2C); - Xả bóng muộn: bóng xả sau thời điểm khởi phát của thì tâm thu (hình 2D). PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 13 - THÁNG 5/2016 48 Hình 2. Hình ảnh dạng sóng áp lực một số tình huống IABP hỗ trợ không tối ưu (A) Đặc điểm dạng sóng khi bơm bóng IABP đến sớm trƣớc nóc dội nghịch; một phần hỗ trợ IABP rơi vào thì tâm thu. Hậu quả: - Van động mạch chủ đóng sớm; - Tăng thể tích và áp lực đổ đầy thất trái cuối thì tâm trƣơng (LVEDV và LVEDP) hoặc tăng áp lực động mạch phổi bít (PAWP); - Tăng áp lực thành tâm thất trái hoặc tăng hậu gánh; - Hở van động mạch chủ; - Tăng nhu cầu tiêu thụ oxy cơ tim (MVO2). (B) Đặc điểm dạng sóng khi bơm bóng IABP đến muộn sau nóc dội nghịch; xuất hiện hình chữ V. Hậu quả: tƣới máu vành không đƣợc tối ƣu. (C) Đặc điểm dạng sóng khi xả bóng IABP sớm thấy hình nhọn giảm diện tích hỗ trợ IABP. Hỗ trợ tâm trƣơng không đạt tối ƣu; áp lực cuối tâm trƣơng bằng hoặc thấp hơn so với khi không hỗ trợ IABP; HA tâm thu có thể tăng. Hậu quả: - Tƣới máu vành không đạt đƣợc tối ƣu; - Nguy cơ ngƣợc chiều dòng máu tƣới vành hoặc động mạch cảnh; - Tác dụng giảm hậu gánh không đạt tối ƣu; - Tăng nhu cầu tiêu thụ oxy cơ tim (MVO2). (D) Đặc điểm dạng sóng khi xả bóng IABP muộn thấy áp lực cuối tâm trƣơng bằng so với khi không hỗ trợ IABP; đoạn dốc HA tâm thu kéo dài; dãn rộng biên độ hỗ trợ IABP. Hậu quả: - Hầu nhƣ không có tác dụng giảm hậu gánh; - Tăng nhu cầu tiêu thụ oxy cơ tim (MVO2) bởi vì thất trái khi co bóp gặp sức cản lớn và kéo dài pha co bóp tim đẳng tích. Hậu quả IABP có thể làm cản trở tống máu thất trái và làm tăng hậu gánh. NGUYÊN LÝ VÀ KỸ THUẬT BƠM BÓNG ĐỐI XUNG TRONG ĐỘNG MẠCH CHỦ 49 6.2 Cai hỗ trợ bơm bóng đối xung trong động mạch chủ IABP Cai hỗ trợ IABP nên đƣợc tiến hành khi thuốc trợ tim inotrope đang sử dụng ở liều thấp. điều này cho phép có thể tăng liều thuốc nếu cần thiết. Tiến hành cai hỗ trợ IABP chậm (6 – 12 giờ) bằng cách giảm dần tỉ lệ hỗ trợ nhát bóp tim với tần số hỗ trợ từ 1:1 đến 1:2 và thấp hơn nếu huyết động dung nạp tốt; hoặc bằng cách giảm dần thể tích bơm bóng hỗ trợ. Khuyến cáo không bao giờ ngắt hoạt động bóng IABP hoàn toàn khi còn lƣu catheter vì nguy cơ hình thành huyết khối. giai đoạn này chăm sóc bệnh nhân IABP với các mục tiêu sau: - Theo dõi và đánh giá tình trạng huyết động, tƣới máu các cơ quan, và sự thuyên giảm các triệu chứng tim mạch; - Theo dõi và phát hiện các dấu hiệu sớm của các biến chứng nhƣ thiếu máu chi, bóng catheter IABP bị lạc không đúng vị trí, hình thành huyết khối, chảy máu và nhiễm trùng; - Đảm bảo IABP vận hành hiệu quả, bao gồm theo dõi điều chỉnh thời gian hỗ trợ bóng IABP phù hợp, hoạt động khởi phát hỗ trợ IABP và hệ thống báo động nhằm đạt đƣợc hiệu quả tối ƣu trong quá trình hỗ trợ IABP. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Arafa OE, Geiran OR, Svennevig JL. Transthoracic intra-aortic balloon pump in open heart operations: techniques and outcome. Scand Cardiovasc J 20011; 35: 40–4 2. Bergman HE, Casarella WJ. Percutaneous intra- aortic balloon pumping: initial clinical experience. Ann Thorac Surg 2008; 29: 153–5 3. Harken DE. The surgical treatment of acquired valvular disease. Circulation 2008; 18: 1–6 4. Kantrowitz A. Experimental augmentation of coronary flow by retardation of the arterial pressure pulse. Surgery 2003; 34: 678–87 5. Mercer D, Doris P, Salerno TA. Intra-aortic balloon counterpulsation in septic shock. Can J Surg 2011; 24: 643–5 6. Miller RD. Miller‟s anaesthesia. In: Nyhan D, Johns RA eds. Anesthesia for Cardiac Surgery. Elsevier, 2011 7. Moulopoulos SD, Topaz SR, Kolff WJ. Extracorporeal assistance to the circulation and intraaortic balloon pumping. Trans Am Soc Artif Intern Organs 2012; 8: 85–9 8. Pinkney KA, Minich LL, Tani LY et al. Current results with intraaortic balloon pumping in infants and children. Ann Thorac Surg 2012; 73: 887–91 9. Ryan TJ, Antman EM, Brooks NH et al. 2009 update: ACC/AHA Guidelines for the Management of Patients with Acute Myocardial Infarction: Executive Summary and Recommendations: A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Practice Guidelines (Committee on Management of Acute Myocardial Infarction). Circulation 2009; 100: 1016–30 10. Velez CA, Kahn J. Compartment syndrome from balloon pump. Catheter Cardiovasc Interv 2010; 51: 217–9 11. Walls JT, Boley TM, Curtis JJ, Silver D. Heparin induced thrombocytopenia in patients undergoing intra-aortic balloon pumping after open heart surgery. ASAIO J 2012; 38: M574–6.
File đính kèm:
nguyen_ly_va_ky_thuat_bom_bong_doi_xung_trong_dong_mach_chu.pdf

