Nghiên cứu yếu tố phát triển biểu mô trong ung thư biểu mô tuyến vú

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ dương tính và tìm hiểu mối liên quan giữa biểu

lộ Her-2/neu với týp mô bệnh học, độ mô học và tình trạng hạch trong ung

thư biểu mô của tuyến vú.

Đối tượng và phương pháp: phương pháp mô tả hồi cứu đã thực hiện trên

135 trường hợp ung thư vú được phẫu thuật và chẩn đoán xác định bằng

mô bệnh học, đánh giá biểu lộ của Her-2/neu bằng xét nghiệm hoá mô

miễn dịch tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 1/ 2005 đến 12/2015.

Kết quả và kết luận: Tỷ lệ Her-2/neu dương tính là 38,5%. Có sự biểu

hiện của Her-2/neu khác nhau giữa các týp mô bệnh học, cao nhất ở

ung thư biểu mô thể tuỷ (44,4%) và thể ống xâm nhập (40,4%), thấp

hơn ở thể thuỳ(7,5%) và thể nhầy (0,3%). Tỷ lệ Her-2/neu dương tính

tăng dần từ độ mô học thấp đến cao lần lượt là 1,2%, 28,5% và 29,5%.

Tỷ lệ Her-2/neu dương tính ở người bệnh có di căn hạch nách cao hơn

người bệnh có hạch nách không thấy di căn lần lượt 65% và 35%

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu yếu tố phát triển biểu mô trong ung thư biểu mô tuyến vú", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu yếu tố phát triển biểu mô trong ung thư biểu mô tuyến vú

Nghiên cứu yếu tố phát triển biểu mô trong ung thư biểu mô tuyến vú
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 129 - 132, 2016
129
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Lê Quang Vinh, Lê Hoàng Linh, Phùng Quang Thuỷ, Nguyễn Thị Thu Hoài
 Bệnh viên Phụ Sản Trung ương
NGHIÊN CỨU YẾU TỐ PHÁT TRIỂN BIỂU MÔ
TRONG UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN VÚ
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ dương tính và tìm hiểu mối liên quan giữa biểu 
lộ Her-2/neu với týp mô bệnh học, độ mô học và tình trạng hạch trong ung 
thư biểu mô của tuyến vú. 
Đối tượng và phương pháp: phương pháp mô tả hồi cứu đã thực hiện trên 
135 trường hợp ung thư vú được phẫu thuật và chẩn đoán xác định bằng 
mô bệnh học, đánh giá biểu lộ của Her-2/neu bằng xét nghiệm hoá mô 
miễn dịch tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 1/ 2005 đến 12/2015. 
Kết quả và kết luận: Tỷ lệ Her-2/neu dương tính là 38,5%. Có sự biểu 
hiện của Her-2/neu khác nhau giữa các týp mô bệnh học, cao nhất ở 
ung thư biểu mô thể tuỷ (44,4%) và thể ống xâm nhập (40,4%), thấp 
hơn ở thể thuỳ(7,5%) và thể nhầy (0,3%). Tỷ lệ Her-2/neu dương tính 
tăng dần từ độ mô học thấp đến cao lần lượt là 1,2%, 28,5% và 29,5%. 
Tỷ lệ Her-2/neu dương tính ở người bệnh có di căn hạch nách cao hơn 
người bệnh có hạch nách không thấy di căn lần lượt 65% và 35%.
Từ khoá: Ung thư biểu mô tuyến vú, nhuộm hoá mô miễn dịch, Her-2/neu.
Abstract 
STUDY ON HER-2/NEU AMPLIFICATION AND 
EXPRESSION IN BREAST CARCINOMA
Objectives: To detect the rate of Her-2/neu expression in breast 
carcinoma and determining the correlation between Her-2/neu 
expresstion and histopathological types, grades and nodal status. 
Materials and methods: The study population of this retrospective 
cross-sectional study was 135 cases of breast cancer were operated and 
diagnosed by histopathology and evaluate the Her-2/neu expression 
by Immunohistochemistry staining. The study was perfomed at the 
National Hospital of Obstetric and Gynecology from January 2005 to 
September 2015.
Results and conclusions: The rate of Her-2/neu positive results in 
135 cases by Imminohistochemistry staining was 38.5%, there were 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Quang Vinh,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):20/04/2016
Từ khoá: Ung thư biểu mô tuyến 
vú, nhuộm hoá mô miễn dịch, 
Her-2/neu. 
Keywords: Breast carcinoma, 
Immunohistochemistrical 
staining, Her-2/neu.
LÊ QUANG VINH, LÊ HOÀNG LINH, PHÙNG QUANG THUỶ, NGUYỄN THỊ THU HOÀI
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
130
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
significance difference in Her-2/neu expression significantly varied between different histopathological 
types. The highest positive rate was medullary carcinoma (44.4%), in descending order of frequency, 
were invasive ductal carcinoma (40.4%), invasive lobular carcinoma (7.5%), mucinous carcinoma 
(0.3%). The carcinoma with higher histological grades were with higher rate of Her-2/neu positive 
results. The rate of Her-2/neu over expression in patients with mettastasied lymph nodes was higher 
than those who were not metastasied, 65% and 35% respectively.
Keywords: Breast carcinoma, Immunohistochemistrical staining, Her-2/neu. 
1. Đặt vấn đề
Tiền gen u Her-2/neu nằm trên nhiễm sắc thể 
17 của đôi nhiễm sắc thể 23 là một trong bốn thụ 
thể của các yếu tố phát triển thượng bì. Nhiều 
nghiên cứu cho thấy Her-2/neu là một trong các 
yếu tố có vai trò tiên lượng quan trọng [1]. Sự bộc 
lộ quá mức tiền gen này nói lên bệnh nhân có tiên 
lương xấu do kháng điều trị hoá chất và hoặc nội 
tiết, nhưng lại có hiệu quả cao trong điều trị nhằm 
trúng đích [2]. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu sự bộc lộ Her-2/neu với mục đích: “Xác 
định tỷ lệ dương tính và tìm hiểu mối liên quan 
giữa biểu lộ Her-2/neu với týp mô bệnh học, độ 
mô học và tình trạng hạch trong ung thư biểu mô 
của tuyến vú”.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 135 người bệnh 
bị ung thư vú được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương từ tháng 01/2005 đến tháng 12/2015.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Các bệnh phẩm ung thư vú được chuyển đúc 
trong paraffin, cắt nhuộm hematoxylin-eosin. Chẩn 
đoán mô bệnh học theo phân loại của Tổ chức Y 
tế thế giới 2003. Phân độ mô học và giai đoạn 
của u theo Uỷ ban liên hợp của Hoa Kỳ về ung thư 
(American Joint Commettee on Cancer năm 2013). 
Nhuộm hoá mô miễn dịch theo phương pháp 
miễn dịch peroxidase trên các tiêu bản chuyển 
đúc paraffin, hoá chất của hãng Dako. Việc tính 
điểm theo tiêu chuẩn của nhà cung cấp Dako, theo 
thang điểm từ 0-3, trong đó chỉ 2(+) và 3(+) mới 
được coi là dương tính, nếu tế bào lành gần tế bào 
u dương tính thì coi là dương tính giả.
Số liệu được xử lý và phân tích mối liên quan 
giữa Her-2/neu với các týp mô bệnh học, độ 
mô học và tình trạng hạch nách bằng phần 
mềm Epi-Info 6.0. Mức ý nghĩa thống kê xác 
lập khi p<0,05.
3. Kết quả nghiên cứu
Tất cả 135 trường hợp ung thư tuyến vú 
trong nghiên cứu này đều đã xâm nhập. Ung 
thư biểu mô ống xâm nhập chiếm tỷ lệ cao nhất 
là 80,7%, tiếp đến là ung thư biểu mô thuỳ xâm 
nhập chiếm 9,6%. Ung thư biểu mô thể tuỷ và 
chế nhầy ít gặp hơn chiếm tỷ lệ lần lượt là 6,7% 
và 3,0%.
Bảng 2 cho thấy 135 trường hợp ung thư biểu 
mô của tuyến vú có 52 trường hợp (38,5%) dương 
tính với Her4-2/neu. Trong đó ung thư biểu mô tuỷ 
có tỷ lệ Her-2/neu dương tính cao nhất (44,4%), 
xếp thứ 2 là ung thư biểu mô ống xâm nhập 
(40,4%). Một số ung thư biểu mô có độ ác tính 
thấp hơn như ung thư thuỳ và ung thư chế nhầy chỉ 
có lần lượt 7,5% và 0,3% bộc lộ Her-2/neu.
Týp mô bệnh học Số ca bệnh Tỷ lệ %
Ung thư biểu mô ống 109 80,7
Ung thư biểu mô thuỳ 13 9,6
Ung thư biểu mô tuỷ 9 6,7
Ung thư biểu mô chế nhầy 4 3,0
Tổng 135 100,0
Bảng 1. Phân bố các týp mô bệnh học của ung thư biểu mô tuyến vú
Týp mô học Số ca bệnh Her-2/neu (+) Tỷ lệ (%)
Ung thư biểu mô ống 109 44 40,4
Ung thư biểu mô thuỳ 13 1 7,5
Ung thư biểu mô tuỷ 9 4 44,4
Ung thư biểu mô chế nhầy 4 1 0,3
Tống số ca bệnh 135 52 38,5
Bảng 2. Liên quan giữa các týp mô bệnh học với bộc lộ Her-2/neu
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 129 - 132, 2016
131
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Biểu đồ 1 cho thấy mức độ Her-2/neu dương 
tính tăng nhanh theo độ mô học từ thấp đến cao (độ 
I, độ II và độ III) lần lượt là 1,2%, 28,5% và 29,5%. 
Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Biểu đồ 2 cho thấy tỷ lệ Her-2/neu dương tính 
trong các trường hợp hạch nách có di căn là 65%, 
cao hơn so với các trường hợp hạch nách không 
thấy di căn với p<0,05.
4. Bàn luận
Her-2/neu là một tiền gen mã hoá thụ thể 
tyrosine kinaza xuyên màng tế bào tương tự thụ 
thể yếu tố phát triển biểu bì. Mối liên quan giữa 
biểu lộ bất thường gen này với tiên lượng, dự 
đoán đáp ứng điều trị, đặc biệt tạo ra cơ hội 
cho người bệnh bị ung thư vú được điều trị nhằm 
trúng đích bằng Trastuzumab đã được nhiều tác 
giả nghiên cứu. Trên thế giới và ở Việt Nam, Her-
2/neu đã được nghiên cứu nhiều nhất là trong 
ung thư vú, các số liệu nghiên cứu sự bộc lộ Her-
2/neu trong ung thư vú thay đổi từ 20%-35%. 
Sự thay đổi trong tỷ lệ bộc lộ này bị ảnh hưởng 
bởi nhiều yếu tố, bao gồm sự sử dụng kháng thể 
khác nhau, dung dịch và kỹ thuật cố định bệnh 
phẩm cũng như việc đánh giá dương tính hay âm 
tính đều ảnh hưởng đến kết quả. Mặc dù các số 
liệu còn chưa thống nhất, song nhìn chung là tỷ 
lệ Her-2/neu dương tính cao trong những u có 
độ ác tính cao và ở giai đoạn muộn [3][4]. Kết 
Biểu đồ 1. Liên quan giữa độ mô học của u với biểu lộ Her-2/neu
Biểu đồ 2. Liên quan giữa di căn hạch nách với biểu lộ Her-2/neu
quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 38,5% số 
trường hợp có Her-2/neu dương tính. 
Trong mối liên quan giữa biểu lộ của Her-2/
neu với các týp mô bệnh học của ung thư biểu 
mô tuyến vú. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
tỷ lệ Her-/neu dương tính có sự khác nhau giữa 
các týp mô bệnh học. Ung thư biểu mô thể tuỷ 
có tỷ lệ Her-2/neu dương tính cao nhất (44,4%), 
kế tiếp là ung thư biểu mô ống xâm nhập 
(40,4%). Kết quả nghiên cứu của Gusterson[5], 
và Borg[6], Trịnh Tuấn Dũng[7] cũng cho thấy 
ung thư thể tuỷ, ung thư ống xâm nhập có tỷ lệ 
bộc lộ Her-2/neu cao nhất. Ung thư biểu mô 
thuỳ xâm nhập và ung thư chế nhầy là những u 
có độ ác tính thấp nên tỷ lệ có Her-2/neu dương 
tính thấp lần lượt là 7,5% và 0,3%. Kết quả này 
cũng phù hợp với nhận xét của Tadon: Ít có biểu 
hiện khuyếch đại Her-2/neu trong ung thư biểu 
mô thể thuỳ và thể nhầy” khi nghiên cứu 401 
trường hợp ung thư vú.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy 
tỷ lệ Her-2/neu dương tính tăng dần theo độ mô 
học có ý nghĩa (p<0,05) từ thấp(độ I), vừa (độ 
II) đến cao (độ III) lần lượt là 1,2%, 28,5% và 
29,5%. Kết quả nghiên cứu của Paik [8], Berger 
[9] và Trịnh Tuấn Dũng [7] cũng cho thấy sự bộc 
lộ quá mức của Her-2/neu ở những u có độ ác 
tính cao. Các u có độ biệt hoá cao và các tế 
bào biểu mô vú lành thường bộc lộ Her-2/neu 
thấp hoặc âm tính. Bộc lộ của Her-2/neu không 
những liên quan mật thiết với độ mô học mà còn 
thể hiện rất rõ trong tình trạng di căn hạch và số 
lượng hạch bị di căn. Nghiên cứu của chúng tôi 
cho thấy, ở những trường hợp hạch có di căn thì 
tỷ lệ Her-2/neu dương tính (65%) cao hơn gần 
gấp đôi có ý nghĩa (p<0,05) tỷ lệ hạch không bị 
di căn mà có Her-2/neu dương tính (35%). Kết 
quả này tương tự kết quả nghiên cứu của Berger 
[9] là 44% trường hợp có di căn hạch thấy bộc lộ 
của Her-2/neu. Như vậy tình trạng di căn hạch 
nách trong ung thư vú có liêh quan mật thiết với 
sự khuyếch đại của Her-2/neu.
5. Kết luận
Từ những kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra 
một số kết luận:
- Tỷ lệ Her-2/neu dương tính là 38,5%.
LÊ QUANG VINH, LÊ HOÀNG LINH, PHÙNG QUANG THUỶ, NGUYỄN THỊ THU HOÀI
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
132
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
- Có sự biểu hiện của Her-2/neu khác nhau 
giữa các týp mô bệnh học. Cao nhất ở ung thư 
biểu mô thể tuỷ và thể ống xâm nhập.
- Tỷ lệ Her-2/neu dương tính tấng dần từ độ mô 
học thấp đến cao.
- Tỷ lệ Her-2/neu dương tính ở người bệnh có di 
căn hạch nách cao hơn người bệnh có hạch nách 
không thấy di căn.
Tài liệu tham khảo
1. Ravdin PM, Chamness GC, et al. The c-erbB-2 proto- oncogene as a 
prognosis and predictive marker in breast cancer for the development of 
other macromolecular markers. Science 1987;235:177-182
2. Cooke T., Reeves J., Lanigan A. et al. HER2 as a prognostic and 
predictive marker for breast cancer. Ann. Oncol. 2001;12:23-8.
3. Thor AD, Schwartz LH, et al. Analysis of c-erbB-2 Expression in breast 
carcinomas with clinical follow-up. Cancer Res 1987;49: 7147-57.
4. Tadon AK, Clark GM, Chamness GC et al. Her-2/neu oncoprotein 
expression in breast cancer. N Engl J Med 20101;322:297-320.
5. Gusterson BA, Gelber RD et al. Prognostic importance of c-erbB-2 
expression in breast cancer. J clin Oncil 1992;10:1049-56.
6. Borg A, Tandon AK, et al. Her-2/neu amplification predicts poor 
survival in node-positive breast cancer. Cancer Res 1990;50:4332-41.
7. Trịnh Tuấn Dũng, Bùi Tuấn Khoa, Nguyễn Thị Ngọc Ánh et al. 
Nghiên cứu mối liên quan giữa biểu lộ của Her-2/neu với các typa mô 
bệnh học và độ mô họ/độ ác tính trong carcinoma của tuyến vú, tiền 
liệt tuyên, đại trực tràng và ung thư phổi không tế bào nhỏ.Tạp chí Y 
Dược Lâm sàng 108 tháng 8/2014;9:41-48.
8. Paik S, Hagan R, et al. Pathologic findings of the National Surgical 
Adjuvant Breast and Bowel Project: Prognostic significance of c-erbB-2 
over expression of primary breast cancer. J Clin Oncol 1990;18:103-12.
9. Berger MS, Locher GW, et al. Correlation of c-erbB-2 gene amplification 
and protein expression in human breast carcinoma with nodal status and 
nuclear grading. Cancer Res 1988;48:1238-43.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_yeu_to_phat_trien_bieu_mo_trong_ung_thu_bieu_mo_t.pdf