Nghiên cứu ứng dụng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật nội soi phụ khoa

Sử dụng kháng sinh dự phòng trong các

phẫu thuật nội soi có nhiều ưu điểm hơn so

với dùng kháng sinh điều trị theo liệu trình

dài ngày.

mục tiêu: đánh giá kết quả sử dụng kháng

sinh dự phòng trong các phẫu thuật nội soi phụ

khoa và hiệu quả tâm lý, kinh tế, xã hội.

phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Đối tượng là các bệnh nhân có chỉ định phẫu

thuật nội soi phụ khoa tại khoa Phụ sản Trường

đại học Y – Dược Huế từ 10/2011 đến 05/2012.

thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi soạn sẵn và

dùng phần mềm Excel, Medcal 12.2 để xử lý và

mô tả kết quả.

Kết quả: Tổng cộng có 39 bệnh nhân phẫu

thuật nội soi phụ khoa sử dụng kháng sinh dự

phòng. Tuổi trung bình là 34,1 ± 11,9. Bệnh

nhân u nang buồng trứng chiếm tỷ lệ cao nhất

84,6%. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình

là 3,3 ± 0,6 ngày. Tỉ lệ sốt sau mổ 2,6%. Nhiễm

trùng vết mổ là 0%. Tổng chi phí sau phẫu

thuật trong kháng sinh điều trị gấp 3,45 lần so

với kháng sinh dự phòng.100% bệnh nhân hài

lòng với cách điều trị này.

Kết luận: Dùng kháng sinh dự phòng trong

phẫu thuật nội soi phụ khoa cho kết quả tốt,

ít biến chứng nhiễm trùng, thời gian nằm viện

ngắn và hiệu quả kinh tế cao

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ứng dụng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật nội soi phụ khoa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu ứng dụng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật nội soi phụ khoa

Nghiên cứu ứng dụng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật nội soi phụ khoa
NguyễN ViếT Thảo, TrươNg QuaNg ViNhnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
44
Nguyễn Viết Thảo, Trương Quang Vinh
Bộ môn Phụ Sản, Trường Đại học Y Dược Huế 
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KHÁNG SINH DỰ PHÒNG
TRONG CÁC PHẪU THUẬT NỘI SOI PHỤ KHOA
tóm tắt
Sử dụng kháng sinh dự phòng trong các 
phẫu thuật nội soi có nhiều ưu điểm hơn so 
với dùng kháng sinh điều trị theo liệu trình 
dài ngày.
mục tiêu: đánh giá kết quả sử dụng kháng 
sinh dự phòng trong các phẫu thuật nội soi phụ 
khoa và hiệu quả tâm lý, kinh tế, xã hội.
phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Đối tượng là các bệnh nhân có chỉ định phẫu 
thuật nội soi phụ khoa tại khoa Phụ sản Trường 
đại học Y – Dược Huế từ 10/2011 đến 05/2012. 
thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi soạn sẵn và 
dùng phần mềm Excel, Medcal 12.2 để xử lý và 
mô tả kết quả.
Kết quả: Tổng cộng có 39 bệnh nhân phẫu 
thuật nội soi phụ khoa sử dụng kháng sinh dự 
phòng. Tuổi trung bình là 34,1 ± 11,9. Bệnh 
nhân u nang buồng trứng chiếm tỷ lệ cao nhất 
84,6%. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 
là 3,3 ± 0,6 ngày. Tỉ lệ sốt sau mổ 2,6%. Nhiễm 
trùng vết mổ là 0%. Tổng chi phí sau phẫu 
thuật trong kháng sinh điều trị gấp 3,45 lần so 
với kháng sinh dự phòng.100% bệnh nhân hài 
lòng với cách điều trị này. 
Kết luận: Dùng kháng sinh dự phòng trong 
phẫu thuật nội soi phụ khoa cho kết quả tốt, 
ít biến chứng nhiễm trùng, thời gian nằm viện 
ngắn và hiệu quả kinh tế cao.
abStract:
appLication oF pRopHyLactic antibiotics in 
gynEcoLogicaL LapaRoscopy
Use of prophylactic antibiotics in 
laparoscopy has many advantages compare to 
long time treatment with antibiotics.
objectives: To evaluate the results of the 
use of prophylactic antibiotics in gynecologic 
laparoscopy and psychological, economic and 
social effects.
methods: cross-sectional descriptive study 
in patients who were treated by gynecological 
laparoscopy at the Department of OBGYN Hue 
University Hospital from 10/2011 to 05/2012. 
Data analysis was done by Excel and Medcal 
12.2 software.
results: A total of 39 patients with 
gynecologic laparoscopy using prophylactic 
antibiotics. Mean age was 34.1 ± 11.9 years. 
Patients with ovarian cyst counted for 84.6%. 
The mean of postoperative duration was 3.3 
± 0.6 days. Postoperative fever rate was 2.6%. 
Inscision infection was 0%. Costs of long-time 
treatment with antibiotics was 3.45 times more 
expensive than prophylactic antibiotics. 100% 
patient satisfied with this treatment regimen.
conclusion: Use of prophylactic antibiotics 
in gynecological laparoscopy has better results, 
fewer complications of infection, shorter 
hospital stay, and positive cost-effect. 
i. ĐẶt vấn Đề
Ngành phẫu thuật ra đời từ rất sớm nhưng 
trong một thời gian dài nhiễm khuẩn vẫn là 
một biến chứng nguy hiểm trong thời kỳ hậu 
phẫu. Nhiễm khuẩn sau mổ có thể ảnh hưởng 
đến kết quả điều trị, sức khỏe của người bệnh, 
ít nhất nó cũng gây kéo dài ngày điều trị, dẫn 
đến chi phí cho phẫu thuật cao [17], [18], [23]. 
Do đó việc phát hiện và sử dụng kháng sinh là 
một trong những thành tựu lớn của Y học. Giai 
đoạn gần đây, phẫu thuật nội soi ra đời và phát 
triển mạnh đã phần nào thay thế phẫu thuật 
mở vì có những ưu điểm nhất định.
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
45
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 44-49, 2013
Cùng với sự tiến bộ của ngành phẫu thuật, 
càng ngày càng có nhiều loại kháng sinh mới ra 
đời đã đem lại hiệu quả tốt hơn trong điều trị. 
Song lại nảy sinh ra một vấn đề mới mà y học 
phải đương đầu đó là sự đề kháng kháng sinh 
do sử dụng không đúng cách, không đúng liều, 
lạm dụng kháng sinh. Vì vậy, sử dụng kháng 
sinh như thế nào cho hợp lý là điều mà mọi 
thầy thuốc đều rất quan tâm [3], [10].
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình 
nghiên cứu về kháng sinh dự phòng cho kết 
quả tốt và đưa vào ứng dụng rộng rãi. ở Việt 
Nam bước đầu đã nghiên cứu sử dụng kháng 
sinh dự phòng trong phẫu thuật ngoại, sản 
tại một vài bệnh viện lớn trong cả nước và 
làm giảm đến 70-87% nguy cơ nhiễm khuẩn 
sau mổ [17].
Hiện nay trên thị trường có sự hiện diện của 
rất nhiều loại kháng sinh, đặc biệt là hiện diện 
của kháng sinh thuộc Cephalosporine thế hệ 3. 
Đây là thuốc kháng sinh có phổ tác dụng rộng 
trên nhiều chủng vi khuẩn, thời gian bán hủy 
kéo dài, có tác dụng chống lại sự phân hủy của 
ß-lactamase [2], [19].
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi 
tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng kháng 
sinh dự phòng trong các phẫu thuật nội soi 
phụ khoa” nhằm (1) đánh giá kết quả sử dụng 
kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật nội 
soi phụ khoa và (2) khảo sát hiệu quả kinh tế, 
tâm lý - xã hội của việc sử dụng kháng sinh dự 
phòng trong phẫu thuật nội soi phụ khoa.
ii. ĐỐi tƯỢng và phƯơng phÁp 
nghiÊn cứu
Bệnh nhân được phẫu thuật nội soi phụ 
khoa tại khoa Phụ sản bệnh viện Trường đại 
học Y - Dược Huế từ tháng 10 năm 2011 đến 
tháng 05 năm 2012 thỏa mãn tiêu chuẩn 
chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu. Tất cả 
các trường hợp được chỉ định kháng sinh dự 
phòng với ceftrione 1g test dị ứng và tiêm tĩnh 
mạch mũi thứ nhất trước mổ 30 phút và mũi 
thứ hai sau mổ là 6 giờ. Tiến hành nghiên cứu 
mô tả cắt ngang, dùng protocol thống nhất để 
ghi nhận kết quả. Sử dụng phần mềm Exel và 
Medcal 12.2 để xử lý số liệu.
tiêu chuẩn chọn bệnh: Những bệnh nhân 
được chẩn đoán mắc bệnh lý phụ khoa đủ 
điều kiện và có chỉ định phẫu thuật qua nội soi 
như u nang buồng trứng, thai ngoài tử cung, 
lạc nội mạc tử cung, u xơ tử cung, tắc vòi tử 
cung, vòng lạc chỗ [20].
tiêu chuẩn loại trừ: loại khỏi nghiên cứu 
những bệnh nhân được chẩn đoán là nhiễm 
khuẩn hay bị nghi ngờ là nhiễm khuẩn, dị ứng 
với các loại cephalosporin thế hệ 3, đã sử dụng 
bất kỳ một loại kháng sinh nào đó ít nhất trong 
vòng 7 ngày trước khi phẫu thuật, và bệnh 
nhân có chống chỉ định trong gây mê [5][20].
iii. Kết QuẢ nghiÊn cứu
3.1. Đặc Điểm cHung của mẫu
Trong số bệnh nhân chọn vào diện nghiên 
cứu, độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 34,1 
± 11,9 với nhỏ nhất là 17 tuổi, lớn nhất là 63 
tuổi. Nhóm tuổi 18- 40 gặp nhiều nhất, chiếm 
tỷ lệ 66,7%. 
Bệnh nhân ở thành thị chiếm tỉ lệ cao 
61,5%. Trình độ học vấn từ trung học phổ 
thông trở lên chiếm đa số với 59%. Sự phân 
bố của các mặc bệnh phụ khoa là tương đối 
khác biệt, bệnh nhân u nang buồng trứng 
chiếm tỷ lệ cao nhất 84,6%.
3.2. tHời gian nằm Viện sau mổ
Bệnh nhân nằm viện sau mổ ≤ 3 ngày chiếm 
tỷ lệ 64,1% và bệnh nhân nằm viện > 3 ngày 
chiếm tỉ lệ 35,9%. Thời gian nằm viện sau mổ 
Thời gian n Tỷ lệ (%) p
≤ 3 ngày 25 64,1
< 0,05
> 3 ngày 14 35,9
X ± sD 3,3 ± 0,6
NguyễN ViếT Thảo, TrươNg QuaNg ViNhnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
46
trung bình là 3,3 ± 0,6 ngày, ngắn nhất là 02 
ngày và dài nhất là 04 ngày.
3.3. tHời gian bắt Đầu tRung tiện sau mổ
Thời gian (phút) n Tỷ lệ (%) p
≤ 720 15 38,5
< 0,001720 - 1440 23 58,9
> 1440 1 2,6
X ± sD 919,2 ± 339,2
Thời gian bắt đầu trung tiện sau mổ nhanh 
nhất là 360 phút, chậm nhất là 1800 phút. Thời 
gian trung tiện trung bình là 919,2 ± 339,2. Có 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian 
trung tiện (p < 0,001; χ2 = 19,077).
3.4. tHời gian Lưu tHông tiểu
Thời gian (phút) n Tỷ lệ (%) p
≤ 720 2 5,2
< 0,001720 - 1440 37 94,8
> 1440 0 0,0
X ± sD 1147,7 ± 240,9
Nhiệt độ (0C) n Tỷ lệ (%)
≤ 37 38 97,4
37 - ≤ 38 1 2,6
38 - ≤ 39 0 0,0
> 39 0 0,0
Tổng 39 100
Số 
lượng
Trước mổ Sau mổ
p
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
BC 1 2,6 5 12,8 > 0,05
BCĐNTT 1 2,6 5 12,8 > 0,05
Thời gian lưu thông tiểu ít nhất là 720 phút, 
và lâu nhất là 1440 phút. Thời gian lưu thông 
tiểu trung bình là 1147,7 ± 240,9.
3.5. tìnH tRạng tHan nHiệt sau mổ
3.6. tỷ Lệ tăng bc, bcĐntt tRước Và sau mổ
Tỷ lệ tăng BC, BCĐNTT tính trước mổ và sau 
mổ không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.7. tỷ Lệ tăng cRp sau mổ
CRP n Tỷ lệ (%) p
≤ 8 12 30,8
< 0,05
> 8 27 69,2
X ± sD 10,2 ± 3,7
CRP sau mổ thấp nhất là 3,5 và cao nhất 
là 16,2. Trị số trung bình CRP sau mổ là 10,2 
± 3,7. Có sự khác biệt giữa hai nhóm CRP sau 
mổ (p < 0,05, χ2 = 10,05).
3.8. tHời gian nằm Viện
Thời gian (ngày) n Tỷ lệ (%) p
3 ngày 2 5,2
< 0,05
4-5 ngày 37 94,8
X ± sD 4,4 ± 0,6
Các khoảng Số lượng Đơn giá Thành tiền
Ngày giường trung bình (ngày) 4 12.500 50.000
Thuốc Ks (lọ) 2 30.870 61.740
Tổng vật tư y tế 53.876
Tổng 165.610
Thời gian nằm viện trung bình là 4,4 ± 0,6 
ngày, ngắn nhất là 03 ngày và dài nhất là 05 ngày.
3.9. Hiệu quả kinH tế
Trong tổng số 39 trường hợp đưa vào nghiên 
cứu, tỉ lệ sốt sau mổ 2,6%. Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
47
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 44-49, 2013
Mức hài lòng n Tỷ lệ (%)
i – ii 39 100
iii 0 0
iV – V 0 0
Tổng cộng 39 100
nhân điều trị bằng KSDP chỉ phải dùng 2 
lọ KS và 2 bơm tiêm nên số tiền chi phí cho 
thuốc KS, vật tư tiêu hao và tổng chi phí cho 
điều trị sẽ giảm hơn so với dùng KS theo liệu 
trình 7 ngày. 
3.10. Hiệu quả tâm Lý - Xã Hội
100% bệnh nhân đều chọn mức I - II là từ 
mức hài lòng trở lên. 
iv. bàn luận
4.1. Đặc Điểm cHung của mẫu ngHiên cứu
Trong phần này chúng tôi có đề cập một 
số vấn đề về tuổi, khu vực sinh sống, trình độ 
văn hóa. Nhìn chung, về đặc điểm của mẫu 
cũng tương đồng với một số nghiên cứu khác 
về PTNS phụ khoa, bệnh nhân là cán bộ công 
chức có trình độ văn hóa cao và sống thành thị 
là chủ yếu [7], [12], [15], [16].
4.2. kết quả Điều tRị
Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 3,3 
± 0,6 ngày, ngắn nhất là 02 ngày và dài nhất 
là 04 ngày. So với một số nghiên cứu khác thì 
không có sự khác biệt nhiều về thời gian nằm 
viện sau mổ, đa phần là thời gian nằm viện 
ngắn[6], [15]. Nhưng riêng trong nghiên cứu 
của Trần Đình Vinh đánh giá hiệu quả điều trị 
lạc nội mạc tử cung bằng PTNS tại khoa Phụ 
sản bệnh viện Đà Nẵng thì thời gian này là 6,3 
± 2,0 ngày [22].
Thời gian trung tiện sau mổ trung bình là 
15,3 ± 5,6 giờ, sớm nhất là 06 giờ và muộn nhất 
là 30 giờ. So với một số nghiên cứu khác thì thời 
gian bắt đầu trung tiện sau mổ của chúng tôi là 
ngắn hơn [8], [6], [13]. So sánh giữa mổ hở và 
nội soi thì mổ nội soi có thời gian trung tiện 
sau mổ ngắn hơn mổ hở. Sở dĩ bệnh nhân mổ 
nội soi trung tiện sớm hơn là vì mổ nội soi ít 
xâm lấn, ít đụng chạm tới tổ chức, bệnh nhân 
vận động sớm có nhu động ruột sớm nên 
trung tiện sớm [6].
Tình trạng nhiễm trùng tiết niệu hậu 
phẫu là rất phổ biến và đã có nhiều tác giả 
báo cáo về điều này, nhất là sau những phẫu 
thuật phụ khoa. Chính vì lẽ đó mà thời gian 
lưu thông tiểu được tính đến trong nhiều 
nghiên cứu về KSDP. Thời gian lưu thông 
tiểu trung bình là 1147,7 ± 240,9 phút. Trong 
đó thời gian lưu thông tiểu ngắn nhất là 720 
phút, trường hợp dài nhất là 1440 phút, 
không có trường hợp nào có nhiễm trùng 
tiết niệu. Qua đó thêm khẳng định lợi thế 
của PTNS so với mổ hở.
Tỷ lệ sốt sau mổ là 2,6%. Tỷ lệ sốt sau mổ 
là thấp hơn so với những nghiên cứu khác [9], 
[15]. Tỷ lệ tăng BC, BCĐNTT trước và sau mổ 
không có ý nghĩa thống kê.
Tỷ lệ CRP ≤ 8 là 30,8% và CRP > 8 là 69,2%. 
Trị số trung bình CRP là 10,2 ± 3,7, CRP sau 
mổ thấp nhất là 3,5 và cao nhất là 16,2. Có sự 
khác biệt giữa hai nhóm về trị số CRP sau mổ 
(p < 0,05). Tuy nhiên CRP chưa ở mức nguy cơ 
nhiễm trùng [24], [25].
4.3. Hiệu quả kinH tế - tâm Lý - Xã Hội
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của phương 
án điều trị dùng kháng sinh dự phòng, chúng 
tôi mô phỏng theo cách làm của nhiều nước 
tiên tiến trên thế giới và một số nghiên cứu 
trong nước trước đây. Trong giới hạn của 
nghiên cứu này, chúng tôi chỉ so sánh tổng 
số lọ kháng sinh dùng, ngày giường trung 
bình và vật tư y tế.
Tổng chi phí của kháng sinh khi dùng 
kháng sinh điều trị là gấp 7 lần so với kháng 
sinh dự phòng. Tổng chi phí của các mục trên 
cho dùng kháng sinh điều trị gấp 3,45 lần so 
NguyễN ViếT Thảo, TrươNg QuaNg ViNhnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
48
với kháng sinh dự phòng. Tham khảo với một 
tác giả khác về lợi nhuận trung bình của kháng 
sinh dự phòng: Theo Hồ Thị Thúy Mai kháng 
sinh điều trị gấp khoảng 5 lần kháng sinh dự 
phòng, theo Duff lợi nhuận của kháng sinh dự 
phòng la khoảng 17000 USD cho 100 trường 
hợp mổ lấy thai [13].
Tổng thời gian nằm viện: Đa số bệnh nhân 
có thời gian nằm viện 4-5 ngày chiếm tỉ lệ 
94,8% và chắc chắn rằng sẽ thấp hơn so với 
phẫu thuật hở hay phẫu thuật nội soi nhưng 
dùng kháng sinh điều trị 7 ngày sau mổ. Vì vậy, 
chi phí cho ngày nằm viện sẽ thấp hơn, có lợi 
về kinh tế hơn. 
Về tâm lý - xã hội, theo nghiên cứu của 
chúng tôi bệnh nhân rất hài lòng với việc chọn 
dùng phát đồ kháng sinh dự phòng trong 
phẫu thuật nội soi phụ khoa. Đây là điều cần 
được phát huy hơn nữa để bệnh viện ngày 
càng uy tín và chất lượng hơn.
Về mặt xã hội, ta thấy kháng sinh dự 
phòng cũng mang lại lợi ích không nhỏ. Việc 
sử dụng kháng sinh không hợp lý sẽ làm 
tăng tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn 
[1], [4], [11], [14], [21]. Sử dụng kháng sinh 
dự phòng và phẫu thuật nội soi làm giảm 
chi phí điều trị, rút ngắn thời gian nằm viện, 
bệnh nhân xuất viện sớm nên bệnh nhân và 
người nhà theo nuôi có thời gian làm việc 
hữu ích hơn cho xã hội. Đồng thời, cán bộ y 
tế cũng có thời gian để phục vụ cho nhiều 
bệnh nhân khác. Ngoài ra, kháng sinh dự 
phòng sẽ làm giảm một số lượng tiêu thụ 
khổng lồ kháng sinh hàng năm, giảm lượng 
lớn rác thải y tế làm giảm hẳn chi phí cho 
bảo hiểm hàng năm tại các bệnh viện, giảm 
lượng ngoại tệ chi ra để mua thuốc, vật tư 
y tế và xử lý rác thải vì thế sẽ góp phần làm 
trong sạch môi trường và giảm chi phí đáng 
kể cho quốc gia.
v. Kết luận: 
Sử dụng kháng sinh dự phòng cho các bệnh 
nhân phẫu thuật nội soi phụ khoa có nhiều ưu 
điểm, ít biến chứng, hiệu quả cao về mặt kinh 
tế - tâm lý - xã hội, cần có kế hoạch mở rộng 
quy mô hơn áp dụng, nghiên cứu chi tiết hơn 
hiệu quả sử dụng kháng sinh dự phòng trong 
các cơ sở điều trị.
Tài liệu Tham khảo
1. Trần Thị Ngọc Anh (2007), “Sự đề 
kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh 
thường gặp tại Bệnh Viện Nhi Đồng 2 
năm 2007”, Tạp chí y học thành phố Hồ 
Chí Minh, tập 12 phụ bản số 4, Tr.183-191.
2. Bộ y tế (2002), “Ceftriaxon”, Dược 
thư quốc gia Việt Nam, Hà Nội, Tr.305-307.
3. Bộ y tế (2002), “Sử dụng hợp lý 
thuốc kháng sinh”, Dược thư quốc gia, 
Hà Nội, Tr.61-71.
4. Vũ Bảo Châu, Cao Minh Nga (2008), 
“Tìm hiểu căn nguyên vi khuẩn gây nhiễm 
khuẩn vết mổ và sự đề kháng kháng sinh 
tại Bệnh Viện 175”, Tạp chí y học thành 
phố Hồ Chí Minh, Tr.324-327.
5. Trần Bình Giang (2012), “Lịch sử 
của nội soi và phẫu thuật nội soi”, Phẫu 
thuật nội soi ổ bụng, NXB Y học, Tr.13-46.
6. Trịnh Hồng Hạnh(2009), “Đánh giá 
kết quả phẫu thuật cắt tử cung hoàn toàn 
qua nội soi ổ bụng tại Khoa Phụ Sản Bệnh 
viện 175”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí 
Minh, tập 14 phụ bản số 2, Tr.137-141.
7. Võ Doãn Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị 
Thắm, Lê Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Hồng 
Vân, Hoàng Thị Hồng Nga, Huỳnh Thị 
Thúy (2010), “Tình hình phẫu thuật nội 
soi thai ngoài tử cung tại Bệnh Viện Nhân 
Dân Gia Định từ 01/2009 đến 04/2010”, 
Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 
tập 14 phụ bản số 4, Tr.43-48.
8. Huỳnh Văn Hiếu, Đỗ Nguyên 
Phương (2007), “Đánh giá phẫu thuật 
noi soi trong điều trị viêm phúc mạc ruột 
thừa so với mổ hở”, Khoa ngoại tổng hợp 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
49
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 44-49, 2013
bệnh viện đa khoa Đồng Tháp, Thời sự Y 
học, 01-02, Tr.7-9.
9. Nguyễn Thị Thanh Hồng (2005), 
“Tìm hiểu sự hài lòng của sản phụ tại 
Khoa Phụ Sản bệnh viện Đà Nẵng”, Kỷ 
yếu đề tài nghiên cứu khoa học điều 
dưỡng toàn quốc lần thứ II, Hà Nội, 
Tr.328-332
10. Phạm Khuê (1994), “Dùng kháng 
sinh thế nào cho hiệu quả?”, Tạp chí Y 
học thực hành, số 2, Tr.1-3.
11. Nguyễn Như Lâm, Lê Đức Mẫn 
(2010), “Nghiên cứu căn nguyên nhiễm 
khuẩn và mức độ kháng kháng sinh tại 
Khoa Hồi Sức Cấp Cứu - Viện Bỏng Quốc 
Gia”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí 
Minh, tập 14 phụ bản số 4, Tr.65-70.
12. Trần Thị Lợi, Lê Hoàng Cẩm, 
Hoàng Viết Thắng (2006), “Kết quả nội soi 
điều trị bệnh nhân vô sinh và lạc nội mạc 
tử cung”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí 
Minh, Tập 10, Phụ bản số 1, Tr.128-132.
13. Hồ Thị Thúy Mai (2002), Nghiên 
cứu hiệu quả dự phòng của kháng sinh 
Ceftriaxone trong phẫu thuật sản phụ 
khoa tại bệnh viện Trung Ương Huế, Luận 
văn thạc sĩ y học, Đại học Y Dược Huế.
14. Cao Minh Nga (2006), “Sự kháng 
thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường 
gặp tại Bệnh Viện Thống Nhất trong năm 
2006”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí 
Minh, tập 12 phụ bản số 1, Tr.194-200.
15. Nguyễn Bá Mỹ Nhi, Lê Hồng Cẩm 
(2005), “Đánh giá phẫu thuật nội soi ổ 
bụng bóc nhân xơ tử cung tại Bệnh viện 
Từ Dũ”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí 
Minh, tập 10 phụ bản số 1, Tr.116-121.
16. Lê Anh Phương (2010), “Phẫu 
thuật nội soi cắt tử cung tại Khoa Sản 
Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định”, Tạp chí 
Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 14 phụ 
bản số 4, Tr.49-53.
17. Hà Văn Quyết (2004), “Kháng sinh 
dự phòng trong phẫu thuật”, Tạp chí 
Ngoại khoa, số 4, Tr.1-10.
18. Phạm Thúy Trinh, Lê Thị Anh 
Đào, Nguyễn Thị Thanh Trúc, Nguyễn 
Thị Thanh Nhàn (2010), “Nghiên cứu 
tình trạng nhiễm khuẫn vết mổ tại khoa 
ngoại tổng hợp bệnh viện Đại Học Y Dược 
thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí y học 
thành phố Hồ Chí Minh, tập 14 phụ bản 
số 1, Tr.124-128.
19. Trường đại học Y Dược Huế (2011), 
“Kháng sinh họ beta-lactamin”, Hóa 
dược tập I, Khoa Dược, Tr.203-234.
20. Lê Anh Tuấn (2000), “Chỉ định 
trong phẫu thuật nội soi phụ khoa”, Nội 
soi trong phụ khoa, NXB Y học, Tr.20-30.
21. Nguyễn Sử Minh Tuyết, Vũ Thị 
Châu Hải, Trương Anh Dũng, Lê Thị Tuyết 
Nga (2009), “Khảo sát vi khuẩn gây nhiễm 
khuẩn bệnh viện tại Bệnh Viện Nhân Dân 
Gia Định”, Tạp chí Y học thành phố Hồ 
Chí Minh, tập 13 phụ bản số 6, Tr.295-300.
22. Trần Đình Vinh (2009), “Đánh giá 
hiệu quả điều trị lạc nội mạc tử cung 
bằng phẫu thuật nội soi”, Tạp chí Phụ 
sản, tập 10 số 3, Tr.167-176.
23. Budi S. (2011), “The Role of 
Prophylactic Antibiotics in Preventing 
Perioperative Infection”, Acta Med 
Indones, 43(4), pp.262-266.
24. Koenig W, Sund M. (1999), 
“C-Reactive Protein, a sensitive marker 
of Inflammation, Predict Future of 
Coronary Heart Disease in Initially 
Healtly Middle - Aged Men: Results from 
the MONICA Augsburg Cohort study”, 
Circulation, (99), pp.237-242.
25. Lagrand M. K.(1999), “C-Reactive 
protein as a cardiovascular risk factor: 
more than an Epiphenomenon”, 
Circulation, (100), pp.96-102.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ung_dung_khang_sinh_du_phong_trong_cac_phau_thuat.pdf