Nghiên cứu về rau cài răng lược trong bệnh cảnh rau tiền đạo tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong 3 năm từ 2011 đến 2014

Mục tiêu: Nhận xét thái độ xử trí về rau cài răng lược trong bệnh cảnh

rau tiền đạo tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cỡ mẫu: 46 trường hợp rau cài răng

lược trong bệnh cảnh rau tiền đạo được điều trị tại Bệnh viện Phụ Sản Hà

Nội trong khoảng thời gian từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2014; Phương

pháp nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang dựa trên những hồ sơ bệnh án.

Kết quả: Phẫu thuật cấp cứu: 37%, chủ động chiếm 63%; gây mê nội

khí quản :69,6%; tủy sống: 30,4%; Phẫu thuật lấy thai bằng đường rạch

dọc thân tử cung 69,6%. Tỷ lệ cắt tử cung là 84,8%. 100% RCRL vào cơ

và RCRL thể đâm xuyên phải cắt tử cung. Thời gian phẫu thuật trung bình

là 2,6 ± 1,1 giờ. Phải truyền 89,1% máu, truyền nhiều hơn 5 đơn vị khối

hồng cầu 34,8%. Tai biến cho mẹ chiếm 19,6%: tổn thương bàng quang

10,9%, tổn thương mỏm cắt 8,7% bao gồm chảy máu 6,5% và nhiễm

trùng 2,2%. Tỷ lệ đẻ non chiếm 39,1%, tỷ lệ tử vong sơ sinh chiếm 4,3%.

Kết luận: Rau cài răng lược phối hợp rau tiền đạo là bệnh lý phức tạp

trong xử trí và có nguy cơ cao gây tai biến cho mẹ và con

pdf 4 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu về rau cài răng lược trong bệnh cảnh rau tiền đạo tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong 3 năm từ 2011 đến 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu về rau cài răng lược trong bệnh cảnh rau tiền đạo tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong 3 năm từ 2011 đến 2014

Nghiên cứu về rau cài răng lược trong bệnh cảnh rau tiền đạo tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong 3 năm từ 2011 đến 2014
PHẠM HUY HIỀN HÀO, NGUYỄN HÙNG SƠN, PHAN CHÍ THÀNH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
42
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Phạm Huy Hiền Hào(1), Nguyễn Hùng Sơn(2), Phan Chí Thành(3)
(1) Trường Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, (3) Bệnh viện Phụ sản Trung ương
NGHIÊN CỨU VỀ RAU CÀI RĂNG LƯỢC
TRONG BỆNH CẢNH RAU TIỀN ĐẠO
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
TRONG 3 NĂM TỪ 2011 ĐẾN 2014
Tóm tắt
Mục tiêu: Nhận xét thái độ xử trí về rau cài răng lược trong bệnh cảnh 
rau tiền đạo tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cỡ mẫu: 46 trường hợp rau cài răng 
lược trong bệnh cảnh rau tiền đạo được điều trị tại Bệnh viện Phụ Sản Hà 
Nội trong khoảng thời gian từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2014; Phương 
pháp nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang dựa trên những hồ sơ bệnh án. 
Kết quả: Phẫu thuật cấp cứu: 37%, chủ động chiếm 63%; gây mê nội 
khí quản :69,6%; tủy sống: 30,4%; Phẫu thuật lấy thai bằng đường rạch 
dọc thân tử cung 69,6%. Tỷ lệ cắt tử cung là 84,8%. 100% RCRL vào cơ 
và RCRL thể đâm xuyên phải cắt tử cung. Thời gian phẫu thuật trung bình 
là 2,6 ± 1,1 giờ. Phải truyền 89,1% máu, truyền nhiều hơn 5 đơn vị khối 
hồng cầu 34,8%. Tai biến cho mẹ chiếm 19,6%: tổn thương bàng quang 
10,9%, tổn thương mỏm cắt 8,7% bao gồm chảy máu 6,5% và nhiễm 
trùng 2,2%. Tỷ lệ đẻ non chiếm 39,1%, tỷ lệ tử vong sơ sinh chiếm 4,3%. 
Kết luận: Rau cài răng lược phối hợp rau tiền đạo là bệnh lý phức tạp 
trong xử trí và có nguy cơ cao gây tai biến cho mẹ và con.
Từ khóa: rau cài răng lược thể bám niêm mạc, vào cơ, đâm xuyên; 
rau tiền đạo.
Abstract 
 RESEARCH ON PLCENTA ACCRETA IN 
PLACENTA PREVIA IN HANOI OB-GYN HOSPITAL 
FROM 2011 TO 2014
Objective: Reviews of placenta acreta in placenta previa management 
in Hanoi OB-GYN Hospital. 
Materials and methods: sample size: 46 cases of placenta acreta 
in placenta previa being treated at Hanoi Obstetrics Hospital during 
the period from 6/2011 to 6/2014; The methodology: describes a 
retrospective cross-sectional study based on medical records. 
Results: Cesarean section in emergency: 37% and in schedule 63%; 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Huy Hiền Hào,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: Rau cài răng lược thể 
bám niêm mạc, vào cơ, đâm 
xuyên; rau tiền đạo. 
Keywords: Placenta accreta, 
increta, percreta; placenta previa.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 42 - 45, 2016
43
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Rau cài răng lược (RCRL) là một biến chứng 
của thai kỳ về bất thường sự bám dính của bánh 
rau vào cơ tử cung, có khả năng đe dọa tính 
mạng của người mẹ và thai nhi. Gần đây, tần 
xuất bệnh có xu hướng gia tăng cùng với tỷ lệ 
mổ lấy thai và nạo hút thai. Tại Mỹ, tần xuất 
của bệnh từ 2002 là 1/1205 [1]. Tại Việt Nam, 
nghiên cứu của Lê Thị Hương Trà năm 2012, tỷ 
lệ RCRL trong tổng số bệnh nhân vào đẻ tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương là 0,1% [2]. Nghiên cứu 
của Đinh Văn Sinh cho thấy tỷ lệ RCRL trên các 
sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ năm 2011 là 21,8% [4]. 
Trong số RCRL thì 80% gặp trên những trường 
hợp rau tiền đạo (RTĐ). Việc chẩn đoán trước mổ 
và xử trí cầm máu trong mổ RCRL còn gặp nhiều 
khó khăn. Tỷ lệ tử vong của RCRL khoảng 7%, 
trong đó tỷ lệ tử vong của RTĐ chỉ khoảng 1%. 
Tại bệnh viện phụ sản Hà Nội, những năm gần 
đây tỉ lệ mổ lấy thai tăng lên nhiều: năm 2010 
là 40,99%,năm 2014 là 55,81% và đương nhiên 
tỉ lệ RCRL cũng tăng lên theo, do đó nghiên cứu 
này với mục tiêu: Nhận xét xử trí về rau cài răng 
lược trong bệnh cảnh rau tiền đạo tại bệnh viện 
Phụ sản Hà Nội.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những sản phụ được chẩn đoán và điều trị 
RCRL trong RTĐ được mổ đẻ tại BVPSHN trong 3 
năm (01/01/2012 – 31/12/2014) qua kết quả 
GPBL hoặc được chẩn đoán trước đẻ là RCRL có 
RTĐ qua siêu âm Doppler.
endotracheal anesthesia 69.6 and spinal cord: 30.4%; Longitudinal Corporal uterine incision 69.6%. 
The hysterectomy rate were 84.8% , placenta increta and percreta were 100% . Average surgical time 
was 2.6 ± 1.1 h hours. The rate of blood transfusions 89.1%, more than 5 units of PRBCs (packed red 
blood cells): 34.8%. Maternal complications rate 19.6%: bladder lesions (10.9%), surgical stump lesions: 
8.7% include bleeding 6.5% and infection 2.2%. The preterm neonates 39.1%, neonatal mortality 4.3%. 
Conclusions: placenta accreta in placenta previa were complicated management and high-risk 
for mother and child.
Keywords: Placenta accreta, increta, percreta; placenta previa.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt 
ngang, dựa trên những hồ sơ bệnh án của các thai 
phụ đã được chẩn đoán sau đẻ là RCRL có RTĐ.
Tổng số có 46 trường hợp rau cài răng lược 
trong bệnh cảnh rau tiền đạo được điều trị tại Bệnh 
viện Phụ sản Hà Nội trong khoảng thời gian từ 
tháng 6/2011 đến tháng 6/2014 .
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
- Tuổi mẹ: ≤ 29tuổi : 6,5%; 30 – 34 tuổi: 54,3%; 
35 tuổi trở lên: 39,2% Tuổi mẹ trung bình: 34,54 
± 4,15 tuổi.Tuổi thấp nhất là 27 tuổi và lớn nhất 
là 43 tuổi.
- Nghề nghiệp: lao động tự do: 45,7%; cán 
bộ công chức: 32,6%, nông dân: 17,4%; công 
nhân chỉ: 4,3%.
- Vùng dân cư: nông thôn: 65,2%, thành thị: 34,8%.
- Tiền sử sản khoa: chưa có con nào chiếm 4,3% 
(có 2/46 ) con rạ; 95,7%.
- Tiền sử nạo hút thai: Không: 37,0% ; Có: 
63%, 1 lần: 21,7%, 2 lần: 21,7%, từ 3 lần trở 
lên: 19,6%.
- Tiền sử mổ lấy thai: Không: 19,6%; Có: 80,4%, 
1 lần: 52,2%, 2 lần: 23,9%, 3 lần: 4,3%.
- Biểu hiện triệu chứng lâm sàng: Không: 
39,1%, Chảy máu: 54,3%, đau bung: 52,2%, chảy 
máu và đau bụng: 47,8%
- Tuổi thai: <34 tuần: 26,1%, ≥34: 73,9%, 34 – 
37: 56,5%; > 37: 17,4%; tuổi thai trung bình vào 
viện là 35,9 ± 3,3 tuần, thấp nhất: 28 tuần, lớn 
nhất: 40 tuần.
- Loại rau tiền đạo theo siêu âm trước mổ: trung 
p > 0,05. 
 p < 0,005.
- Tai biến phẫu thuật: 19,6% (9/46) ; tổn thương 
bàng quang: 10,9% (5/46); Tổn thương mỏm cắt: 8,7% 
(4/46) trong đó chảy máu mỏm cắt TC: 6,5% (3/46), 
nhiễm trùng mỏm cắt: 2,2% (1/46). 2 trường hợp phải 
mổ lại do chảy máu mỏm cắt gây chảy máu trong ổ 
bụng và 1 trường hợp khối tụ máu lớn ở phần phụ.
- Tuổi thai khi sinh trung bình là 36,9 ± 3,7 tuần. 
37 tuần: 60,9% 
nhỏ nhất là 28 tuần 3 ngày và lớn nhất là 40 tuần.
- Cân nặng sơ sinh trung bình là 2840 ± 537g, 
nhẹ nhất là 1300g và nặng nhất là 4100g. Có 
19,6% trẻ sơ sinh cân nặng dưới 2500g.
- Tỷ lệ sơ sinh ngạt phút thứ nhất < 7 điểm: 30,4; 
phút thứ năm < 7: 10,9%.
- 2 trường hợp tử vong sơ sinh: 4,3% (2/46); 1 
trường hợp do thai 28 tuần non tháng, 1 trường hợp 
do đình chỉ thai nghén vì thai đa dị tật.
4. Bàn luận
Tỷ lệ phẫu thuật cấp cứu chiếm 37%, đối với 63% 
trường hợp có chỉ định phẫu thuật lấy thai chủ động, 
chỉ 39,1% được chẩn đoán rau cài răng lược trước mổ. 
Theo nghiên cứu của Bạch Cẩm An thì chỉ định phẫu 
thuật cấp cứu trong rau cài răng lược chiếm 12,5%, bán 
cấp cứu 62,5% và chủ động 25% [5]. Nghiên cứu của 
Lê Hoài Chương cho thấy tỷ lệ rau cài răng lược phải 
mổ cấp cứu là 41% trong đó 25,6% là do chảy máu; 
đồng thời tỷ lệ chẩn đoán được rau cài răng lược trước 
mổ trong số bệnh nhân mổ chủ động là 23,1% [6]. 
Tỷ lệ gây tê tủy sống trong phẫu thuật chiếm 30,4%, 
còn lại 69,6% trường hợp phải gây mê nội khí quản. 
PHẠM HUY HIỀN HÀO, NGUYỄN HÙNG SƠN, PHAN CHÍ THÀNH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
44
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
tâm: 82,6%, bám thấp: 6,5%, bám mép: 10,9%. 
82,6% các trường hợp rau cài răng lược xảy ra ở 
bệnh nhân rau tiền đạo bám vào mặt trước tử cung.
- Nồng độ Hemoglobin trung bình trước mổ là 
104,8 ± 20,3 g/l, có 2 trường hợp thấp nhất là 
47 g/l. - Tỷ lệ thiếu máu trước mổ là 32,6% trong 
đó có 8,7% sản phụ bị thiếu máu nặng. Tỷ lệ thiếu 
máu sau mổ là 43,5% trong đó có 10,9% sản phụ 
bị thiếu máu nặng.
- Chỉ định mổ lấy thai: cấp cứu 37%, trong đó 
do chảy máu chiếm 70,6%; chủ động: 63%.
- Phương pháp vô cảm: gây tê tủy sống: 30,4%, 
gây mê nội khí quản: 69,6%.
- p < 0,05.
- Bóc rau: Tỷ lệ bóc rau là 15,2%, không bóc 
rau cắt TC ngay là 84,8%.
- Tỷ lệ cắt tử cung là 84,8%, trong đó có 3 
trường hợp cắt tử cung hoàn toàn, còn lại là cắt 
tử cung bán phần. 1 trường hợp phải cắt tử cung 
và thắt động mạch hạ vị để cầm máu. Tỷ lệ bảo 
tồn được tử cung chiếm 15,2%, tất cả 7 trường 
hợp này đều là loại rau bám chặt. Không có 
trường hợp rau cài răng lược nào ăn sâu vào lớp 
cơ mà bảo tồn được tử cung. Có 7 trường hợp 
rau đâm xuyên, trong đó 5 trường hợp xâm lấn 
bàng quang.
- Thời gian phẫu thuật trung bình là 2,6 ± 1,1 
giờ, nhanh nhất là 1 giờ và kéo dài nhất là 7h. Thời 
gian 4h: 6,5%
- Nồng độ Hemoglobin trung bình sau mổ là 
100,2 ± 19,3 g/l, có 2 trường hợp thiếu máu rất 
nặng với nồng độ Hemoglobin là 35 g/l và 54 
g/l (p > 0,05)
Rạch ngang đoạn dưới Rạch dọc thân Tổng
N % N % N %
Mổ chủ động 4 8,7 25 54,3 29 63
Mổ cấp cứu 10 21,7 7 15,2 17 37
Tổng 14 30,4 32 69,6 46 100
Bảng 1. Đường rạch tử cung và chỉ định mổ
Loại
0 KHC 1-4 KHC ≥5 KHC Tổng
N % N % N % N %
Bám thấp 1 2,2 1 2,2 1 2,2 3 6,6
Bám mép 2 4,3 3 6,5 0 0 5 10,8
Trung tâm 2 4,3 21 45,7 15 32,6 38 82,6
Tổng 5 10,9 25 54,3 16 34,8 46 100
Bảng 2. Liên quan giữa lượng máu phải truyền và loại rau tiền đạo
0 KHC 1-4 KHC ≥5 KHC Tổng
N % N % N % N %
R. bám chặt 5 10,9 3 6,5 1 2,2 9 19,6
RCRL 00 0 20 43,5 10 21,7 30 65,2
R. đâm xuyên 0 0 2 4,33 5 10,9 7 15,2
Tổng 5 10,9 25 54,3 16 4,8 46 100
 Bảng 3. Liên quan giữa lượng máu phải truyền và loại rau cài răng lược
Biểu đồ 1. Loại rau cài răng lược và cắt tử cung
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 42 - 45, 2016
45
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
So sánh với nghiên cứu của Đinh Văn Sinh gây mê toàn 
thân chiếm 46,8% [4], nghiên cứu của Lê Thị Hường 
gây mê chiếm 45,4% [7] thì kết quả của chúng tôi cao 
hơn các tác giả trên. 
- Tỷ lệ phẫu thuật rạch ngang đoạn dưới tử cung lấy 
thai chiếm 30,4%, trong đó chủ yếu là các bệnh nhân 
mổ cấp cứu 21,7% so với mỏ chủ động 8,7%. Phẫu 
thuật lấy thai bằng đường rạch dọc thân tử cung chiếm 
tỷ lệ 69,6%, nhóm mổ chủ động 54,3% cao hơn mổ 
cấp cứu 15,2% ; đối với những bệnh nhân mổ theo kế 
hoạch, phẫu thuật viên có đánh giá đầy đủ về các yếu 
tố của bệnh nhân, đặc biệt là thể RCRL nên chủ động 
lựa chọn đường rạch dọc thân ngay từ đầu để hạn chế 
chảy máu (25/32 trường hợp).
Khi mổ RCRL có bóc rau hay không là một câu hỏi 
còn nhiều bàn cãi. Trong thực tế chúng tôi nhận thấy 
tùy từng trường hợp cụ thể: RCRL thể bám chặt, bệnh 
nhân trẻ tuổi, có nhu cầu sinh con nữa thì cố gắng bóc 
rau bảo tồn tử cung; RCRL vào cơ và RCRL đâm xuyên 
thì không bóc rau chủ động cắt TC. Vì có một số trường 
hợp trong thực tế có bóc rau nhưng thất bại phải cắt TC 
mà không thể hiện ở trong hồ sơ bệnh án.
- Tỷ lệ cắt tử cung 84,8%, không có trường hợp rau 
cài răng lược và rau đâm xuyên nào mà bảo tồn được tử 
cung. Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả của tác 
giả Lê Hoài Chương: tỷ lệ cắt tử cung là 82,1% và các 
trường hợp rau đâm xuyên phải cắt tử cung 100% [6]. 
Theo Cieminski A cắt tử cung do rau cài răng lược chiếm 
48,4% cắt tử cung do rau tiền đạo và chiếm 32,3% tất 
cả các loại chỉ định cắt tử cung trong sản khoa [8]. Tỷ lệ 
cắt tử cung do rau cài răng lược trong rau tiền đạo của 
tác giả Phạm Thị Phương Lan là 57,8% [3].
- Trong nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy thời 
gian phẫu thuật trung bình là 2,6 ± 1,1. Có đến 80,4% 
các cuộc phẫu thuật kéo dài từ 2- 4 giờ. Mặt khác, thời 
gian phẫu thuật phụ thuộc vào loại rau cài răng lược, 
loại rau tiền đạo chảy máu, mổ cũ dính, tổn thương các 
tạng kèm theo, khống chế chảy máu khi mổ.
- Tỷ lệ này trong nghiên cứu của chúng tôi là 89,1% 
trong đó 34,8% bệnh nhân phải truyền từ 5 đơn vị khối 
hồng cầu trở lên. 15/16 trường hợp phải truyền máu > 
5 đơn vị khối hồng cầu thuộc nhóm rau tiền đạo trung 
tâm, 15/16 trường hợp rau cài răng lược trong cơ và 
đâm xuyên; một trường hợp rau báo thấp kèm theo rau 
cài răng lược đâm xuyên, 1 trường hợp rau bám chặt 
trường hợp này chảy máu là do mổ cũ dính. Tác giả 
Lê Thị Hường cũng đưa ra nhận xét: rau tiền đạo trung 
tâm và bán trung tâm có nguy cơ mất máu phải truyền 
máu cao gấp 2,5 lần so với rau bám mép và rau bám 
thấp [7]. Cả 5 bệnh nhân không phải truyền máu trong 
nghiên cứu đều thuộc nhóm rau bám chặt. Theo Wright 
J. D (2011) thể tích máu mất trong mổ trung bình ở các 
trường hợp rau cài răng lược là 3000ml [9].
- 9 trường hợp có tai biến phẫu thuật cho mẹ chiếm 
tỷ lệ 19,6%, chủ yếu tổn thương bàng quang 10,6%, 
các trường hợp này là do rau đâm xuyên có tổn thương 
bàng quang trước đó cộng với mổ cũ dính đây là những 
trường hợp bất khả kháng; ngoài ra còn gặp những 
trường hợp tổn thương mỏm cắt 6,7% như mỏm cắt bị 
chảy máu, nhiễm trùng đây là những trường hợp thuộc 
về kỹ thuật mổ. Kết quả của chúng tôi thấp hơn tác giả 
Lê Hoài Chương tiến hành nghiên cứu xử trí rau cài 
răng lược tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương ghi nhận tỷ 
lệ tai biến là 48,7% [6]. 
- Nghiên cứu của chúng tôi có tuổi thai trung bình 
là 36,9 ± 3,7 tuần, tỷ lệ đẻ non <37 tuần: 39,1%, tỷ 
lệ này của chúng tôi giống với tác giả Lê Thị Hường 
(37,8%) [7] nhưng thấp hơn Đinh văn Sinh (40,9%) [4]. 
Tỷ lệ trẻ sơ sinh < 34 tuần: 8,7%, cân nặng < 2500g là 
19,6% trong đó có 2 trường hợp là trẻ đủ tháng; Theo 
nghiên cứu của Đinh Văn Sinh tỷ lệ cân nặng < 2500g 
là 30,9% [4]; Theo tác giả Lê Thị Hường tỷ lệ cân nặng 
< 2500g là 19,5% tương đương như nghiên cứu [7].
5. Kết luận
Rau cài răng lược phối hợp rau tiền đạo là bệnh lý 
phức tạp trong xử trí và có nguy cơ cao gây tai biến 
cho mẹ và con
Tài liệu tham khảo
1. Eller, AG, Porter, TF, Soisson, P, Silver, RM. Optimal management strategies for placenta 
accrreta. BJOG 2009; 116: 648.
2. Lê Thị Hương Trà. Nghiên cứu về rau cài răng lược có can thiệp phẫu thuật tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương trong 5 năm 2007- 2011. luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học 
Y Hà Nội. 2012; Tr 52.
3. Phạm Thị Phương Lan. Biến chứng của rau tiền đạo ở những sản phụ có sẹo mổ tử 
cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1/ 2002 – 12/ 2006. Luận văn tốt nghiệp 
thạc sỹ y khoa ,Trường Đại học Y Hà Nội. 2007; tr 74.
4. Đinh Văn Sinh. Nhận xét chẩn đoán và thái độ xử trí rau tiền đạo ở thai phụ có sẹo 
mổ đẻ cũ tại BVPSTƯ trong 2 năm 2008 – 2009. Luận văn thạc sĩ. Trường Đại học Y Hà 
Nội. 1020; tr. 22- 25.
5. Bạch Cẩm An và CS. Nhận xét một số trường hợp rau cài răng lược xâm lấn bàng quang 
trên vết mổ cũ. Hội nghị Sản Phụ khoa Việt – Pháp tháng 4/ 2011. Chuyên đề Hỗ trợ sinh 
sản - Vô sinh - Sản phụ khoa. 2011; tr. 195 – 201.
6. Lê hoài Chương. Nghiên cứu xử trí rau cài răng lược tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 
trong 2 năm 2010 – 2011. Tạp chí Y học thực hành. 2012; (848), số 11, tr 32.
7. Lê Thị Hường. Nhận xét về chẩn đoán và xử trí rau tiền đạo ở những sản phụ có sẹo 
mổ lấy thai tại bệnh viện phụ sản Thanh Hóa. Luận văn bác sỹ chuyên khoa cấp II. Trường 
Đại học Y Hà Nội. 2014.
8. Cieminski A., Dlugoliecki F. Placenta previa accreta”, Ginekol Pol. Dec 2004; 759120: 919 – 925.
9. Wright J. D, Pri – Paz S., Herzog T. J, et al. Predictor of massive blood loss in women with 
placenta accrete”, Am J Obstet Gynecol. 2011; 205:38. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ve_rau_cai_rang_luoc_trong_benh_canh_rau_tien_dao.pdf