Nghiên cứu ứng dụng hệ thống theo dõi phôi liên tục (Time lapse) trong thụ tinh ống nghiệm
Mục tiêu: đánh giá tần suất các bất thường phân chia, xác định mối liên
quan giữa chất lượng phôi với động học phát triển của phôi đến ngày 2
trong điều kiện thụ tinh ống nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu: tổng số 106 chu kì điều trị bằng kỹ thuật thụ
tinh trong ống nghiệm có sử dụng hệ thống theo dõi nuôi cấy phôi liên
tục tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược
Huế trong thời gian từ tháng 4/2016 đến tháng 10/2017. Nghiên cứu theo
phương pháp mô tả cắt ngang.
Kết quả: Tổng số 846 phôi từ 106 bệnh nhân được đánh giá bởi hệ thống
theo dõi phôi liên tục. Các bất thường về hợp tử, phôi bào đa nhân, phân
chia bất thường 1 thành 3 tế bào và phân chia ngược được tầm soát. Những
phôi chất lượng tốt có thời gian xuất hiện hợp tử và dung hợp tiền nhân sớm
hơn đồng thời các khoảng thời gian T 2pn-f và T f-2c ngắn hơn so với các
phôi bào chất lượng kém hơn. Không có sự khác biệt về tốc độ phân chia
giữa các nhóm độ tuổi vợ tham gia nghiên cứu.
Kết luận: Sử dụng hệ thống theo dõi phôi liên tục giúp phát hiện các bất
thường trong quá trình phân chia của phôi mà phương pháp đánh giá hình
thái thông thường không phát hiện được. Dựa vào thời gian xuất hiện thể
cực, dung hợp tiền nhân và các khoảng thời gian T 2pn-f, T f-2c có thể tiên
lượng được hình thái phôi ngày 2.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu ứng dụng hệ thống theo dõi phôi liên tục (Time lapse) trong thụ tinh ống nghiệm
P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H NGUYỄN THỊ THÁI THANH, LÊ MINH TÂM, NGUYỄN VĂN TRUNG, NGUYỄN THỊ TÂM AN, CAO NGỌC THÀNH TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(04), 83 - 88, 2018 8382 Tậ p 15 , s ố 04 Th án g 03 -2 01 8 Tập 15, số 04 Tháng 03-2018 Tài liệu tham khảo 1. Aitken R. J, Best F.S.M., Richardson D.W, Djahanbakhch O, Mortimer D, Tempelton A A, Lees, M.M. 1982. An analysis of sperm function in cases of unexplained infertility: Conventional criteria, movement Characteristics and fertilizing capacity. Fertility & Sterility. 38 (1): 212- 221. 2. Aitken RJ, De Iuliis GN, Finnie JM, Hedges A, McLachlan RI. 2010. Analysis of the relationships between oxidative stress, DNA damage and sperm vitality in a patient population: Development of diagnostic criteria. Hum Reprod. 25(10):2415–26. 3. Alikani M, Ceklenikak NA, Walter E, Cohen J. 2003. Monozygonic twining following assisted conception: an analysis of 81 consecutive cases. Human Reprod. 18:1937-41. 4. Bostofte E., Serup J, Rebbe H. 1982. Relation between sperms count & semen volume, and pregnancies obtained during twenty- year follow- up period. International Journal of Andrology. 5: 267- 275. 5. Coccia ME, Becattini C, Criscuoli L, Fuzzi B, Scarsell G. 1997. A sperm survival test and in-vitro fertilization outcome in the presence of male factor infertility. Human Reprod. 12(9):1969-1973. 6. Coccia ME, Becattini C, Criscuoli L, Fuzzi B, Scarselli G, Taha EA, et al. 2012. The rapid detection of cytotoxicity using amodified human sperm survival assay. Fertil Steril. 25(4):311–7. 7. De Amicis F, Santoro M, Guido C, Russo A, Aquila S. 2012. Epigallocatechin gallate affects survival and metabolism of human sperm. Mol Nutr Food Res. 56(11):1655–64. 8. Eskandar M. 2002. Is 24h sperm motility a useful IVF measure when male infertility is not apparent. Acta Obstert gynecol Scand. 81:328-330. 9. Francon J.G, Mauri A.L, Petersen C.G, Bauruffi R.L.R, Campos M.S, Oliveira J.B.A. 1993. Efficacy of the sperm survival test for the prediction of oocyte fertilization in culture. Human Reprod. 8(6):916-918. 10. Ghoshal JA, Sawant VG, Shakya PS. 2014. Comparative Study of Sperm Vitality in Fertile and Infertile Males. J Evol Med Dent .3(69):14758–62 11. Gopalkrishnan K, Padwal V, Meherji P.K, Gokral J.S, Shah R, Juneja H.S. 2000. Poor quality of sperm as it affects repeated early pregnancy loss. Archives of Andrology. 45: 111-117. 12. Moskovtsev SI, Willis J, White J, Mullen JBM. 2007. Sperm survival: Relationship to age-related sperm DNA integrity in infertile men. Syst Biol Reprod Med. 53(1):29–32. 13. Moskovtsev SI, Librach CL. 2013. Spermatogenesis. Methods Mol Biol. 927:13–9. 3 14. Mostafa T. 2010. Cigarette smoking and male infertility. J Adv Res. 1:179-186. 15. Ozmen B, Caglar GS, Koster F, Schopper B, Diedrich K, Al-Hasani S. 2007. Relationship between sperm DNA damage, induced acrosome reaction and viability in ICSI patients. Reprod Biomed Online.15(2):208–14. 16. Speroff L, Fritz M. 2005. Male infertility. In: Speroff L, Fritz M,eds. Clinical Gynecologic Endocrinology and Infertility. Lippincott Williams and Wilkins. 1135-74. 17. Taha EA, Ez-Aldin AM, Sayed SK, Ghandour NM, Mostafa T. 2012. Effect of smoking on sperm vitality, DNA integrity, seminal oxidative stress, zinc in fertile men. Urology. 80(4):822–5 18. Veek LL, Zaninovic A. 2003. An atlas of human blastocyst. Parthenon Publishing Group, New York. 19. WHO. 2010. World Health Organization laboratory manual for the examination and processing of human semen. WHO Press, Geneva. Nguyễn Văn Trung, Lê Minh Tâm, Nguyễn Thị Tâm An, Nguyễn Thị Thái Thanh, Cao Ngọc Thành Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THEO DÕI PHÔI LIÊN TỤC (TIME LAPSE) TRONG THỤ TINH ỐNG NGHIỆM Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Văn Trung, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 10/12/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 05/01/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 12/01/2018 Từ khóa: Time lapse, phôi bào đa nhân, phân chia bất thường, phân chia ngược. Tóm tắt Mục tiêu: đánh giá tần suất các bất thường phân chia, xác định mối liên quan giữa chất lượng phôi với động học phát triển của phôi đến ngày 2 trong điều kiện thụ tinh ống nghiệm. Phương pháp nghiên cứu: tổng số 106 chu kì điều trị bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm có sử dụng hệ thống theo dõi nuôi cấy phôi liên tục tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế trong thời gian từ tháng 4/2016 đến tháng 10/2017. Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang. Kết quả: Tổng số 846 phôi từ 106 bệnh nhân được đánh giá bởi hệ thống theo dõi phôi liên tục. Các bất thường về hợp tử, phôi bào đa nhân, phân chia bất thường 1 thành 3 tế bào và phân chia ngược được tầm soát. Những phôi chất lượng tốt có thời gian xuất hiện hợp tử và dung hợp tiền nhân sớm hơn đồng thời các khoảng thời gian T 2pn-f và T f-2c ngắn hơn so với các phôi bào chất lượng kém hơn. Không có sự khác biệt về tốc độ phân chia giữa các nhóm độ tuổi vợ tham gia nghiên cứu. Kết luận: Sử dụng hệ thống theo dõi phôi liên tục giúp phát hiện các bất thường trong quá trình phân chia của phôi mà phương pháp đánh giá hình thái thông thường không phát hiện được. Dựa vào thời gian xuất hiện thể cực, dung hợp tiền nhân và các khoảng thời gian T 2pn-f, T f-2c có thể tiên lượng được hình thái phôi ngày 2. Từ khóa: Time lapse, phôi bào đa nhân, phân chia bất thường, phân chia ngược. Abstract RESEARCH ON THE APPLICATION OF TIME LAPSE MONITORING SYSTEM IN IN VITRO FERTILITY PROCEDURE Purpose: aims to evaluating the frequency of division abnomalies, determining the relationship between mophokinetic of embryo and quality of day 2 embryo. P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H NGUYỄN VĂN TRUNG, LÊ MINH TÂM, NGUYỄN THỊ TÂM AN, NGUYỄN THỊ THÁI THANH, CAO NGỌC THÀNH TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(04), 83 - 88, 2018 8584 Tậ p 15 , s ố 04 Th án g 03 -2 01 8 Tập 15, số 04 Tháng 03-2018 Method: The study was carried out on a total of 106 cycles of in vitro fertilization using a time lapse system for embryo culture at the Hue Center for Reproductive Endocrinology and Infertility, Hue University Hospital in the period from April 2016 to October 2017. Results: A total of 846 embryos from 106 patients were evaluated by time lapse system. Abnormal zygote, embryo multinucleation, irregular cleavage 1 into 3 cells, and reverse cleavage were screened. Good quality embryos have a shorter time of appear pronuleoli and fusion two pronucleoli, while T 2pn-f and T f-2c are shorter than those of lesser quality embryos. There was no difference in the rate of cleavage between the age groups participating in the study. Conclusion: time lapse system can detect abnormalities in the embryo cleavage process that conventional morphological evaluation methods can not detect. Based on the time of occurrence of second polar body, the fusion two pronucleoli and timeframes T 2pn-f, T f-2c can predict the morphology quality of day 2 embryo. 1. Đặt vấn đề Năm 1970, sự ra đời của Louise Brown đánh dấu sự ra đời đầu tiên của em bé thụ tinh trong ống nghiệm. Quá trình thụ tinh ở người hoàn toàn có thể thực hiện bên ngoài cơ thể và giúp cho các cặp vợ chồng mong con có thể có được con của chính mình. Hơn 40 năm nghiên cứu và ứng dụng trong lâm sàng kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đã có những bước phát triển không ngừng. Các bước phát triển được nghiên cứu từ kích thích buồng trứng, điều kiện nuôi cấy, kĩ thuật thụ tinh, môi trường nuôi cấy, phương pháp chọn lọc phôi. Mục đích của các nghiên cứu và thử nghiệm này là làm sao để tăng tỉ lệ thụ tinh cũng như trẻ sinh sống bằng các chương trình hỗ trợ sinh sản. Bên cạnh gia tăng tỉ lệ thai các biến chứng thai kì phải được giảm thiểu tối đa. Để đánh giá hiệu quả của một trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm tỉ lệ đa thai phải dưới 10% [4]. Phương pháp được ứng dụng phổ biến hiện nay tại các trung thụ tinh trong ống nghiệm để chọn lựa chọn phôi chuyển là dựa theo hình thái phôi ngày chuyển phôi: số lượng phôi bào, tỉ lệ phân mảnh, kích thước, phân bố của các phôi bào, có xuất hiện phôi bào đa nhân hay không. Tuy nhiên dựa trên hình thái phôi tại ngày chuyển phôi thông tin để có thể chọn lựa phôi có chất lượng tốt để chuyển hoặc trữ có phần hạn chế. Phôi được chọn có thể mang các khuyết tật di truyền có thể không làm tổ hoặc sẩy thai sớm [1]. Do đó để có them thông tin cho việc lựa chọn phôi nhiều nhà nghiên cứu đề nghị phôi cần được đánh giá liên tục quá trình phân chia của nó [15;10]. Hệ thống theo dõi phôi liên tục (Timelapse) là một hệ thống kính hiển vi đảo ngược được thiết kế thu gọn để có thể đặt bên trong tủ cấy, và nhờ một phần mềm điều khiển chuyên dụng để ghi nhận các hình ảnh của quá trình phân chia ở các phôi được nuôi cấy. Những hình ảnh được ghi nhận này sẽ được kết nối để tạo thành một video toàn diện về hoạt động phân chia của các phôi bên trong tủ cấy. Nhờ vậy hệ thống theo dõi phôi liên tục còn giúp phát hiện các bất thường trong các giai đoạn phân bào của các phôi trong quá trình nuôi cấy. Bên cạnh đó dựa vào dữ kiện về các sự kiện phân chia của phôi có thể so sánh và lựa chọn ra các phôi có khả năng phát triển tốt nhất [14]. Do đó chúng tôi tiến hành “nghiên cứu ứng dụng hệ thống theo dõi phôi liên tục (time lapse) trong thụ tinh ống nghiệm” nhằm mục tiêu đánh giá tần suất các bất thường phân chia của phôi trong quá trình nuôi cấy và xác định mối liên quan giữa chất lượng phôi với động học phát triển của phôi đến ngày 2. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện trên tổng số 106 chu kì điều trị bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm có sử dụng hệ thống theo dõi nuôi cấy phôi liên tục tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế trong thời gian từ tháng 4/2016 đến tháng 10/2017. Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang. Những trường hợp có chỉ định thụ tinh trong ống nghiệm sẽ được kích thích buồng trứng cho người vợ từ ngày 2 chu kỳ. Sau khi nang noãn trưởng thành sẽ tiến hành chọc hút trứng sau tiêm hCG 34-36 giờ dưới sự hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo. Trứng sau khi chọc hút sẽ được nuôi cấy trong môi trường G-IVF plus (Vitrolife, Sweden) trong vòng 2 giờ để ổn định và trưởng thành. Sau đó tiến hành tách lớp tế bào hạt và tế bào vành tia bên ngoài dưới tác động cơ học của denude pipette có đường kính trong 135µm (Vitrolife, Sweden) và hoạt tính của enzyme hyaronurase 80 IU (Hyase 10X, Vitrolife, Sweden). Trứng được nuôi cấy tiếp trong môi trường G-IVF plus trong 1 giờ trước khi tiến hành thủ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI - Intracytoplasmic Sperm Injection). Tinh trùng được xử lý với quy trình lọc rửa theo thang nồng độ với Silselect (Fertipro, Belgium) và Flushing (Fertipro, Belgium) để chọn lọc được những tinh trùng tốt để tiến hành thụ tinh. Trứng sau thụ tinh sẽ được nuôi trong đĩa cấy 16 giếng WOW (Vitrolife,Sweden) chứa 100µl môi trường G-TL (Vitrolife,Sweden) và được phủ 3ml dầu OVOIL (Vitrolife,Sweden). Đĩa chứa trứng sau thụ tinh được đặt trong tủ nuôi cấy Galaxy 170R được cài đặt với nhiệt độ 370C, 5,5% CO2 và 5% 02 trong 48 giờ. Hình ảnh của phôi sẽ được ghi lại mỗi 10 phút một lần trên 9 mặt phẳng để có thể ghi nhận và đánh giá các hoạt động phân chia của phôi bên trong tủ cấy. Việc ghi nhận hoạt động phân chia của phôi bên trong tủ cấy được điều khiển bởi hệ thống timelapse primovision (Vitrolife,Sweden). Xử lý thống kê với phần mềm SPSS 21 for Windows với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi giá trị p< 0.05. 3. Kết quả Tổng số 846 phôi được quan sát từ 106 bệnh nhân được điều trị thụ tinh trong ống nghiệm có sử dụng hệ thống theo dõi phôi liên tục tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế. Mỗi phôi được theo dõi các hoạt động phân chia ngay sau khi được thụ tinh bởi thủ thuật ICSI đến 48 giờ sau nuôi cấy. Các mốc thời gian quan trọng của quá trình phát triển của phôi bên trong tủ cấy được mô tả tại bảng 1. Phôi bào đa nhân được cho là phân chia bất thường nhưng tỉ lệ mảnh vỡ thấp hơn so với phôi bào đơn nhân 3,75±5,42 so với 10,97±16,53, sai khác này có ý nghĩa thống kê với p=0,05. Trong khi đó hợp tử bất thường không ảnh hưởng đến tỉ lệ mảnh vỡ nhưng ảnh hưởng đến số lượng phôi bào. Nhưng phôi được phát triển từ hợp tử bất thường có số lượng tế bào ít hơn so với hợp tử bình thường (4,47±1,11 so với 3,90±0,96, p=0,00 tương ứng). Tương tự các phôi có biểu hiện của sự phân chia ngược ít ảnh hưởng đến độ phân mảnh của phôi, tuy nhiên nó ảnh hưởng đến số lượng phôi bào. Những phôi có biểu hiện phân chia ngược cho thấy số tế bào vào ngày Đặc điểm Số lượng Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất Thể cực thứ 2 846 3:47±1:37 1:30 26:30 Xuất hiện tiền nhân 846 9:29±3:14 4:50 31:50 Dung hợp tiền nhân 846 24:19±4:11 13:35 46:40 2 tế bào 767 27:02±4:24 17:16 48:50 3 tế bào 746 35:51±5:02 10:10 47:36 4 tế bào 665 38:07±4:00 25:27 48:17 5 tế bào 136 40:30±4:12 26:17 48:15 6 tế bào 49 42:14±3:39 34:56 48:48 7 tế bào 12 44:01±3:06 38:15 48:48 8 tế bào 10 44:38±3:04 39:43 48:48 Bảng 1: Tóm tắt hoạt động phân chia của phôi Đặc điểm Số lượng Số lượng phôi bào Tỉ lệ mảnh vỡ Phôi bào đa nhân Có 76 3,95±0,78 3,75±5,42 Không 770 3,96±1,01 10,97±16,53 P value 0,12 0,00 Hợp tử bất thường Có 24 3,29±0,86 12,71±19,5 Không 822 3,97±0,99 10,26±15,88 P value 0,00 0,46 Phân chia bất thường 1-3 Có 88 4,47±1,11 10,85±15,05 Không 758 3,90±0,96 10,26±19,1 0,00 0,74 Phân chia ngược Có 11 3,45±0,93 5,91±8,89 Không 835 3,96±0,99 10,38±16,05 P value 0,10 0,13 Bảng 2: Chất lượng phôi bào và các bất thường trong phân chia P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H NGUYỄN VĂN TRUNG, LÊ MINH TÂM, NGUYỄN THỊ TÂM AN, NGUYỄN THỊ THÁI THANH, CAO NGỌC THÀNH TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(04), 83 - 88, 2018 8786 Tậ p 15 , s ố 04 Th án g 03 -2 01 8 Tập 15, số 04 Tháng 03-2018 2 ít hơn so với các phôi bào bình thường, tuy nhiên khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (3,45±0,93 so với 3,96±0,99, p=0.10 tương ứng). Kết quả cho thấy có sự khác biệt về thời gian hình thành thể cực, hình thành tiền nhân, dung hợp tiền nhân và các khoảng thời gian (T pb-2pn), (T 2pn-f), (T f-2c) giữa các phôi có số lượng ít hơn 4 và ≥4 tế bào, các khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Tỉ lệ mảnh vỡ của phôi không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian T pb-2pn trong khi đó các thời điểm và các khoảng thời gian còn lại các khác biệt có ý nghĩa thống kê (bảng 3). Kết quả khi so sánh các bất thường trong quá trình phân chia giữa các nhóm tuổi vợ tuổi ... m trong khoảng thời gian được nhận định là các phôi chất lượng di truyền bình thường theo nghiên cứu khác [5;6]. Dựa trên cơ sở đó chúng tôi có thể dử dụng các mốc thời gian trung bình được ghi nhận trong nghiên cứu của chúng tôi để làm cơ sở phân loại các phôi có chất lượng di truyền tốt để lựa chọn trong quá trình chuyển phôi . Những bất thường trong quá trình phân chia của phôi không thể quan sát được bằng việc đánh giá hình thái thông thường theo đồng thuận Alpha. Một số bất thường trong hoạt động phân chia của phôi chỉ có thể được phát hiện thông qua sử dụng hệ thống theo dõi phôi liên tục. Sự xuất hiện phôi bào đa nhân là một dạng bất thường nặng có liên quan đến cấu trúc nhiễm sắc thể của phôi. Mặc dù trong một số trường hợp có thể quan sát được phôi bào đa nhân bằng việc đánh giá hình thái thông thường nhưng không phổ biến. Sự hiện diện của túi nhân bên trong phôi bào thường nằm ngoài các mốc thời gian đánh giá phôi theo đồng thuận Alpha. Trong nghiên cứu của chúng tôi phôi bào đa nhân hiện diện (76/846) phôi. Tuy nhiên chất lượng của phôi ở nhóm có sự hiện diện của phôi bào đa nhân tốt hơn hình thái của các phôi bào khác qua tỉ lệ mảnh vỡ thấp hơn. Như vậy có thể thấy sự hiện diện của phôi bào đa nhân là độc lập với chất lượng hình thái phôi được quan sát. Phôi bào đa nhân có thể liên quan đến bất thường nhiễm sắc thể, tuy nhiên trong một số nghiên cứu chuyển phôi có sự hiện diện của phôi bào đa nhân vẫn cho tỉ lệ làm tổ tương đương với nhóm phôi bào đơn nhân. Điều này được giải thích phôi bào đa nhân nếu xuất hiện sớm ở giai đoạn 2 tế bào có thể được cơ chế sửa sai của tế bào tác động. Cơ chế sửa sai của tế bào giúp cho các phôi bào đa nhân trở về trạng thái bình thường về nhiễm sắc thể, do đó các giai đoạn sau của phôi phát triển bình thường. Tuy nhiên, sự hiện diện của phôi bào đa nhân ở các giai đoạn sau (4 tế bào trở lên) cơ chế sửa sai của tế bào không còn hiệu quả khi đó chuyển các phôi có sự hiện diện của phôi bào đa nhân có tỉ lệ làm tổ rất thấp. Như vậy phôi có sự hiện diện của phôi bào đa nhân vẫn có thể được sử dụng để chuyển phôi nếu các giai đoạn phát triển sau của phôi là bình thường [7;12]. Phân chia bất thường 1-3 tế bào trong nghiên cứu của chúng tôi xuất hiện 88/846 phôi, tần suất này là tương đương với nghiên cứu trước đó của Distratis và cộng sự 2016 (111/791). Những phôi ở dạng phân chia bất thường 1-3 tế bào thường ít có khả năng phát triển ở các giai đoạn sau và phát triển thành các phôi nang chất lượng tốt, tỉ lệ làm tổ của các phôi này chỉ 1,2%. Chính vì vậy nhiều nghiên cứu khuyến cáo không nên sử dụng các phôi phân chia bất thường trong các chu kì chuyển [16]. Tuy tỉ lệ các phôi phân chia bất thường có thể phát triển thành phôi nang chất lượng tốt là rất thấp chỉ 21,6% và khi đánh giá chất lượng di truyền của các phôi nang này thì 75% các phôi thu được là bình thường về nhiễm sắc thể. Như vậy trong các phôi phân chia bất thường các tế bào có bộ nhiễm sắc thể bất thường sẽ bị dừng lại và loại bỏ trong khi đó các tế bào có bộ nhiễm sắc thể bình thường vẫn có thể tiếp tục phát triển [9]. Trong nghiên cứu của chúng tôi việc theo dõi phôi chỉ tiến hành đến giai đoạn phôi ngày 2 và các phôi này vẫn tiếp tục phát triển ở các giai đoạn sau. Một điểm đáng lưu ý là số lượng phôi bào của các phôi phân chia bất thường nhiều hơn các phôi khác (4,47±1,11 so với 3,90±0,96) tương ứng. Như vậy nếu không có sự hỗ trợ của hệ thống theo dõi phôi liên tục các phôi ngày 2 có số lượng lớn hơn 4 phôi bào cần được cân nhắc trước khi chuyển vào tử cung của bệnh nhân nhằm đảm bảo hiệu quả chu kì điều trị [3]. Hợp tử bất thường xuất hiện với tần suất rất thấp khi tiến hành thủ thuật ICSI, chỉ khoảng 6%. Những hợp tử này có tốc độ phát triển chậm hơn so với các hợp tử bình thường khác nhưng vẫn có thể tạo được phôi nang và có thể làm tổ. Tỉ lệ làm tổ của phôi có hợp tử bất thường chỉ 1,2% và thường dẫn đến sẩy thai sớm [13]. Bất thường nhiễm sắc thể được tìm thấy hầu như ở tất cả các tế bào có nguồn gốc từ các hợp tử bất thường này. Thời điểm đánh giá thụ tinh bằng phương pháp thông thường 16-18 giờ sau thụ tinh có thể không tầm soát được bất thường hợp tử này. Có thể tại thời điểm kiểm tra thụ tinh hợp tử biểu hiện trạng thái bình thường với 2 tiền nhân. Tuy nhiên hợp tử đó có thể là hợp tử bất thường với 3 tiền nhân. Sự xuất hiện và biến mất của tiền nhân thứ 3 này nằm ngoài khoảng thời gian đánh giá trên. Với hệ thống theo dõi phôi liên tục, sự xuất hiện và biến mất của tiền nhân thứ 3 này được quan sát hoàn toàn. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ xuất hiện hợp tử bất thường là 24/846 và các hợp tử này có số lượng tế bào ít hơn có ý nghĩa thống kê với các hợp tử bình thường. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Joergensen và cộng sự 2014 [13]. Phôi phân chia ngược có thể xuất hiện trong giai đoạn phôi phân chia (3 ngày đầu sau thụ tinh). Những phôi phân chia ngược có khả năng phát triển rất thấp. Do đó khả năng làm tổ của các phôi phân chia ngược này cực kì thấp khi được chuyển [16]. Tỉ lệ các phôi có biểu hiện của phân chia ngược là 7% và thường đi kèm với biểu hiện phôi bào đa nhân [8]. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ xuất hiện phôi phân chia ngược là 11/846 phôi được quan sát. Tuy nhiên khi đánh giá chất lượng hình thái của phôi thì các phôi có biểu hiện phân chia ngược không có khác biệt lớn về số lượng tế bào hay tỉ lệ mảnh vỡ. Do đó nếu sử dụng phương pháp đánh giá hình thái phôi thông thường rất khó để có thể phát hiện các phôi có biểu hiện phân chia bất thường này và đân đến đánh giá sai chất lượng phôi. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chất lượng hình thái của phôi vào ngày 2 phụ thuộc khá nhiều vào thời gian hình thành thể cực, thời điểm dung hợp tiền nhân, khoảng thời gian từ khi xuất hiện tiền nhân đến khi dung hợp tiền nhân và khoảng thời gian dung hợp tiền nhân đến khi phôi phân chia thành 2 tế bào. Các kết quả cho thấy các phôi có chất lượng hình thái tốt (số lượng tế bào ≥4 và tỉ lệ mảnh vỡ ≤10%) có các mốc thời gian và khoảng thời gian được ghi nhận ngắn hơn có ý nghĩa thống kê đối với các phôi có chất lượng hình thái kém (số lượng tế bào 10%). Dựa vào kết quả nghiên cứu thu nhận được chúng tôi xây dựng các mốc thời gian để tiên lượng chất lượng phôi ngày 2 là dưới 4 giờ cho sự xuất hiện thể cực thứ 2, dưới 24 giờ cho sự dung hợp tiền nhân, dưới 15 giờ cho khoảng thời gian T 2pn-f và dưới 3 giờ cho khoảng thời gian T f-2c (bảng 3). Kết quả này phù hợp với bảng đánh giá các mốc thời gian và thời điểm tiên lượng khả P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H NGUYỄN VĂN TRUNG, LÊ MINH TÂM, NGUYỄN THỊ TÂM AN, NGUYỄN THỊ THÁI THANH, CAO NGỌC THÀNH TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(04), 89 - 93, 2018 8988 Tậ p 15 , s ố 04 Th án g 03 -2 01 8 Tập 15, số 04 Tháng 03-2018 năng làm tổ của phôi theo nghiên cứu của Carrasco vào cộng sự 2017 [5]. Các nghiên cứu trước đây cho thấy tuổi vợ là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến số lượng và chất lượng trứng tạo thành trong thụ tinh ống nghiệm. Tuổi vợ càng cao thì tỉ lệ thành công của các chu kì hỗ trợ sinh sản càng thấp. Trứng thu nhận từ những phụ nữ lớn tuổi thường có nguồn gốc từ các nang trứng có mức độ biểu hiện gen khác với nhóm các phụ nữ trẻ tuổi [8]. Trong khi đó trong giai đoạn phôi ngày 2 hệ gen của phôi chưa hoạt động mà phụ thuộc rất lớn vào chất lượng di truyền của trứng ban đầu. Do đó có thể có mối liên quan giữa tuổi mẹ và tốc độ phát triển của phôi. Thật vậy hợp tử bất thường chỉ có 1 trường hợp xuất hiện ở nhóm tuổi vợ dưới 35 tuổi trong khi đó có 23 hợp tử bất thường ở nhóm tuổi vợ từ 35 tuổi trở lên. Thời gian xuất hiện thể cực thứ 2 ở nhóm tuổi vợ dưới 35 tuổi cao hơn so với nhóm tuổi vợ từ 35 tuổi trở lên (3:51 so với 3:33, tương ứng). Tuy nhiên các mốc thời gian và khoảng thời gian khác của 2 nhóm đối tượng này không có ý nghĩa thống kê. Kết quả này phù hợp với các kết quả nghiên cứu của Hampl và cộng sự 2013 cùng với Akhter và cộng sự 2017 [2;11]. 5. Kết luận và kiến nghị Sử dụng hệ thống theo dõi phôi liên tục giúp nhận diện các bất thường trong quá trình phân chia của phôi. Trong đó tỉ lệ phôi phân chia bất thường 1 thành 3 tế bào cao nhất là 88/846 phôi, tiếp đến là phôi bào đa nhân 76/846 và hợp tử bất thường 24/846, cuối cùng là phôi phân chia ngược 11/846. Các bất thường này không thể nhận diện hoàn toàn bằng phương pháp đánh giá hình thái phôi theo các mốc thời gian thường quy. Những phôi có chất lượng tốt với số lượng tế bào ≥4 và tỉ lệ mảnh vỡ ≤10% thường có thời gian xuất hiện hợp tử và dung hợp tiền nhân sớm hơn đồng thời các khoảng thời gian T 2pn-f và Tf-2c ngắn hơn so với các phôi bào chất lượng kém hơn (tế bào 10%). Mặc dù số lượng hợp tử bất thường lớn hơn ở nhóm tuổi vợ có độ tuổi từ 35 tuổi trở lên nhưng các mốc thời gian và các khoảng thời gian cũng như các bất thường khác không có sự khác biệt với nhóm tuổi vợ dưới 35 tuổi. Tài liệu tham khảo 1. Adamson, G. D., Abusief, M. E., Palao, L., Witmer, J., Palao, L. M., & Gvakharia, M. (2016). Improved implantation rates of day 3 embryo transfers with the use of an automated time-lapse-enabled test to aid in embryo selection. Fertility and Sterility, 105(2), 369–375. 2. Akhter, N., & Shahab, M. (2017). Morphokinetic analysis of human embryo development and its relationship to the female age : a retrospective time-lapse imaging. Cell Mol Biol, 63(8), 84–92. 3. Almagor, M., Or, Y., Fieldust, S., & Shoham, Z. (2015). Irregular cleavage of early preimplantation human embryos: characteristics of patients and pregnancy outcomes. Journal of Assisted Reproduction and Genetics, 32(12), 1811–1815. 4. Best, L. (2015). Equipment required for time-lapse observations in in vitro fertilization. Atlas of Time Lapse Embryology. 5. Carrasco, B., Arroyo, G., Gil, Y., Gómez, M. aJ, Rodríguez, I., Barri, P. N., Boada, M. (2017). Selecting embryos with the highest implantation potential using data mining and decision tree based on classical embryo morphology and morphokinetics. Journal of Assisted Reproduction and Genetics, 34(8), 983–990. 6. Chawla, M., Fakih, M., Shunnar, A., Bayram, A., Hellani, A., Perumal, V., Budak, E. (2014). Morphokinetic analysis of cleavage stage embryos and its relationship to aneuploidy in a retrospective time-lapse imaging study. Journal of Assisted Reproduction and Genetics, 32(1), 69–75. 7. Desai, N., Ploskonka, S., Goodman, L. R., Austin, C., Goldberg, J., & Falcone, T. (2014). Analysis of embryo morphokinetics, multinucleation and cleavage anomalies using continuous time-lapse monitoring in blastocyst transfer cycles. Reproductive Biology and Endocrinology, 12(1), 54. 8. Diez-fraile, A., Lammens, T., Tilleman, K., Witkowski, W., Verhasselt, B., Sutter, P. De, Katharina, D. (2014). Age-associated differential microRNA levels in human follicular fluid reveal pathways potentially determining fertility and success of in vitro fertilization. Human Fertility, 17, 90–98. 9. Distratis, V., & Borini, A. (2016). Embryos with morphokinetic abnormalities aberrations may develop into euploid blastocysts. Reproductive BioMedicine Online, 34(2),137–146. 10. Findikli, N., & Oral, E. (2014). Time-lapse embryo imaging technology : does it improve the clinical results ?. Curr Opin Obstet Gynecol, 26(3), 138–144. 11. Hampl, R., & Stěpán, M. (2013). [Variability in timing of human embryos cleavage monitored by time-lapse system in relation to patient age]. Ceska Gynekologie, 78(6), 531–6. 12. Hashimoto, S., Nakano, T., Yamagata, K., Inoue, M., Morimoto, Y., & Nakaoka, Y. (2016). Multinucleation per se is not always suf fi cient as a marker of abnormality to decide against transferring human embryos. Fertility and Sterility, 106(1),133–139 13. Joergensen, M. W., Agerholm, I., Hindkjaer, J., Bolund, L., Sunde, L., Ingerslev, H. J., & Kirkegaard, K. (2014). Altered cleavage patterns in human tripronuclear embryos and their association to fertilization method: A time-lapse study. Journal of Assisted Reproduction and Genetics, 31(4), 435–442. 14. Kirkegaard, K., Ahlstroom, A., Ingerslev, H. J., & Hardarson, T. (2014). Choosing the best embryo by time lapse versus standard morphology. Fertility and Sterility, 103(2), 323–332. 15. Rubio, I., Gallán, A., Larreategui, Z., Ayerdi, F., Bellver, J., Herrero, J., & Meseguer, M. (2014). Clinical validation of embryo culture and selection by morphokinetic analysis: A randomized, controlled trial of the EmbryoScope. Fertility and Sterility, 102(5), 1287–1294. 16. Zaninovic, N., Irani, M., & Meseguer, M. (2017). Assessment of embryo morphology and developmental dynamics by time-lapse microscopy: is there a relation to implantation and ploidy?. Fertility and Sterility, 108(5), 722–729. Nguyễn Thị Quỳnh Tiên(1), Mã Phạm Quế Mai(2), Dương Nguyễn Duy Tuyền(1), Nguyễn Minh Tài Lộc(2), Nguyễn Trương Thái Hà(2) (1) Bệnh viện Mỹ Đức, (2) Khoa Y, Đại học Quốc gia TP.HCM MỐI TƯƠNG QUAN CỦA CHỈ SỐ PHÂN MẢNH DNA TINH TRÙNG VÀ KẾT QUẢ TIÊM TINH TRÙNG VÀO BÀO TƯƠNG NOÃN Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Thị Quỳnh Tiên, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 22/12/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 05/01/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 12/01/2018 Tóm tắt Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng (DNA Fragment Index – DFI) được đo bằng phương pháp khảo sát độ phân tán nhiễm sắc chất (Sperm Chormatin Dispersion – SCD) và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (Intracytoplasmic Sperm Injection – ICSI). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, thực hiện trên 160 bệnh nhân điều trị ICSI tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 06/2016 đến tháng 05/2017. Kết quả: Không có mối tương quan giữa chỉ số phân mảnh DNA và kết quả ICSI, bao gồm: tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi ngày 3 và tỷ lệ phôi hữu dụng (p > 0,05). Kết quả: thai lâm sàng ở ba nhóm DFI (< 15%, 15-30%, > 30%) không có khác biệt, bao gồm: tỷ lệ thai beta-hCG > 25 mIU/mL (tương ứng là 49%, 57% và 60%), tỷ lệ thai lâm sàng (tương ứng là 33%, 47% và 20%) và tỷ lệ sẩy thai (tương ứng là 6,5%, 13,3% và 0%) (p > 0,05). Kết luận: Tỷ lệ phân mảnh DNA tinh trùng không ảnh hưởng đến kết quả điều trị của ICSI. 1. Đặt vấn đề Có khoảng 30-40% các trường hợp hiếm muộn có nguyên nhân từ cả hai vợ chồng và khoảng 20% do bất thường về tinh trùng của người chồng[1]. Trong đó, các yếu tố được quan tâm trong chẩn đoán vô sinh nam thường chỉ dựa vào các thông số tinh dịch đồ, bao gồm: thể tích tinh dịch, pH, mật độ, độ di động và hình dạng tinh trùng. Tuy nhiên, khoảng
File đính kèm:
nghien_cuu_ung_dung_he_thong_theo_doi_phoi_lien_tuc_time_lap.pdf

