Nghiên cứu tỷ lệ và đối chiếu chẩn đoán dị tật thận - Niệu quản trước và sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: Đối chiếu chẩn đoán dị tật thận-tiết niệu trước và sau sinh tại

Bệnh viện Phụ sản Trung ương sẽ hỗ trợ được việc chẩn đoán sớm dị tật

thận-tiết niệu dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và tiền lâm sàng.

Đối tượng và phương pháp: Mô tả tiến cứu trên 76 bệnh nhi sơ sinh có

chẩn đoán trước sinh có dị tật thận-niệu quản được sinh ra tại Bệnh viện

Phụ sản Trung ương từ 1/ 2014 đến 7/2015.

Kết quả: Tỷ lệ dị tật thận-niệu quản chiếm 0,2% trong đó dị tật thận

chiếm 26,43%, niệu quản 63,2%, thận + niệu quản 10,37%. Dị tật thận

niệu quảnđược siêu âm chẩn đoán trước sinh chiếm 87%. Hẹp khúc nối

bể thận-niệu quản là bất thường hay gặp và tỷ lệ chẩn đoán đúng chiếm

66,15%. Túi sa niệu quản, nang thận, loạn sản thận và bất sản thận có

tỷ lệ chẩn đoán đúng trên 80%.

Kết luận: Siêu âm có giá trị trong chẩn đoán trước sinh phát hiện dị

tật thận- niệu quản so với sau sinh với tỷ lệ chẩn đoán đúng của siêu

âm là 87%

pdf 6 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tỷ lệ và đối chiếu chẩn đoán dị tật thận - Niệu quản trước và sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tỷ lệ và đối chiếu chẩn đoán dị tật thận - Niệu quản trước và sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Nghiên cứu tỷ lệ và đối chiếu chẩn đoán dị tật thận - Niệu quản trước và sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TRẦN ĐỨC TÚ, TRẦN NGỌC BÍCH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
114
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Trần Đức Tú(1), Trần Ngọc Bích(2)
(1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ VÀ ĐỐI CHIẾU CHẨN ĐOÁN
DỊ TẬT THẬN - NIỆU QUẢN TRƯỚC VÀ SAU SINH
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tóm tắt
Mục tiêu: Đối chiếu chẩn đoán dị tật thận-tiết niệu trước và sau sinh tại 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương sẽ hỗ trợ được việc chẩn đoán sớm dị tật 
thận-tiết niệu dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và tiền lâm sàng.
Đối tượng và phương pháp: Mô tả tiến cứu trên 76 bệnh nhi sơ sinh có 
chẩn đoán trước sinh có dị tật thận-niệu quản được sinh ra tại Bệnh viện 
Phụ sản Trung ương từ 1/ 2014 đến 7/2015.
Kết quả: Tỷ lệ dị tật thận-niệu quản chiếm 0,2% trong đó dị tật thận 
chiếm 26,43%, niệu quản 63,2%, thận + niệu quản 10,37%. Dị tật thận 
niệu quảnđược siêu âm chẩn đoán trước sinh chiếm 87%. Hẹp khúc nối 
bể thận-niệu quản là bất thường hay gặp và tỷ lệ chẩn đoán đúng chiếm 
66,15%. Túi sa niệu quản, nang thận, loạn sản thận và bất sản thận có 
tỷ lệ chẩn đoán đúng trên 80%.
Kết luận: Siêu âm có giá trị trong chẩn đoán trước sinh phát hiện dị 
tật thận- niệu quản so với sau sinh với tỷ lệ chẩn đoán đúng của siêu 
âm là 87%.
Từ khoá: dị tật thận-tiết niệu, chẩn đoán trước sinh, theo dõi sau sinh.
Abstract 
STUDY ON PROPORTION OF DIAGNOSIS OF 
RENAL AND UTERER DISEASES AND BEFORE 
AND AFTER BIRTH AT NATIONAL HOSPITAL OF 
OBSTETRICS AND GYNEACOLOGY
Objectives: to compare diagnosis of renal and uterer malformation 
before and after birth at national hospital of Obstetrics and Gyneacology.
Methodology and materials: this is descriptive longitudinal study with 
76 patients diagnosed with uterer and kidney malformation at National 
hospital of Obstetrics and Gyneacology from January, 2014 to July, 2015. 
Results: The rate of renal and uterer malformation was 0.2%, among 
those renal disorder was 26.43%, uterer disorder was 63.2%, renal uterer 
combination was 10.37%. Hydronephrosis is a common malformation 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trần Đức Tú,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):20/04/2016
Từ khoá: Dị tật thận - tiết niệu, 
chẩn đoán trước sinh, theo dõi 
sau sinh. 
Keywords: Renal – uterer 
malformation, prenatal diagnosis, 
postpartum followup. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 114 - 119, 2016
115
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu 
Đối tượng nghiên cứu: 76 bệnh nhi sơ sinh tổng 
cộng là 100 số lượng dị tật có chẩn đoán trước 
sinh có dị tật thận-niệu quản được sinh ra tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương từ 1/ 2014 đến 7/2015 
trong tổng số 35,351 trẻ sinh ra.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu. 
Xử lý số liệu: Các số liệu được thu thập được 
sử lý theo phương pháp thống kê Y học trên phần 
mềm thống kê Y học SPSS.
Đạo đức nghiên cứu: Các trẻ sơ sinh thuộc đối 
tượng nghiên cứu đều được giải thích, tư vấn cho 
gia đình quy trình làm nghiên cứu và được sự đồng 
ý tham gia của gia đình bệnh nhi. Các thông tin 
của bệnh nhi và người nhà bệnh nhi, kết quả chẩn 
đoán được giữ kín theo quy định.
Đã thông qua Hội Đồng y đức của Bệnh viện 
Phụ sản Trung ương.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm chung của nhóm 
nghiên cứu 
Sau sinh có 70 bệnh nhi tổng cộng 87 số lượng 
dị tật thận-niệu quản được chẩn đoán
1. Đặt vấn đề
Dị tật thận-tiết niệu (DTTTN) bao gồm nhiều loại 
bất thường về cấu trúc, chức năng, hình thái khác 
nhau của hệ thống tiết niệu từ thận đến hệ thống dẫn 
niệu ngoài. Các loại bất thường thận-niệu quản hay 
gặp trên lâm sàng như nang thận bẩm sinh, thận đa 
nang, thận niệu quản đôi, hẹp khúc nối bể thận niệu 
quản... Phôi thai học của đường tiết niệu trên và dưới 
là một quá trình hình thành phức tạp. Những biến đổi 
di truyền nhiều khi rất nhỏ, cũng làm sai lệch trình tự 
của sự hình thành và phát triển bình thường của hệ 
thận-tiết niệu. Do đó, các DTTTN gặp khá phổ biến 
và có khả năng gây biến chứng hoặc tử vong.
Nghiên cứu của F.Boussion và cộng sự năm 2011 
bất thường hệ tiết niệu chiếm 20-30% trong tổng số 
các dị tật bẩm sinh đứng thứ 2 sau bất thường hệ thần 
kinh trung ương và 80% trong số đó được chẩn đoán 
trước sinh [1]. Theo Trần Đình Long và cộng sự năm 
2005, nghiên cứu di tật thận tiết niệu ở 6037 trẻ mới 
đẻ thì có 2,93% có dị tật thận tiết niệu sinh dục. Theo 
Trần Ngọc Bích và cộng sự (2013): Tỷ lệ dị tật thận 
tiết niệu là 11,5% trong các loại dị tật [2-4]. 
Hiện tại phương pháp chẩn đoán trước sinh 
được sử dụng phổ biến là siêu âm hình thái học 
thai nhi. Tuỳ từng loại dị tật ở từng cơ quan mà 
có thể chẩn đoán được sớm hay muộn. Theo dõi 
liên tục bằng siêu âm từ 3 tháng đầu cho đến tận 
3 tháng cuốicủa thai kỳ đã cho phép hiểu rõ hơn 
diễn biến các trường hợp dị tật thận phát hiện 
trong thời kỳ thai nhi.
Để đánh giá khả năng chẩn đoán trước sinh 
các dị tật thận-niệu quản, đối chiếu chẩn đoán dị 
tật thận-niệu quản trước và sau sinh tại Bệnh viện 
Phụ sản Trung ương sẽ hỗ trợ được việc chẩn đoán 
sớm dị tật thận-tiết niệu dựa trên các dấu hiệu lâm 
sàng và tiền lâm sàng. 
and 66.15% correct diagnosis. Utererocele, renal cysts, renal atrophy had correct diagnosis above 
80%. Uterer and kidney malformation diagnosed by ultrasound was 87%. Conclusions: Ultrasound is 
a valuable method in diagnosis of renal and uterer d with 87% detection rate in comparision between 
before and after birth. 
Keywords: renal – uterer malformation, prenatal diagnosis, postpartum followup. 
Biểu đồ 1. Phân bố bệnh nhi theo vị trí bên dị tật và giới
TRẦN ĐỨC TÚ, TRẦN NGỌC BÍCH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
116
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
trước sinh >90%. Bệnh lý hẹp khúc nối BT-NQ chỉ 
66,15%, phình to niệu quản 57,14% và thận niệu 
quản đôi 55,55%. 2 bệnh nhi giảm sản thận sau 
sinh mới chẩn đoán được.
19 bệnh nhi được phẫu thuật chiếm 27,14%. 
Trong đó có 3 bệnh nhi bị hẹp khúc nối BT-NQ 
2 bên, 1 bệnh nhi phình to niệu quản 2 bên và 1 
bệnh nhi có thận niệu quản đôi 2 bên.
Thời gian mổ từ 2-12 tháng tuổi có 10/19 bệnh 
nhi, có 4 bệnh nhi mổ dưới một tháng đều được 
chẩn đoán trước sinh ứ nước thận (độ IV).
4. Bàn luận 
4.1. Tỷ lệ mắc dị tật thận-niệu quản
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 70/35351 
trẻ sơ sinh mắc dị tật thận-niệu quản trong tổng số 
trẻ sơ sinh được sinh ra chiếm 0,2% trong đó dị tật 
thận-niệu quản trẻ trai 46/19166 chiếm 0,24% và 
dị tật thận-niệu quản trẻ gái là 24/16185 chiếm 
0,15%. Theo nghiên cứu của Trần Đình Long và cs 
(2005) trên 6037 trẻ sơ sinh đẻ ra sống tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương thấy có 59 trường hợp có 
dị tật thận-tiết niệu, chiếm 0,98% [1]. Agnieszka 
Lukomska và cộng sự (2012) tỷ lệ dị tật thận tiết 
niệu là 0,17% trẻ sinh sống [2]. Tại Mỹ năm 2013 
Kristina Denasin và cộng sự đã dùng siêu âm cho 
10000 trẻ khỏe mạnh từ 7 ngày đến 6 tháng tuổi 
thấy 74 trẻ dị tật thận-tiết niệu chiếm 0,74%. Như 
vậy tỷ lệ dị tật thận-niệu quản trong nhóm nghiên 
cứu của chúng tôi thấp hơn một số tác giả trong 
nước và trên thế giới. Vì đối tượng nghiên cứu của 
chúng tôi, là dị tật thận-niệu quản trong khi đó các 
tác giả là dị tật thận-tiết niệu.
4.2. Giới tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nam giới 
có 46 bệnh nhi chiếm 65,72% tỷ lệ nam/nữ 
= 1,92/1. Dị tật thận-niệu quản trái/phải là 
1,59/1. So sánh kết quả nghiên cứu của chúng 
Tỷ lệ dị tật thận-niệu quản trẻ trai/gái là 
1,92/1. Dị tật thận-niệu quản trái/phải là 1,59/1. 
Dị tật hai bên 18,57%.
Trong số 76 bệnh nhi, có 71 bệnh nhi sinh đủ 
tháng chiếm 93,4%, 5 bệnh nhi sinh non tháng 
chiếm 6,6%.
3.2. Đối chiếu kết quả siêu âm trước 
sinh-sau sinh
Dị tật tại thận được chẩn đoán trước sinh là 
nhiều nhất chiếm 87%, niệu quản chiếm 8% và 
thận niệu quản đôi 5%.
Sau sinh tỷ lệ dị tật tại thận 26,43%, trong khi đó 
tại niệu quản 63,2%, cả thận +niệu quản 10,37%.
Dị tật thận-niệu quản có tỉ lệ chẩn đoán đúng 
hay gần đúng dựa trên siêu âm trước sinh là 87%. 
Trong đó loạn sản thận dạng nang, bất sản thận 
một bên và nang thận có tỉ lệ chẩn đoán đúng 
Tuổi thai Số lượng Tỉ lệ %
Đẻnon (<37tuần) 5 6,6%
Đủ tháng (37 đến 42 tuần) 71 93,4%
Bảng 1. Phân bố theo tuổi thai lúc sinh
Loại dị tật n %
Thận 23 26,43
Niệu quản 55 63,2
Thận+niệu quản 9 10,37
Tổng 87
Bảng 2. Kết quả chẩn đoán dị tật thận-niệu quản sau sinh
Bất thường n
Thời gian
≤ 1 tháng 2-12 tháng 13-18tháng
Hẹp khúc nối BT- NQ 7 2 4 1
TNQĐ+Túi sa niệu quản 6 1 3 2
Phình to niệu quản 4 1 2 1
Loạn sản thận 1 0 0 1
Nang thận 1 0 1 0
Tổng 19 4 10 5
Bảng 4. Số bệnh nhi DTTNQ được điều trị ngoại khoa trong thời gian theo dõi
Chẩn đoán
Loại dị tật
Chẩn đoán trước sinh Chẩn đoán sau sinh Tỉ lệ CĐ
Đúng so với TSSố lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Hẹp khúc nối bể thận-niệu quản 65 65 43 49,43 66,15
Phình to niệu quản 4 4 7 8,04 57,14
Túi sa niệu quản 4 5 5 5,75 80
Thận niệu quản đôi 5 4 9 10,34 55,55
Giảm sản thận 0 0 2 2,30 0
Loạn sản thận 7 7 7 8,04 100
Nang thận 11 4 10 11,49 90,09
Bất sản 1 thận 4 11 4 4,6 100
Tổng 100 87
Bảng 3. Đối chiếu chẩn đoán loại dị tật thận - niệu quản sau và trước sinh
Biểu đồ 2. Dị tật tại thận và niệu quản phát hiện trên siêu âm trước sinh
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 114 - 119, 2016
117
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
tôi với các nghiên cứu dị tật riêng biệt của các tác 
giả khác: theo Trần Ngọc Bích và cộng sự (2013) 
dị tật bẩm sinh đường tiết niệu được phẫu thuật 
nam/nữ 7,5/1 [3]. Nguyễn Thanh Liêm và cộng 
sự (2011) nghiên cứu trên 34 trường hợp bệnh 
nhi hẹp khúc nối BT-NQ với nam giới chiếm đa 
số (79,4%). Ngô Đại Hải và cộng sự (2011) cho 
biết nam giới chiếm 50,9% . Halek J và cộng sự 
(2010) nghiên cứu độ chính xác của chẩn đoán dị 
tậtbẩm sinh hệ tiết niệu bằng siêu âm sau sinh xác 
định 234 trường hợp giãn bể thận (đường kính 
trước sau bể thận ≥ 5mm) cho biết tỷ lệ nam/nữ = 
1,6/1 [4]. DiasT và cộng sự (2014) th tỷ lệ này là 
2/1[5]. Theo nghiên cứu của Cendron J, Hendren 
W.H, Johnston J.H vàValayer J sự phân bố bệnh 
ở cả 2 giới, được phát hiện trong những năm đầu 
của trẻ thường gặp ở trẻ trai, nhất là ở bên trái. 
Có lẽ cũng giống như đối với tỉ lệ nam/nữ, các kết 
quả nhận được khác nhau là do mục tiêu và lứa 
tuổi của đối tượng nghiên cứu là khác nhau. Nếu 
như nghiên cứu của các tác giả trong nước và một 
số tác giả nước ngoài trước đây là đi vào mô tả tất 
cả các ca bệnh thì các tác giả gần đây ở các nước 
phát triển lại đi sâu hơn vào lứa tuổi trước sinh và 
sơ sinh, chính vì thế tỷ lệ về giới, về bên bệnh có 
phần thay đổi. Có lẽ cần có nghiên cứu với thời 
gian lâu dài hơn và với số lượng bệnh nhi lớn hơn 
để phát hiện được tỉ lệ này trong cộng đồng.
4.3. Tỷ lệ từng loại dị tật thận-niệu 
quản chẩn đoán bằng siêu âm trước sinh
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bất thường 
thận chiếm tỷ lệ 87%, niệu quản có 8 trường hợp 
(8%) và thận + niệu quản 5%. Như vậy nghiên 
cứu của chúng tôi tương đương với kết quả nghiên 
cứu của Trần Quốc Nhân (2006) tỷ lệ dị tật tại 
thận là 95,5% [6]. Phạm Thị Kim Quyên (2014) 
Dị tật tại thận chiếm 87,3%, niệu quản 7,4% [7]. 
Siêu âm chẩn đoán trước sinh DTBS tại thận rất 
dễ quan sát khi thận ứ nước, sự thay đổi hình thái 
này dễ nhìn thấy trên siêu âm nghĩa ta có thể đo 
được độ giãn của bể thận và độ dày nhu mô thận 
với kích thước thận, người ta có thể quan sát thấy 
thận trên siêu âm ở tuần thai 14 và rõ nhất là 
tuần thai 20, trong khi đó niệu quản không thể 
nhìn thấy trên siêu âm ở trạng thái bình thường 
mà chỉ quan sát được ở một số trường hợp bệnh 
lý. Mặt khác chẩn đoán DTBS thận-niệu quản 
trước sinh chỉ bằng siêu âm, cùng một lúc phải 
quan sát nhiều bộ phận và lúc này thai nhi cử 
động liên tục nên rất khó quan sát một cách chi 
tiết các dị tật ở niệu quản.
4.4. Đối chiếu chẩn đoán dị tật thận-
niệu quản sau sinh và trước sinh
Có sự khác nhau giữa tỷ lệ chẩn đoán dị tật 
thận và dị tật niệu quản trước và sau sinh. Với 
tỷ lệ dị tật thận trước sinh là 87% và tỷ lệ dị tật 
niệu quản trước sinh là 8% so với tỷ lệ dị tật thận 
sau sinh là 26,44% và dị tật niệu quản sau sinh 
63,2%. Sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê 
(p<0,05) là vì: Siêu âm chẩn đoán trước sinh 
thường chỉ chẩn đoán hình thái, khi có giãn thận 
mà không giãn niệu quản thì đó là do hẹp khúc 
nối BT-NQ, khi có giãn thận và niệu quản thì 
thường là do hẹp khúc nối BQ-NQ, túi sa niệu 
quản hoặc niệu quản cắm lạc chỗ, nhưng ở chẩn 
đoán trước sinh thường thì ghi là thận giãn, ứ 
nước hay thận và niệu quản giãn, ứ nước mà 
không nêu nguyên nhân tắc hẹp phía dưới. Đây 
là chẩn đoán gián tiếp nên dị tật tại thận được 
chẩn đoán trước sinh cao hơn dị tật tại niệu 
quản. Sau sinh các dị tật thận-niệu quản được 
chẩn đoán bằng nhiều phương pháp nên có thể 
chẩn đoán trực tiếp các nguyên nhân và vị trí chỗ 
hẹp chính xác hơn nên dị tật tại niệu quản được 
phát hiện nhiều hơn dị tật tại thận. 
Có 100 số lượng dị tật thận-niệu quản được 
chẩn đoán trước sinh nhưng sau sinh có 87 số 
lượng dị tật thận-niệu quản chiếm 87%, còn 
lại 13/100 số lượng không biểu hiện bệnh sau 
sinh, trong 13 trường hợp này đều là chẩn đoán 
trước sinh ứ nước thận (độ I) theo phân loại của 
SFU. Cần lưu ý là 80% thận ứ nước trước sinh 
sẽ có bệnh lý sau khi sinh, 20% các trường hợp 
bình thường sau khi sinh theo dõi về sau sẽ có 
thể phát hiện bệnh lý thận, 10% các trường hợp 
nói trên cần theo dõi sát đến lớn [8]. Tác giả 
Grignon A theo dõi 92 trường hợp thận ứ nước 
trước sinh nhận thấy 50% các trường hợp bình 
thường sau sinh. Theo Lepercq J và Droulle P, 
một nửa các trường hợp có giãn cả bể, đài thận 
không nhỏ lại thì đều phải điều trị bằng phẫu 
thuật. Trong nghiên cứu này, giá trị chẩn đoán 
của siêu âm trước sinh phát hiện dị tật thận- niệu 
quản so với sau sinh 87%. Tỉ lệ chẩn đoán đúng 
TRẦN ĐỨC TÚ, TRẦN NGỌC BÍCH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
118
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
hoàn toàn hoặc đúng một phần các loại dị tật 
thận-niệu quản. Trong đó loạn sản thận và bất 
sản thận một bên là 100%, nang thận tỉ lệ chẩn 
đoán 90,09%, Hẹp khúc nối bể thận niệu quản 
có tỉ lệ chẩn đoán đúng hoặc gần đúng 66,15%, 
phình to niệu quản 57,14%, thận niệu quản đôi 
57,14%, giảm sản thận sau sinh chẩn đoán được 
2 bệnh nhi mà trước sinh được chẩn đoán là giãn 
thận. Tỉ lệ dị tật thận-niệu quản được phát hiện 
trước sinh bằng siêu âm so với sau sinh trong 
các nghiên cứu trên thế giới khá cao, 92,3% theo 
Cozzi, 100% theo Chertin, 48,8% theo Hoquetis 
(2013), và Gimpel (2010) là 41% [9].
Theo nghiên cứu của Trần Ngọc Bích và cs 
(2013) thì giá trị chẩn đoán đúng dựa trên siêu âm 
trước sinh là 96,6%, trong đó hẹp khúc nối BT-NQ 
chẩn đoán đúng trước sinh 78,85%, phình to niệu 
quản 55,56%, thận đa nang 66,67%, thận niệu 
quản đôi 28,57%, không có một thận 66,67%, 
valve NĐS đúng 100% [3].
Một số tác giả đã có những nghiên cứu dựa trên 
so sánh giữa siêu âm chẩn đoán trước sinh với siêu 
âm sau sinh nhận thấy chỉ có 27,3% các trường 
hợp giãn BT đơn thuần trước sinh sẽ có bệnh lý sau 
sinh. Nhưng 100% các trường hợp giãn BT kết hợp 
với giãn đài thận chắc chắn sẽ có bệnh lý bít tắc 
của hệ tiết niệu sau sinh [10-11]. 
Theo SFU, dựa vào mức độ giãn của bể thận 
bằng đo ĐKTS trên lát cắt ngang, có hay không có 
kết hợp với giãn đài thận trên siêu âm trước sinh 
phần nào có thể tiên lượng mức độ tổn thương thận 
sau sinh. Một nửa các trường hợp được chẩn đoán 
ứ nước thận trước sinh thì không thấy các dấu hiệu 
ứ nước sau sinh trên siêu âm. Còn lại các trường 
hợp có ứ nước sau sinh thì có tới 64% là hẹp khúc 
nối BT-NQ, 36% còn lại là của bệnh lý trào ngược 
BQ-NQ, phình niệu quản bẩm sinh và van niệu 
đạo sau Như vậy thận ứ nước do bệnh lý khúc 
nối hay gặp ở trẻ sơ sinh.
4.5. Về bệnh nhi được điều trị ngoại khoa
Các dị tật thận- tiết niệu nói chung không gây 
nên các bệnh lý cấp tính không cần phải phẫu 
thuật cấp cứu ngay sau sinh [12]. Chỉ định phẫu 
thuật sớm với những tắc nghẽn ở thấp: Mở thông 
thận giảm áp lực ở thận niệu quản ứ nước, ứ mủ 
do tắc cấp tính. Trong nghiên cứu này chúng tôi 
dẫn lưu thận 4/19 bệnh nhi trong đó có 2 bệnh 
nhi hẹp khúc nối BT-NQ, 1 phình to niệu quản 
và 1 túi sa niệu quản ứ nước thận nặng làm nhu 
mô mỏng
Chủ yếu được phẫu thuật ở lứa tuổi 2- 12 tháng 
cho 10 bệnh nhi (52,63%), đây là lứa tuổi thích 
hợp cho phẫu thuật các dị tật thận- tiết niệu vì phẫu 
thuật muộn sẽ ảnh hưởng đến chức năng thận. 
5/19 bệnh nhi phẫu thuật 12-18 tháng và 51/70 
bệnh nhi đang tiếp tục theo dõi. Một số tác giả 
khi nghiên cứu về dị tật bẩm sinh nhận xét “sự bất 
thường tiết niệu phát hiện được đôi khi không gây 
nguy hiểm cho đứa trẻ và rất nhiều sự bất thường 
được cải thiện một cách ngẫu nhiên” [13].
Cùng với sự hiểu biết tốt hơn về diễn tiến tự 
nhiên của thận ứ nước trước sinh, thái độ xử trí đã 
thay đổi từ tiếp cận phẫu thuật ngay từ đầu đến 
theo dõi sát không phẫu thuật và phẫu thuật có 
lựa chọn [14].
Theo KoffSA (2000), theo dõi 104 trẻ mới sinh 
và chỉ có 23 (22%) có chỉ định phẫu thuật, còn 
lại 81 (78%) theo dõi không phẫu thuật. Thời gian 
theo dõi lâu dài (trung bình 78 tháng ) có 71 bệnh 
nhân. Vào thời điểm cuối của quá trình theo dõi 
không phẫu thuật, thận ứ nước tự khỏi (độ0 và 1 
theo SFU) có 69% và cải thiện ở độ 2 là 29%, độ 
3 là 2%. Ở những bệnh nhân không phẫu thuật, 
chức năng thận gia tăng trong 2 năm đầu và tiếp 
tục tăng lên sau đó. Sau 10 năm, thận ứ nước và 
chức năng thận ổn định hoặc tự hết hơn 75% [15]. 
Nghiên cứu của HálekJ và cộng sự trên 234 trường 
hợp giãn bể thận, chỉ định can thiệp phẫu thuật 
là 6,8%, trong đó có 56,0% được chẩn đoán trước 
sinh [9]. Thường trên siêu âm nhưng 50% trong số 
này sẽ xuất hiện bể thận giãn và các bệnh lý tiết 
niệu rõ ràng khi siêu âm lại sau 2 tháng [16].
5. Kết luận
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ dị tật thận-
niệu quản chiếm tỷ lệ 0,2% (70/35351) trong tổng 
số trẻ sơ sinh được sinh ra trong thời gian nghiên 
cứu. Trong số những dị tật đó, hẹp khúc nối bể thận 
hiệu quản là bất thường hay gặp nhất. 
Siêu âm là phương pháp có hiệu quả cao trong 
chẩn đoán sớm các bất thường của thai nhi trong 
đó có dị tật thận-tiết niệu. Đối chiếu kết quả chẩn 
đoán trước và sau sinh về các dị tật thận-tiết niệu 
thì tỷ lệ chẩn đoán đúng của siêu âm là 87%.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 114 - 119, 2016
119
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Tài liệu tham khảo
1. Trần Đình Long và cộng sự. Nghiên cứu dị tật thận tiết niệu trẻ mới 
đẻ. Báo cáo nghiên cứu đề tài cấp bộ, Bộ y tế. 2005
2. Agnieszka Lukomska et al. Estimation of the risk factors of the 
congenital urinary system defect. Central European Journal of 
Medicine. 2012; 85-90.
3. Trần Ngọc Bích và cộng sự. Nghiên cứu chẩn đoán dị tật thai nhi và 
trẻ sơ sinh. chỉ định can thiệp trước sinh và điều trị sau sinh. Kết quả 
khoa học công nghệ đề tai, Bộ y tế. 2013.
4. Hálek J,Flögelová H, Michálková K et al. Diagnostic accuracy of 
postnatal ultrasound screening for urinary tract abnormalities. Pediatr 
Nephrol. 2010; 25(2), 281-7.
5. Dias T,Sairam S, Kumarasiri S. Ultrasound diagnosis of fetal renal 
abnormalities. Best Pract Res Clin Obstet Gynaecol 2014. 28(3), 403-15.
6. Trần Quốc Nhân. Phát hiện và xử trí thai dị dạng tại Bệnh viện Phụ 
sản Trung ương trong 2 năm 2004-2005. Luận văn Bác sĩ chuyên khoa 
cấp 2, Trường Đại Học Y Hà Nội. 2006.
7. Phạm Thị Kim Quyên. Siêu âm chẩn đoán và xử trí trước sinh các 
dị tật thận-tiết niệu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Luận văn thạc 
sĩ Y học. Trường Đại học Y Hà Nội. 2014
8. Dejter SW Jr, Gibbons MD (2005). The fate of infant kidneys with fetal 
hydronephrosis but initially normal postnatal sonography. J Urol 2005 
Aug. 2005; 142(2), 661-667.
9. Gimpel C et al. Complications and long-term outcome of primary 
obstructive megaureter in childhood. Pediatr Nephrol. 2010; 25(9), 
1679-1686.
10. Podevin G,Levard G, Marechaud M et al Strategie dianostique 
posnatale d’ uropathies malformatives depistées avant la naissance. 
Archpediatr. 1997;4, 411-415.
11. Dejter SW Jr,Gibbons MD. The fate of infant kidneys with fetal 
hydronephrosis but initially normal postnatal sonography, J Urol Aug 
1989;142(2), 667-8.
12. Lê Công Thắng,Lê Thanh Tùng, Lê Tấn Sơn. Tổng kết 10 năm 
phẫu thuật tiết niệu - sinh dục tại bệnh viện nhi đồng (6/1994-6/2004), 
Hội nghị ngoại nhi lần I - Bệnh viện Nhi đồng I. 2004; 227-35.
13. Raquitlet C,Sergent-Ataoui A, Grapin C et al. Prise en charge de 
l’anomalie de la jonction pyélourétérale de diagnostic anténatal: protocole 
basé surla scin¬tigraphie au Mag3 et l’échographie. Communication 
orate, 62e congrès de la SFCP, Reims, septembre 2005
14. Longpre M, Nguan A, Macneily AE, Afshar K. Prediction of the 
outcome of antenatally diagnosed hydronephrosis: a multivariable 
analysis. J Pediatr Urol. 2012; 8(2), 135-9.
15. Koff SA. Postnatal management of antenatal hydronephrosis using 
an observational approach. Urology. 2000; 55(5), 609-11.
16. Nguyễn Bửu Triều. Bệnh học tiết niệu, Nhà xuất bản Y học, Hà 
Nội. 2003; 28-32,598-605,621,624.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ty_le_va_doi_chieu_chan_doan_di_tat_than_nieu_qua.pdf