Nghiên cứu về chỉ định và tai biến của forceps trong hai năm 2004 và 2014

Mục tiêu: Nhận xét chỉ định và tai biến của forceps tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong 2 năm 2004 và 2014.

Đối tượng nghiên cứu: 1067 sản phụ được làm forceps tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong 2 năm (năm 2004 là 511 đối tượng, năm 2014 là 556 đối tượng) đảm bảo các tiêu chuẩn lựa chọn và không có

tiêu chuẩn loại trừ được lấy vào nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả có so sánh 2 giai đoạn cách nhau 10 năm

pdf 7 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu về chỉ định và tai biến của forceps trong hai năm 2004 và 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu về chỉ định và tai biến của forceps trong hai năm 2004 và 2014

Nghiên cứu về chỉ định và tai biến của forceps trong hai năm 2004 và 2014
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 73 - 79, 2016
73
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Đặng Thị Minh Nguyệt(1), Đỗ Thị Vân(2)
(1) Trường Đại học Y Hà Nội, (2) Trường Cao đẳng Y tế Hải Phòng
NGHIÊN CỨU VỀ CHỈ ĐỊNH VÀ TAI BIẾN
CỦA FORCEPS TRONG HAI NĂM 2004 VÀ 2014
Tóm tắt
Mục tiêu: Nhận xét chỉ định và tai biến của forceps tại Bệnh viện 
Phụ sản Trung ương trong 2 năm 2004 và 2014. 
Đối tượng nghiên cứu: 1067 sản phụ được làm forceps tại Bệnh viện 
Phụ sản Trung ương trong 2 năm (năm 2004 là 511 đối tượng, năm 
2014 là 556 đối tượng) đảm bảo các tiêu chuẩn lựa chọn và không có 
tiêu chuẩn loại trừ được lấy vào nghiên cứu. 
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả có so sánh 2 giai đoạn cách 
nhau 10 năm. 
Kết quả: Năm 2004, các chỉ định làm forceps bao gồm 39,1% sản phụ 
rặn yếu; 40,1% suy thai; 13,3% sản phụ có sẹo mổ cũ; Năm 2014, các chỉ 
định làm forceps bao gồm 55% sản phụ rặn yếu; 29,0% suy thai; 8,3% sản 
phụ có sẹo mổ cũ; Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng rặn yếu, 
suy thai, sẹo mổ cũ ở những sản phụ đẻ forceps trong 2 năm 2004 và 2014. 
Năm 2004, các trường hợp tai biến con bao gồm 10,2% xây xát da đầu, mắt 
và mặt; 1,0% tụ máu dưới da đầu; 2 trường hợp tổn thương mắt và 1,0% liệt 
thần kinh VII. Năm 2014, các trường hợp tai biến con bao gồm 20,7% xây 
xát da đầu, mắt và mặt; 1,1% tụ máu dưới da đầu và 3 trường hợp liệt thần 
kinh VII. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê tụ máu dưới da đầu, tổn 
thương mắt, liệt thần kinh số VII của trẻ trong 2 năm 2004 và 2014 ở những 
trường hợp đẻ forcep. Năm 2004, tỷ lệ các tai biến của sản phụ sau làm 
forceps bao gồm 5,7% rách âm đạo, 5,3% rách cổ tử cung, 2,2% rách tầng 
sinh môn độ 1 và 2, có 4 trường hợp chảy máu. Năm 2014, tỷ lệ các tai biến 
của sản phụ sau làm forceps bao gồm 3,8% rách âm đạo, 4,9% rách cổ tử 
cung, 2,4% rách tầng sinh môn độ 1, độ 2 và độ 3; có 6 trường hợp chảy 
máu và 1 trường hợp vỡ tử cung. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê 
giữa tai biến rách âm đạo, rách cổ tử cung, vỡ tử cung và chảy máu ở những 
sản phụ đẻ forceps trong 2 năm 2004 và 2014. Năm 2004, có 3 trường hợp 
truyền từ 2 đơn vị máu trở xuống và 1 trường hợp truyền trên 2 đơn vị máu; 
Năm 2014, có 4 trường hợp truyền từ 2 đơn vị máu trở xuống và 4 trường 
hợp truyền trên 2 đơn vị máu; 2 trường hợp mổ cắt tử cung và 1 trường hợp 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đặng Thị Minh Nguyệt, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: forceps, chỉ định, tai 
biến.
Keywords: forceps, indication, 
complication.
nên nghiêm trọng nếu chỉ định không đúng và điều 
kiện thủ thuật không được tuân thủ. Chính vì vậy 
mà đa số người dân và thậm chí một số nhân viên 
y tế cảm thấy e ngại forceps. Bên cạnh đó, kĩ thuật 
mổ lấy thai trở nên phổ cập khiến cho thủ thuật 
forceps dần được thay thế bởi mổ lấy thai trong 
ĐẶNG THỊ MINH NGUYỆT, ĐỖ THỊ VÂN
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
74
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Ngay từ thập kỉ 60 của thế kỷ 16, forceps đã 
được các thầy thuốc sản khoa sử dụng [1],[2]. Từ 
đó đến nay, forceps không ngừng được cải tiến về 
cấu tạo, nhằm mục đích hạn chế các tai biến cho 
mẹ và trẻ sơ sinh. Các tai biến sẽ gia tăng và trở 
mổ thắt động mạch tử cung, động mạch hạ vị. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa xử trí tai biến bằng 
truyền máu trong 2 năm 2004 và 2014 ở những sản phụ đẻ forceps. 
Kết luận: Chỉ định của thủ thuật chủ yếu là mẹ rặn yếu (40,1% năm 2004; 61,3% năm 2014) và 
suy thai (46,8% năm 2004; 29,0% năm 2014). Tai biến mẹ và con thấp, không nặng nề. năm 2014 
có 1 trường hợp vỡ tử cung. 
Từ khóa: forceps, chỉ định, tai biến.
Abstract 
RESEARCH ON THE INDICATIONS AND COMPLICATIONS OF FORCEPS 
IN 2004 AND 2014
Object: Assessment of indications and complications of forceps at the National hospital of 
obstetrics and gynecology (NHOG) in 2004 and 2014. 
Subjects: 1067 patients was used forceps at NHOG in 2 years (511 patients in 2004, 556 patients 
in 2014) ensure the selection criteria and no exclusion criteria were taken for study. 
Method: Descriptive retrospective, comparing 2 phase separated 10 years. 
Result: In 2004, indications of forceps included: 39.1% was weak straining, 40.1% was fetal distress, 
13.3% with Caesarean scar. In 2014, indications of forceps included: 55% was weak straining, 29.0% was 
fetal distress, 8.3% with Caesarean scar. Among pregnant women was used forceps, the difference was 
statistically significant between weak straining, fetal distress, and Caesarean scar in 2004 and 2014. In 2004, 
complications of forceps included: 10.2% was scratching the scalp, eyes and face; 1.0% was hematoma 
under the scalp, 2 cases witheye damage and 1.0% was nerve VII paralysis. In 2014, complications included: 
20.7% was scratching the scalp, eyes and face; 1.1% was hematoma under the scalp and 3 cases with 
nerve VII paralysis. Among pregnant women was used forceps, the difference was statistically significant 
between scratching the scalp, eyes and face; hematoma under the scalp; and nerve VII paralysis in 2004 
and 2014. In 2004: the rate of complications of forceps was: 5.7% was vaginal tearing, 5.3% was cervical 
tearing, 2.2% was degree 1 and 2 perineal tearing, 4 cases of bleeding.In 2014: the rate of complications 
of forceps was: 3.8% was vaginal tearing, 4.9% was cervical tearing, 2.4% was degree 1.2 and 3 perineal 
tearing, 6 cases of bleeding and 1 case of uterine rupture. Among pregnant women was used forceps, the 
difference was statistically significant between vaginal tearing, cervical tearing, uterine rupture, and bleeding 
in 2004 and 2014. In 2004: 3 cases of transmission from 2 units of blood or less and 1 case of transmission 
more than 2 units of blood. In 2014: 4 cases of transmission from 2 units of blood or less and 4 cases of 
transmission more than 2 units of blood; 2 cases of hysterectomy and 1 case of uterine artery, hypogastric 
artery ligation surgery.Among pregnant women was used forceps, the difference was statistically significant 
between management methods of complications with blood transfusion in 2004 and 2014. 
Conclusion: weak straining ( 40.1% in 2004; 61.3% in 2014) and fetal distress (46.8% in 2004; 
29.0% in 2014) were the mainly indications of forceps. Maternal and neonatal complications were 
low, not heavy. In 2014, 1 case of uterine rupture.
Key words: forceps, indication, complication.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 73 - 79, 2016
75
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
những trường hợp cấp cứu cần cân nhắc giữa mổ 
đẻ hay forceps. Tuy nhiên forceps vẫn là lựa chọn 
tốt, an toàn khi làm đúng chỉ định, điều kiện và 
đúng kỹ thuật, giúp giảm tỷ lệ mổ lấy thai. Thời 
gian gần đây các nghiên cứu về forceps không 
nhiều. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề 
tài này nhằm mục tiêu: Nhận xét chỉ định và tai 
biến của forceps tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 
trong 2 năm 2004 và 2014.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Có 1067 đối tượng nghiên cứu với đầy đủ hồ 
sơ mẹ và con được làm forceps tại Bệnh viện Phụ 
sản Trung ương trong 2 năm (năm 2004 là 511 đối 
tượng, năm 2014 là 556 đối tượng) đảm bảo các 
tiêu chuẩn lựa chọn và không có tiêu chuẩn loại trừ 
được lấy vào nghiên cứu.
2.1.Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả các sản phụ có hồ sơ đẻ forceps tại 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong 2 năm 2004 
và 2014.
- Có đầy đủ thông tin cần cho nghiên cứu.
2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các hồ sơ bệnh án không có đầy đủ thông tin.
- Làm forceps ở nơi khác được chuyển tới Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Hồi cứu mô tả có so sánh 2 giai đoạn cách 
nhau 10 năm.
3. Kết quả
3.1. Tỷ lệ đẻ forceps
Nhận xét:
- Tỷ lệ sản phụ đẻ bằng forceps năm 2004 là 
4,1% giảm xuống còn 2,6% vào năm 2014.
Biểu đồ 1. Tỷ lệ đẻ forceps và các phương pháp đẻ khác
3.2. Chỉ định forceps
Nhận xét:
- Năm 2004, các chỉ định làm forceps bao 
gồm 39,1% sản phụ rặn yếu; 40,1% suy thai; 
13,3% sản phụ có sẹo mổ cũ; 3,7% sản phụ có 
bệnh tim; 2,0% sản phụ tăng huyết áp; 1,8% sản 
phụ hen phế quản; có 1 trường hợp duy nhất sản 
phụ lao phổi.
- Năm 2014, các chỉ định làm forceps bao gồm 
55% sản phụ rặn yếu; 29,0% suy thai; 8,3% sản 
phụ có sẹo mổ cũ; 2,0% sản phụ có bệnh tim; 3,4% 
sản phụ tăng huyết áp; 1,6% sản phụ hen phế 
quản và có 4 trường hợp sản phụ lao phổi.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng 
rặn yếu, suy thai, sẹo mổ cũ ở những sản phụ đẻ 
forceps trong 2 năm 2004 và 2014. 
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa 
tình trạng mắc bệnh tim, tăng huyết áp, lao phổi 
và hen phế quản ở những sản phụ đẻ forceps trong 
2 năm 2004 và 2014.
3.3. Giảm đau trong đẻ
Nhận xét:
- Năm 2004 không có trường hợp nào làm 
giảm đau trong khi đẻ.
- Năm 2014 có 70,0% trường hợp làm giảm 
đau trong đẻ.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa giảm đau 
trong khi đẻ ở những sản phụ đẻ forceps trong 2 
năm 2004 và 2014.
3.4. Tai biến con
Nhận xét:
- Năm 2004, các trường hợp tai biến con bao 
gồm 10,2% xây xát da đầu, mắt và mặt; 1,0% tụ 
Năm
Chỉ định
2004 (N=511) 2014 (N=556)
p
N % N %
Mẹ rặn yếu 200 39,1 306 55
P< 0,05
Suy thai 205 40,1 161 29,0
Sẹo mổ cũ 68 13,3 46 8,3
Bệnh tim 19 3,7 11 2,0
THA 10 2,0 19 3,4
Lao phổi 1 0,2 4 0,7
Hen phế quản 9 1,8 9 1,6
Bảng 1. Chỉ định làm forceps
Năm
Giảm đau
2004 2014
p
N % N %
Có 0 0,0 389 70,0
P< 0,001
Không 511 100 167 30,0
Bảng 2. Giảm đau trong đẻ
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa tai 
biến rách âm đạo, rách cổ tử cung, vỡ tử cung và 
chảy máu ở những sản phụ đẻ forceps trong 2 năm 
2004 và 2014.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tai biến 
rách tầng sinh môn ở những sản phụ đẻ forceps 
trong 2 năm 2004 và 2014.
3.6. Xử trí tai biến của mẹ
Nhận xét:
- Năm 2004, có 3 trường hợp truyền từ 2 đơn 
vị máu trở xuống và 1 trường hợp truyền trên 2 
đơn vị máu; 9,0% có khâu phục hồi đường dưới; 
1 trường hợp mổ cắt tử cung. Năm 2014, có 4 
trường hợp truyền từ 2 đơn vị máu trở xuống và 4 
trường hợp truyền trên 2 đơn vị máu; 7,4% có khâu 
phục hồi đường dưới; 2 trường hợp mổ cắt tử cung 
và 1 trường hợp mổ thắt động mạch tử cung, động 
mạch hạ vị.. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 
xử trí tai biến bằng truyền máu trong 2 năm 2004 
và 2014 ở những sản phụ đẻ forceps. Sự khác biệt 
không có ý nghĩa thống kê giữa xử trí tai biến bằng 
mổ thắt động mạch tử cung và động mạch hạ vị, 
mổ cắt tử cung và khâu phục hồi đường dưới trong 
2 năm 2004 và 2014 ở những sản phụ đẻ forceps.
4. Bàn luận
4.1. Về tỷ lệ đẻ forceps
Tỷ lệ sản phụ đẻ bằng forceps năm 2004 là 4,1% 
giảm xuống còn 2,6% vào năm 2014. Một trong 
những nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ sản phụ 
chọn hình thức mổ đẻ tăng cao là do sự tiến bộ của 
gây mê hồi sức, kháng sinh, kỹ thuật mổ có nhiều 
tiến bộ hơn trước, phẫu thuật viên tay nghề ngày một 
tốt hơn và phẫu thuật này ngày càng có nhiều bác sĩ 
làm được. Ngoài ra, phương pháp mổ đẻ được tiến 
hành nhanh với chi phí không quá đắt nên bác sĩ 
máu dưới da đầu; 2 trường hợp tổn thương mắt và 
1,0% liệt thần kinh VII.
- Năm 2014, các trường hợp tai biến con bao 
gồm 20,7% xây xát da đầu, mắt và mặt; 1,1% tụ 
máu dưới da đầu và 3 trường hợp liệt thần kinh VII.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tai biến 
xây xát da đầu, mắt và mặt của trẻ trong 2 năm 
2004 và 2014 ở những trường hợp đẻ forcep.
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê tụ máu 
dưới da đầu, tổn thương mắt, liệt thần kinh số VII 
của trẻ trong 2 năm 2004 và 2014 ở những trường 
hợp đẻ forcep.
3.5. Tai biến của sản phụ
Nhận xét:
- Năm 2004, tỷ lệ các tai biến của sản phụ 
sau làm forceps bao gồm 5,7% rách âm đạo, 5,3% 
rách cổ tử cung, 2,2% rách tầng sinh môn độ 1 và 
2, có 4 trường hợp chảy máu và không trường hợp 
nào vỡ tử cung.
- Năm 2014, tỷ lệ các tai biến của sản phụ 
sau làm forceps bao gồm 3,8% rách âm đạo, 4,9% 
rách cổ tử cung, 2,4% rách tầng sinh môn độ 1, độ 
2 và độ 3; có 6 trường hợp chảy máu và 1 trường 
hợp vỡ tử cung
ĐẶNG THỊ MINH NGUYỆT, ĐỖ THỊ VÂN
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
76
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Năm
Tai biến
2004 (N=511) 2014 (N=556)
p
N % N %
Xây xát da đầu, 
mắt, mặt
Có 52 10,2 115 20,7
0,000
Không 459 89,8 441 79,3
Tụ máu dưới 
da đầu
Có 5 1,0 6 1,1
0,871
Không 506 99,0 550 89,9
Tổn thương mắt
Có 2 0,4 0 0,0
Không 509 99,6 556 100
Liệt TK VII
Có 5 1,0 3 0,5
0,406
Không 506 99,0 553 99,5
Bảng 3. Tai biến con
Năm
Tai biến
2004 (N=511) 2014 (N=556)
p
N % N %
Rách ÂĐ
Có 29 5,7 21 3,8
0,143
Không 482 94,3 535 96,2
Rách CTC
Có 27 5,3 27 4,9
0,75
Không 484 94,7 529 95,1
Rách TSM
Độ 1 7 1,4 1 0,2
0,017
Độ 2 4 0,8 7 1,3
Độ 3 0 0,0 5 0,9
Không rách 500 97,8 543 97,6
Vỡ TC
Có 0 0,0 1 0,2
0,337
Không 511 100 555 99,8
Chảy máu
Có 4 0,8 6 1,1
0,616
Không 507 99,2 550 98,9
Bảng 4. Tai biến sản phụ sau làm forceps
Năm
Tai biến
2004 (N=511) 2014 (N=556)
p
N % N %
Truyền máu
Không 507 99,2 548 98,9
0,05≤ 2 đơn vị 3 0,6 4 0,7
> 2 đơn vị 1 0,2 4 0,7
Mổ thắt động mạch tử 
cung , ĐM hạ vị
Có 0 0,0 1 0,2
0,337
Không 511 100 555 99,8
Mổ cắt tử cung
Có 1 0,2 2 0,4
0,613
Không 510 99,8 554 99,6
Khâu phục hồi đường 
dưới
Có 46 9,0 41 7,4
0,332
Không 465 91,0 515 92,6
Bảng 5. Xử trí tai biến mẹ sau làm forceps
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 73 - 79, 2016
77
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
sản thường chọn phương pháp mổ đẻ đối với những 
trường hợp có tiên lượng khó sinh. Hiện nay, nguyện 
vọng của gia đình và chính sản phụ ngày càng được 
quan tâm và xem xét nên tỷ lệ mổ đẻ có xu hướng 
tăng. Khi đặt sản phụ giữa tình thế làm forceps hoặc 
mổ lấy thai thì họ và gia đình sẽ đề nghị mổ lấy thai. 
Đôi khi có những thầy thuốc chưa có kinh nghiệm 
làm forceps sẽ e dè về kĩ thuật đặt forceps nên cũng 
quyết định mổ lấy thai. Để giảm tỷ lệ mổ lấy thai 
trong những trường hợp này cần tư vấn tốt cho sản 
phụ và gia đình đồng thời tăng cường đào tạo kỹ 
thuật đặt forceps cho các bác sĩ trẻ.
So sánh với một số tác giả nước ngoài chúng tôi 
được bảng số liệu sau:
Tỷ lệ sản phụ đẻ forceps cao hơn so với nghiên 
cứu của Ronal S.Gibbs và cộng sự (2008) là 1,1% 
[3]. Nghiên cứu của F.Gary Cunningham và cộng sự 
năm (2014) là 0,7% [4]. Sự khác biệt này có thể do 
khi cân nhắc thủ thuật cho một ca đẻ khó, ở Việt Nam 
hầu như không còn làm giác hút, các bác sĩ thường 
chọn phương pháp forceps. Các bác sĩ ở châu Âu và 
Mỹ thường nghiêng về thủ thuật giác hút.
Phương pháp forceps đang ngày càng giảm 
một phần do tiến bộ của mổ lấy thai nên các thầy 
thuốc thường mổ trong một số trường hợp mà lẽ ra 
có thể tiến hành forceps một cách an toàn. Việc sử 
dụng forceps vẫn đóng một vai trò hết sức quan 
trọng trong một số trường hợp nhất định khi các 
can thiệp khác tỏ ra không hiệu quả bằng như suy 
thai cấp tính khi ngôi thai đã lọt thấp. Trong những 
trường hợp này mổ lấy thai rất khó khăn với thời 
gian chuẩn bị lâu. Hoặc để lấy đầu khi mà đầu 
đã lọt thấp khá phức tạp thậm chí có thể gây sang 
chấn cho con và rách cơ tử cung là nguyên nhân 
chảy máu nặng nề cho mẹ. Hoặc những trường 
hợp mẹ bị các bênh mạn tính mà mổ lấy thai có thể 
làm bệnh mẹ nặng thêm. Forceps với các trường 
hợp có đủ điều kiện, đúng chỉ định và kỹ thuật là 
một phương pháp để người thầy thuốc có thể giúp 
sản phụ mẹ tròn con vuông.
Cách sinh
Tác giả Đẻ forceps Đẻ giác hút Phương pháp khác
Ronal S.Gibbs và cộng sự (2008) [3] 1,1% 4,1% 94,8%
F. Gary Cunningham và cộng sự (2014) [4] 0,7% 2,9% 96,4%
Đặng Thị Minh Nguyệt, 
Đỗ Thị Vân
2004 4,1% 0,01% 95,99%
2014 2,6% 0% 97,0%
Bảng 6. Các phương pháp đẻ theo một số tác giả
4.2. Về chỉ định forceps
Trong nghiên cứu của chúng tôi có tới 39,1% 
năm 2004 và 55% năm 2014 là do tình trạng 
sản phụ rặn yếu, 40,1% năm 2004 và 29,0% năm 
2014 do suy thai được can thiệp bằng forceps. 
Với tình trạng sản phụ có sẹo mổ cũ năm 2004 
là 13,3% và trong năm 2014 chỉ còn 8,3%. Các 
trường hợp khác của sản phụ được chỉ định làm 
forceps cụ thể là mẹ bệnh tim, lao phổi, tăng huyết 
áp, hen phế quản đều có tỷ lệ rất thấp dưới 4% 
trong cả 2 năm 2004 và 2014. Theo kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi thì hai chỉ định hay gặp 
nhất của forceps là mẹ rặn yếu và suy thai chiếm tỷ 
lệ 79,2% năm 2004 và 84% năm 2014 trong các 
trường hợp đẻ forceps. Tỉ lệ này phù hợp với những 
nghiên cứu của Vũ Thị Hồng Hạnh 1997-1999 là 
69,2% [5], Đỗ Văn Tú 1998-2002 là 86,3% [6], 
và nghiên cứu của Nguyễn Việt Hoàng 2013 [7] 
là 90,2%. Tuy nhiên xem xét riêng chỉ định mẹ rặn 
yếu thì kết quả của chúng tôi trong 2 năm 2004 và 
2014 lần lượt là 39,1% và 55% cao hơn so với kết 
quả nghiên cứu Đỗ Văn Tú là 38,7%. Kết quả của 
chúng tôi thấp hơn trong nghiên cứu của Nguyễn 
Việt Hoàng là 55,2%. Chúng tôi cho rằng sản phụ 
rặn yếu có thể do những nguyên nhân sau:
- Sản phụ có sức rặn yếu.
- Kiểu thế lọt chẩm cùng.
- Chưa hướng dẫn cho sản phụ biết cách rặn.
- Tỷ lệ gây tê ngoài màng cứng (đẻ không đau) 
trong chuyển dạ tăng cao.
Trong các nguyên nhân trên thì ngày nay 
nguyên nhân cuối cùng cần phải được bàn đến 
nhiều hơn do tính phổ biến của giảm đau trong đẻ. 
Sản phụ rặn yếu được đánh giá qua thời gian giai 
đoạn hai của cuộc chuyển dạ tuy nhiên với những 
sản phụ có và không được giảm đau trong đẻ thời 
gian này sẽ khác nhau đáng kể. Đây cũng chỉ là 
giả thuyết, trong nghiên cứu của chúng tôi không 
đánh giá tới liên quan này vì vậy cần phải có 
những nghiên cứu khác mới có thể kết luận được. 
So sánh giữa 2 năm thì tỷ lệ forceps do suy thai 
trong năm 2004 cao hơn năm 2014. Sở dĩ có sự 
khác biệt này là do ngày nay hầu hết các sản phụ 
đều được theo dõi bằng Monitoring sản khoa nên 
phát hiện thai suy sớm hơn và những trường hợp 
chưa đủ điều kiện làm forceps thì được mổ lấy thai 
kết thúc chuyển dạ.
ĐẶNG THỊ MINH NGUYỆT, ĐỖ THỊ VÂN
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
78
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Các trường hợp có sẹo mổ cũ ở tử cung được chỉ 
định forceps giảm đáng kể, từ 13,3% năm 2004 
giảm xuống còn 8,3% năm 2014. Một lý do quan 
trọng cho sự giảm tỷ lệ forceps trong trường hợp có 
sẹo mổ cũ ở tử cung là tỷ lệ mổ đẻ ngày càng tăng 
và tình trạng e ngại can thiệp forceps của sản phụ 
và gia đình thậm chỉ của cả một số thầy thuốc nên 
đã chủ động mổ lấy thai. Vì vậy tỷ lệ forceps do mổ 
cũ theo thời gian giảm đi đáng kể.
Nhờ sự tiến bộ của lĩnh vực sản bệnh lý, trang 
thiết bị thăm dò mẹ và thai như siêu âm, monitoring, 
sinh hóa, các xét nghiệm tiên lượng trên thai phụ 
bệnh lý cũng như tiến bộ của hồi sức sơ sinh nên 
quan điểm những trường hợp sản phụ bệnh lý có 
nguy cơ ảnh hưởng tới mẹ có thể sẽ đặt vấn đề 
ngừng thai nghén bằng mổ lấy thai khi thai trên 34 
tuần chưa có chuyển dạ, không chờ chuyển dạ nên 
tỷ lệ forceps ở những trường hợp mẹ bệnh lý giảm 
đi rõ rệt. 
Trong nghiên cứu chúng tôi không thấy chỉ định 
forceps vì dọa vỡ tử cung mặc dù đây cũng là một 
chỉ định được nêu trong sách giáo khoa. Ngày 
nay, do tình trạng cơn co tử cung được kiểm soát 
chặt chẽ nên ít có trường hợp dọa vỡ tử cung xảy 
ra, nếu có biểu hiện dọa vỡ tử cung mà chưa đủ 
điều kiện làm forceps phải mổ lấy thai.
4.3. Về giảm đau trong đẻ của sản phụ
Trong năm 2004 không có trường hợp nào 
sản phụ được giảm đau trong khi đẻ nhưng đến 
năm 2014 tỷ lệ này tăng lên 70,0%. Điều này cho 
thấy việc sử dụng giảm đau trong đẻ ngày càng 
phổ biến và được sản phụ lựa chọn để vượt cạn. 
Giảm đau trong đẻ giúp cho sản phụ trải qua cuộc 
chuyển dạ với cảm giác nhẹ nhàng hơn, tránh được 
những đau đớn do cơn co tử cung gây ra, giảm bớt 
mệt mỏi hơn cho sản phụ. Bên cạnh đó giảm đau 
đôi khi cũng khiến sản phụ mất phản xạ rặn hoặc 
rặn không phối hợp tốt với cơn co tử cung làm gia 
tăng tỷ lệ mẹ rặn lâu không sổ, rặn yếu.
4.4. Về tai biến con sau forceps
Trong năm 2004 có 10,2% trẻ có tai biến xây 
xát da đầu, mắt và mặt. Tỷ lệ này tăng lên 20,7% 
năm 2014, tỷ lệ này trong năm 2004 thấp hơn 
so với nghiên cứu của Nguyễn Việt Hoàng [7] là 
20,7% và tỷ lệ năm 2014 là bằng nhau. Tuy nhiên 
tai biến này có tỷ lệ rất cao vào năm 2002 tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương là 32,15%. Trẻ sơ sinh tụ 
máu dưới da đầu chỉ có tỷ lệ 1,0% năm 2004 và 
1,1% năm 2014. Tương tự các tổn thương mắt và 
liệt thần kinh VII có tỷ lệ rất thấp trong 2 năm 2004 
và 2014 lần lượt là: 0,4%/1,0% và 0,0%/0,5%.
 So với một số tác giả thì tỷ lệ của chúng tôi có 
cao nhưng chủ yếu là tổn thương nhẹ không có tổn 
thương nặng nề. 
4.5. Tai biến và xử trí tai biến của mẹ
Thực sự nếu forceps có tai biến thường vô cùng 
nặng nề như tổn thương đường sinh dục, rách cổ 
tử cung kéo lên cao, chảy máu, vỡ tử cung, rách 
phên trực tràng âm đạo nhưng khi thu thập số 
liệu chúng tôi không thấy có trường hợp nào tai 
biến nặng nề. Trong năm 2004 tỷ lệ sản phụ gặp 
tai biến rách âm đạo là 5,7%, tỷ lệ này giảm xuống 
còn 3,8% vào năm 2014. Tỷ lệ tai biến rách cổ tử 
cung là 5,3% năm 2004 và giảm xuống 4,9% vào 
năm 2014. Đối với tai biến rách tầng sinh môn năm 
2004 có tỷ lệ là 2,2% và tỷ lệ này tăng lên 2,4% vào 
năm 2014 trong đó tỷ lệ rách tầng sinh môn độ 2, 3 
năm 2014 lại cao hơn năm 2004 (năm 2004 tỷ lệ 
rách tầng sinh môn độ 2,3 lần lượt là 0,8% và 0%, 
năm 2014 lần lượt là 1,3% và 0,9%). 
Trong năm 2004 không có trường hợp nào 
sản phụ gặp tai biến vỡ tử cung, nhưng trong năm 
2014 có ghi nhận 1 trường hợp duy nhất gặp tai 
biến vỡ tử cung. Với tai biến chảy máu của sản 
phụ năm 2004 là 0,8% và tăng lên 1,1% vào năm 
2014. Các kết quả của nghiên cứu khác như sau, 
đối với rách cổ tử cung, âm đạo và tầng sinh môn 
đơn giản của Nguyễn Đức Hinh 1983-1985 [8] 
là 11,2%; nghiên cứu của Nguyễn Văn Tú 1998-
2002 [6] là 3,4% và nghiên cứu của Nguyễn Việt 
Hoàng 2013 [7] là 7,1%.
So với các tác giả khác sang chấn có giảm do 
2 nguyên nhân:
- Chỉ định forceps ngày càng chặt chẽ và xu 
hướng của người thầy thuốc thường chọn mổ lấy 
thai trong trường hợp khó.
- Tất cả các sản phụ trong nghiên cứu đều được 
cắt tầng sinh môn chủ động trước khi tiến hành 
forceps làm cho âm môn mở rộng nên giảm sức 
cản, tạo thuận lợi cho việc đặt cành forceps đồng 
thời giảm đáng kể lực kéo, từ đó đã hạn chế các 
tai biến.
Tỷ lệ sản phụ phải truyền máu khi tai biến là 
4 trường hợp năm 2004 và tăng lên 8 trường hợp 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 73 - 79, 2016
79
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
năm 2014 trong đó tỷ lệ truyền máu trên 2 đơn vị 
năm 2014 (4 trường hợp: 3 đơn vị, 5 đơn vị, 25 
đơn vị và 32 đơn vị) cao hơn năm 2004 (1 trường 
hợp truyền 4 đơn vị máu). Trong năm 2004 không 
có trường hợp nào cần xử lý tai biến bằng mổ thắt 
động mạch tử cung, động mạch hạ vị nhưng đến 
năm 2014 có 1 trường hợp. Chỉ có 1 trường hợp 
năm 2004 được xử trí mổ cắt tử cung vì rau cài 
răng lược không được chẩn đoán trước đẻ, trường 
hợp này không có liên quan tới forceps. Năm 2014 
có 2 trường hợp cắt tử cung vì chảy máu sau đẻ có 
rối loạn đông máu. Tỷ lệ xử trí tai biến của sản phụ 
bằng khâu đường dưới năm 2004 là 9,0% giảm 
xuống 7,4% vào năm 2014.
5. Kết luận
Chỉ định của thủ thuật chủ yếu là mẹ rặn yếu 
(40,1% năm 2004; 61,3% năm 2014) và suy thai 
(46,8% năm 2004; 29,0% năm 2014). Tai biến 
con chủ yếu là xây xát da đầu, mắt, mặt chiếm tỷ 
lệ 10,2% năm 2004 tăng lên 20,7% năm 2014. 
Tai biến của mẹ chủ yếu là rách âm đạo, rách cổ 
tử cung. Năm 2004 có 2,2% trường hợp rách tầng 
sinh môn, 0,8% chảy máu, không có trường hợp 
nào vỡ tử cung; năm 2014 có 2,4% rách tầng sinh 
môn, 1,1% chảy máu, 1 trường hợp vỡ tử cung. 
Năm 2004 có 0,8% trường hợp truyền máu, 1 
trường hợp cắt tử cung. Năm 2014 lần lượt là 1,4 
% trường hợp và 2 trường hợp.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thìn, Trần Hữu Thiên. Điểm qua dụng cụ lấy thai xưa và 
nay. Nội san sản phụ khoa. 1979;3, trang 30-39.
2. Alan A.Compton. Forceps delivery and vacuum extraction. Rivised 
edition 1995l Chapter 72.
3. Ronal S.Gibbs, Beth Y.Karlari, Arthur F.Haney và cộng sự. Danforth’s 
Obstetrics and Gynecology. 2008; Tenth edition, Chapter 26, page 489.
4. F.Gary Cunningham, Kenneth J.Levenon, Steven L.Bleem. Williams 
obstetrics. 2014; 24th edition, Chapter 29, page 1289.
5. Vũ Thị Hồng Hạnh. Nghiên cứu tình hình forceps và giác hút tại 
viện BVBMTSS trong 3 năm 1997-1999. Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ 
y học năm 2000.
6. Đỗ Văn Tú. Nhận xét tình hình đẻ forceps tại khoa sản bệnh viện 
Bạch Mai trong 5 năm 1998 đến 2002. Trường đại học y Hà Nội. 2003
7. Nguyễn Việt Hoàng. Nghiên cứu chỉ định và điều kiện đẻ forceps 
tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2013. Khóa luận tốt nghiệp bác 
sĩ đa khoa, Trường đại học y Hà Nội. 2015.
8. Nguyễn Đức Hinh. Forceps và giác hút sản khoa ở bệnh viện 
BVBMTSS từ 1983- 1985. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú bệnh 
viện năm 1986.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ve_chi_dinh_va_tai_bien_cua_forceps_trong_hai_nam.pdf