Nghiên cứu tỷ lệ và đối chiếu chẩn đoán dị tật thận - Niệu quản trước và sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Mục tiêu: Đối chiếu chẩn đoán dị tật thận-tiết niệu trước và sau sinh tại
Bệnh viện Phụ sản Trung ương sẽ hỗ trợ được việc chẩn đoán sớm dị tật
thận-tiết niệu dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và tiền lâm sàng.
Đối tượng và phương pháp: Mô tả tiến cứu trên 76 bệnh nhi sơ sinh có
chẩn đoán trước sinh có dị tật thận-niệu quản được sinh ra tại Bệnh viện
Phụ sản Trung ương từ 1/ 2014 đến 7/2015.
Kết quả: Tỷ lệ dị tật thận-niệu quản chiếm 0,2% trong đó dị tật thận
chiếm 26,43%, niệu quản 63,2%, thận + niệu quản 10,37%. Dị tật thận
niệu quảnđược siêu âm chẩn đoán trước sinh chiếm 87%. Hẹp khúc nối
bể thận-niệu quản là bất thường hay gặp và tỷ lệ chẩn đoán đúng chiếm
66,15%. Túi sa niệu quản, nang thận, loạn sản thận và bất sản thận có
tỷ lệ chẩn đoán đúng trên 80%.
Kết luận: Siêu âm có giá trị trong chẩn đoán trước sinh phát hiện dị
tật thận- niệu quản so với sau sinh với tỷ lệ chẩn đoán đúng của siêu
âm là 87%
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tỷ lệ và đối chiếu chẩn đoán dị tật thận - Niệu quản trước và sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TRẦN ĐỨC TÚ, TRẦN NGỌC BÍCH SẢ N K H O A – S Ơ S IN H 114 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 Trần Đức Tú(1), Trần Ngọc Bích(2) (1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội NGHIÊN CỨU TỶ LỆ VÀ ĐỐI CHIẾU CHẨN ĐOÁN DỊ TẬT THẬN - NIỆU QUẢN TRƯỚC VÀ SAU SINH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG Tóm tắt Mục tiêu: Đối chiếu chẩn đoán dị tật thận-tiết niệu trước và sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương sẽ hỗ trợ được việc chẩn đoán sớm dị tật thận-tiết niệu dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và tiền lâm sàng. Đối tượng và phương pháp: Mô tả tiến cứu trên 76 bệnh nhi sơ sinh có chẩn đoán trước sinh có dị tật thận-niệu quản được sinh ra tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 1/ 2014 đến 7/2015. Kết quả: Tỷ lệ dị tật thận-niệu quản chiếm 0,2% trong đó dị tật thận chiếm 26,43%, niệu quản 63,2%, thận + niệu quản 10,37%. Dị tật thận niệu quảnđược siêu âm chẩn đoán trước sinh chiếm 87%. Hẹp khúc nối bể thận-niệu quản là bất thường hay gặp và tỷ lệ chẩn đoán đúng chiếm 66,15%. Túi sa niệu quản, nang thận, loạn sản thận và bất sản thận có tỷ lệ chẩn đoán đúng trên 80%. Kết luận: Siêu âm có giá trị trong chẩn đoán trước sinh phát hiện dị tật thận- niệu quản so với sau sinh với tỷ lệ chẩn đoán đúng của siêu âm là 87%. Từ khoá: dị tật thận-tiết niệu, chẩn đoán trước sinh, theo dõi sau sinh. Abstract STUDY ON PROPORTION OF DIAGNOSIS OF RENAL AND UTERER DISEASES AND BEFORE AND AFTER BIRTH AT NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNEACOLOGY Objectives: to compare diagnosis of renal and uterer malformation before and after birth at national hospital of Obstetrics and Gyneacology. Methodology and materials: this is descriptive longitudinal study with 76 patients diagnosed with uterer and kidney malformation at National hospital of Obstetrics and Gyneacology from January, 2014 to July, 2015. Results: The rate of renal and uterer malformation was 0.2%, among those renal disorder was 26.43%, uterer disorder was 63.2%, renal uterer combination was 10.37%. Hydronephrosis is a common malformation Tác giả liên hệ (Corresponding author): Trần Đức Tú, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 15/03/2016 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 10/04/2016 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted):20/04/2016 Từ khoá: Dị tật thận - tiết niệu, chẩn đoán trước sinh, theo dõi sau sinh. Keywords: Renal – uterer malformation, prenatal diagnosis, postpartum followup. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), 114 - 119, 2016 115 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: 76 bệnh nhi sơ sinh tổng cộng là 100 số lượng dị tật có chẩn đoán trước sinh có dị tật thận-niệu quản được sinh ra tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 1/ 2014 đến 7/2015 trong tổng số 35,351 trẻ sinh ra. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu. Xử lý số liệu: Các số liệu được thu thập được sử lý theo phương pháp thống kê Y học trên phần mềm thống kê Y học SPSS. Đạo đức nghiên cứu: Các trẻ sơ sinh thuộc đối tượng nghiên cứu đều được giải thích, tư vấn cho gia đình quy trình làm nghiên cứu và được sự đồng ý tham gia của gia đình bệnh nhi. Các thông tin của bệnh nhi và người nhà bệnh nhi, kết quả chẩn đoán được giữ kín theo quy định. Đã thông qua Hội Đồng y đức của Bệnh viện Phụ sản Trung ương. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu Sau sinh có 70 bệnh nhi tổng cộng 87 số lượng dị tật thận-niệu quản được chẩn đoán 1. Đặt vấn đề Dị tật thận-tiết niệu (DTTTN) bao gồm nhiều loại bất thường về cấu trúc, chức năng, hình thái khác nhau của hệ thống tiết niệu từ thận đến hệ thống dẫn niệu ngoài. Các loại bất thường thận-niệu quản hay gặp trên lâm sàng như nang thận bẩm sinh, thận đa nang, thận niệu quản đôi, hẹp khúc nối bể thận niệu quản... Phôi thai học của đường tiết niệu trên và dưới là một quá trình hình thành phức tạp. Những biến đổi di truyền nhiều khi rất nhỏ, cũng làm sai lệch trình tự của sự hình thành và phát triển bình thường của hệ thận-tiết niệu. Do đó, các DTTTN gặp khá phổ biến và có khả năng gây biến chứng hoặc tử vong. Nghiên cứu của F.Boussion và cộng sự năm 2011 bất thường hệ tiết niệu chiếm 20-30% trong tổng số các dị tật bẩm sinh đứng thứ 2 sau bất thường hệ thần kinh trung ương và 80% trong số đó được chẩn đoán trước sinh [1]. Theo Trần Đình Long và cộng sự năm 2005, nghiên cứu di tật thận tiết niệu ở 6037 trẻ mới đẻ thì có 2,93% có dị tật thận tiết niệu sinh dục. Theo Trần Ngọc Bích và cộng sự (2013): Tỷ lệ dị tật thận tiết niệu là 11,5% trong các loại dị tật [2-4]. Hiện tại phương pháp chẩn đoán trước sinh được sử dụng phổ biến là siêu âm hình thái học thai nhi. Tuỳ từng loại dị tật ở từng cơ quan mà có thể chẩn đoán được sớm hay muộn. Theo dõi liên tục bằng siêu âm từ 3 tháng đầu cho đến tận 3 tháng cuốicủa thai kỳ đã cho phép hiểu rõ hơn diễn biến các trường hợp dị tật thận phát hiện trong thời kỳ thai nhi. Để đánh giá khả năng chẩn đoán trước sinh các dị tật thận-niệu quản, đối chiếu chẩn đoán dị tật thận-niệu quản trước và sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương sẽ hỗ trợ được việc chẩn đoán sớm dị tật thận-tiết niệu dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và tiền lâm sàng. and 66.15% correct diagnosis. Utererocele, renal cysts, renal atrophy had correct diagnosis above 80%. Uterer and kidney malformation diagnosed by ultrasound was 87%. Conclusions: Ultrasound is a valuable method in diagnosis of renal and uterer d with 87% detection rate in comparision between before and after birth. Keywords: renal – uterer malformation, prenatal diagnosis, postpartum followup. Biểu đồ 1. Phân bố bệnh nhi theo vị trí bên dị tật và giới TRẦN ĐỨC TÚ, TRẦN NGỌC BÍCH SẢ N K H O A – S Ơ S IN H 116 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 trước sinh >90%. Bệnh lý hẹp khúc nối BT-NQ chỉ 66,15%, phình to niệu quản 57,14% và thận niệu quản đôi 55,55%. 2 bệnh nhi giảm sản thận sau sinh mới chẩn đoán được. 19 bệnh nhi được phẫu thuật chiếm 27,14%. Trong đó có 3 bệnh nhi bị hẹp khúc nối BT-NQ 2 bên, 1 bệnh nhi phình to niệu quản 2 bên và 1 bệnh nhi có thận niệu quản đôi 2 bên. Thời gian mổ từ 2-12 tháng tuổi có 10/19 bệnh nhi, có 4 bệnh nhi mổ dưới một tháng đều được chẩn đoán trước sinh ứ nước thận (độ IV). 4. Bàn luận 4.1. Tỷ lệ mắc dị tật thận-niệu quản Trong nghiên cứu của chúng tôi có 70/35351 trẻ sơ sinh mắc dị tật thận-niệu quản trong tổng số trẻ sơ sinh được sinh ra chiếm 0,2% trong đó dị tật thận-niệu quản trẻ trai 46/19166 chiếm 0,24% và dị tật thận-niệu quản trẻ gái là 24/16185 chiếm 0,15%. Theo nghiên cứu của Trần Đình Long và cs (2005) trên 6037 trẻ sơ sinh đẻ ra sống tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương thấy có 59 trường hợp có dị tật thận-tiết niệu, chiếm 0,98% [1]. Agnieszka Lukomska và cộng sự (2012) tỷ lệ dị tật thận tiết niệu là 0,17% trẻ sinh sống [2]. Tại Mỹ năm 2013 Kristina Denasin và cộng sự đã dùng siêu âm cho 10000 trẻ khỏe mạnh từ 7 ngày đến 6 tháng tuổi thấy 74 trẻ dị tật thận-tiết niệu chiếm 0,74%. Như vậy tỷ lệ dị tật thận-niệu quản trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn một số tác giả trong nước và trên thế giới. Vì đối tượng nghiên cứu của chúng tôi, là dị tật thận-niệu quản trong khi đó các tác giả là dị tật thận-tiết niệu. 4.2. Giới tính Trong nghiên cứu của chúng tôi, nam giới có 46 bệnh nhi chiếm 65,72% tỷ lệ nam/nữ = 1,92/1. Dị tật thận-niệu quản trái/phải là 1,59/1. So sánh kết quả nghiên cứu của chúng Tỷ lệ dị tật thận-niệu quản trẻ trai/gái là 1,92/1. Dị tật thận-niệu quản trái/phải là 1,59/1. Dị tật hai bên 18,57%. Trong số 76 bệnh nhi, có 71 bệnh nhi sinh đủ tháng chiếm 93,4%, 5 bệnh nhi sinh non tháng chiếm 6,6%. 3.2. Đối chiếu kết quả siêu âm trước sinh-sau sinh Dị tật tại thận được chẩn đoán trước sinh là nhiều nhất chiếm 87%, niệu quản chiếm 8% và thận niệu quản đôi 5%. Sau sinh tỷ lệ dị tật tại thận 26,43%, trong khi đó tại niệu quản 63,2%, cả thận +niệu quản 10,37%. Dị tật thận-niệu quản có tỉ lệ chẩn đoán đúng hay gần đúng dựa trên siêu âm trước sinh là 87%. Trong đó loạn sản thận dạng nang, bất sản thận một bên và nang thận có tỉ lệ chẩn đoán đúng Tuổi thai Số lượng Tỉ lệ % Đẻnon (<37tuần) 5 6,6% Đủ tháng (37 đến 42 tuần) 71 93,4% Bảng 1. Phân bố theo tuổi thai lúc sinh Loại dị tật n % Thận 23 26,43 Niệu quản 55 63,2 Thận+niệu quản 9 10,37 Tổng 87 Bảng 2. Kết quả chẩn đoán dị tật thận-niệu quản sau sinh Bất thường n Thời gian ≤ 1 tháng 2-12 tháng 13-18tháng Hẹp khúc nối BT- NQ 7 2 4 1 TNQĐ+Túi sa niệu quản 6 1 3 2 Phình to niệu quản 4 1 2 1 Loạn sản thận 1 0 0 1 Nang thận 1 0 1 0 Tổng 19 4 10 5 Bảng 4. Số bệnh nhi DTTNQ được điều trị ngoại khoa trong thời gian theo dõi Chẩn đoán Loại dị tật Chẩn đoán trước sinh Chẩn đoán sau sinh Tỉ lệ CĐ Đúng so với TSSố lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Hẹp khúc nối bể thận-niệu quản 65 65 43 49,43 66,15 Phình to niệu quản 4 4 7 8,04 57,14 Túi sa niệu quản 4 5 5 5,75 80 Thận niệu quản đôi 5 4 9 10,34 55,55 Giảm sản thận 0 0 2 2,30 0 Loạn sản thận 7 7 7 8,04 100 Nang thận 11 4 10 11,49 90,09 Bất sản 1 thận 4 11 4 4,6 100 Tổng 100 87 Bảng 3. Đối chiếu chẩn đoán loại dị tật thận - niệu quản sau và trước sinh Biểu đồ 2. Dị tật tại thận và niệu quản phát hiện trên siêu âm trước sinh TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), 114 - 119, 2016 117 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 tôi với các nghiên cứu dị tật riêng biệt của các tác giả khác: theo Trần Ngọc Bích và cộng sự (2013) dị tật bẩm sinh đường tiết niệu được phẫu thuật nam/nữ 7,5/1 [3]. Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2011) nghiên cứu trên 34 trường hợp bệnh nhi hẹp khúc nối BT-NQ với nam giới chiếm đa số (79,4%). Ngô Đại Hải và cộng sự (2011) cho biết nam giới chiếm 50,9% . Halek J và cộng sự (2010) nghiên cứu độ chính xác của chẩn đoán dị tậtbẩm sinh hệ tiết niệu bằng siêu âm sau sinh xác định 234 trường hợp giãn bể thận (đường kính trước sau bể thận ≥ 5mm) cho biết tỷ lệ nam/nữ = 1,6/1 [4]. DiasT và cộng sự (2014) th tỷ lệ này là 2/1[5]. Theo nghiên cứu của Cendron J, Hendren W.H, Johnston J.H vàValayer J sự phân bố bệnh ở cả 2 giới, được phát hiện trong những năm đầu của trẻ thường gặp ở trẻ trai, nhất là ở bên trái. Có lẽ cũng giống như đối với tỉ lệ nam/nữ, các kết quả nhận được khác nhau là do mục tiêu và lứa tuổi của đối tượng nghiên cứu là khác nhau. Nếu như nghiên cứu của các tác giả trong nước và một số tác giả nước ngoài trước đây là đi vào mô tả tất cả các ca bệnh thì các tác giả gần đây ở các nước phát triển lại đi sâu hơn vào lứa tuổi trước sinh và sơ sinh, chính vì thế tỷ lệ về giới, về bên bệnh có phần thay đổi. Có lẽ cần có nghiên cứu với thời gian lâu dài hơn và với số lượng bệnh nhi lớn hơn để phát hiện được tỉ lệ này trong cộng đồng. 4.3. Tỷ lệ từng loại dị tật thận-niệu quản chẩn đoán bằng siêu âm trước sinh Trong nghiên cứu của chúng tôi, bất thường thận chiếm tỷ lệ 87%, niệu quản có 8 trường hợp (8%) và thận + niệu quản 5%. Như vậy nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả nghiên cứu của Trần Quốc Nhân (2006) tỷ lệ dị tật tại thận là 95,5% [6]. Phạm Thị Kim Quyên (2014) Dị tật tại thận chiếm 87,3%, niệu quản 7,4% [7]. Siêu âm chẩn đoán trước sinh DTBS tại thận rất dễ quan sát khi thận ứ nước, sự thay đổi hình thái này dễ nhìn thấy trên siêu âm nghĩa ta có thể đo được độ giãn của bể thận và độ dày nhu mô thận với kích thước thận, người ta có thể quan sát thấy thận trên siêu âm ở tuần thai 14 và rõ nhất là tuần thai 20, trong khi đó niệu quản không thể nhìn thấy trên siêu âm ở trạng thái bình thường mà chỉ quan sát được ở một số trường hợp bệnh lý. Mặt khác chẩn đoán DTBS thận-niệu quản trước sinh chỉ bằng siêu âm, cùng một lúc phải quan sát nhiều bộ phận và lúc này thai nhi cử động liên tục nên rất khó quan sát một cách chi tiết các dị tật ở niệu quản. 4.4. Đối chiếu chẩn đoán dị tật thận- niệu quản sau sinh và trước sinh Có sự khác nhau giữa tỷ lệ chẩn đoán dị tật thận và dị tật niệu quản trước và sau sinh. Với tỷ lệ dị tật thận trước sinh là 87% và tỷ lệ dị tật niệu quản trước sinh là 8% so với tỷ lệ dị tật thận sau sinh là 26,44% và dị tật niệu quản sau sinh 63,2%. Sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) là vì: Siêu âm chẩn đoán trước sinh thường chỉ chẩn đoán hình thái, khi có giãn thận mà không giãn niệu quản thì đó là do hẹp khúc nối BT-NQ, khi có giãn thận và niệu quản thì thường là do hẹp khúc nối BQ-NQ, túi sa niệu quản hoặc niệu quản cắm lạc chỗ, nhưng ở chẩn đoán trước sinh thường thì ghi là thận giãn, ứ nước hay thận và niệu quản giãn, ứ nước mà không nêu nguyên nhân tắc hẹp phía dưới. Đây là chẩn đoán gián tiếp nên dị tật tại thận được chẩn đoán trước sinh cao hơn dị tật tại niệu quản. Sau sinh các dị tật thận-niệu quản được chẩn đoán bằng nhiều phương pháp nên có thể chẩn đoán trực tiếp các nguyên nhân và vị trí chỗ hẹp chính xác hơn nên dị tật tại niệu quản được phát hiện nhiều hơn dị tật tại thận. Có 100 số lượng dị tật thận-niệu quản được chẩn đoán trước sinh nhưng sau sinh có 87 số lượng dị tật thận-niệu quản chiếm 87%, còn lại 13/100 số lượng không biểu hiện bệnh sau sinh, trong 13 trường hợp này đều là chẩn đoán trước sinh ứ nước thận (độ I) theo phân loại của SFU. Cần lưu ý là 80% thận ứ nước trước sinh sẽ có bệnh lý sau khi sinh, 20% các trường hợp bình thường sau khi sinh theo dõi về sau sẽ có thể phát hiện bệnh lý thận, 10% các trường hợp nói trên cần theo dõi sát đến lớn [8]. Tác giả Grignon A theo dõi 92 trường hợp thận ứ nước trước sinh nhận thấy 50% các trường hợp bình thường sau sinh. Theo Lepercq J và Droulle P, một nửa các trường hợp có giãn cả bể, đài thận không nhỏ lại thì đều phải điều trị bằng phẫu thuật. Trong nghiên cứu này, giá trị chẩn đoán của siêu âm trước sinh phát hiện dị tật thận- niệu quản so với sau sinh 87%. Tỉ lệ chẩn đoán đúng TRẦN ĐỨC TÚ, TRẦN NGỌC BÍCH SẢ N K H O A – S Ơ S IN H 118 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 hoàn toàn hoặc đúng một phần các loại dị tật thận-niệu quản. Trong đó loạn sản thận và bất sản thận một bên là 100%, nang thận tỉ lệ chẩn đoán 90,09%, Hẹp khúc nối bể thận niệu quản có tỉ lệ chẩn đoán đúng hoặc gần đúng 66,15%, phình to niệu quản 57,14%, thận niệu quản đôi 57,14%, giảm sản thận sau sinh chẩn đoán được 2 bệnh nhi mà trước sinh được chẩn đoán là giãn thận. Tỉ lệ dị tật thận-niệu quản được phát hiện trước sinh bằng siêu âm so với sau sinh trong các nghiên cứu trên thế giới khá cao, 92,3% theo Cozzi, 100% theo Chertin, 48,8% theo Hoquetis (2013), và Gimpel (2010) là 41% [9]. Theo nghiên cứu của Trần Ngọc Bích và cs (2013) thì giá trị chẩn đoán đúng dựa trên siêu âm trước sinh là 96,6%, trong đó hẹp khúc nối BT-NQ chẩn đoán đúng trước sinh 78,85%, phình to niệu quản 55,56%, thận đa nang 66,67%, thận niệu quản đôi 28,57%, không có một thận 66,67%, valve NĐS đúng 100% [3]. Một số tác giả đã có những nghiên cứu dựa trên so sánh giữa siêu âm chẩn đoán trước sinh với siêu âm sau sinh nhận thấy chỉ có 27,3% các trường hợp giãn BT đơn thuần trước sinh sẽ có bệnh lý sau sinh. Nhưng 100% các trường hợp giãn BT kết hợp với giãn đài thận chắc chắn sẽ có bệnh lý bít tắc của hệ tiết niệu sau sinh [10-11]. Theo SFU, dựa vào mức độ giãn của bể thận bằng đo ĐKTS trên lát cắt ngang, có hay không có kết hợp với giãn đài thận trên siêu âm trước sinh phần nào có thể tiên lượng mức độ tổn thương thận sau sinh. Một nửa các trường hợp được chẩn đoán ứ nước thận trước sinh thì không thấy các dấu hiệu ứ nước sau sinh trên siêu âm. Còn lại các trường hợp có ứ nước sau sinh thì có tới 64% là hẹp khúc nối BT-NQ, 36% còn lại là của bệnh lý trào ngược BQ-NQ, phình niệu quản bẩm sinh và van niệu đạo sau Như vậy thận ứ nước do bệnh lý khúc nối hay gặp ở trẻ sơ sinh. 4.5. Về bệnh nhi được điều trị ngoại khoa Các dị tật thận- tiết niệu nói chung không gây nên các bệnh lý cấp tính không cần phải phẫu thuật cấp cứu ngay sau sinh [12]. Chỉ định phẫu thuật sớm với những tắc nghẽn ở thấp: Mở thông thận giảm áp lực ở thận niệu quản ứ nước, ứ mủ do tắc cấp tính. Trong nghiên cứu này chúng tôi dẫn lưu thận 4/19 bệnh nhi trong đó có 2 bệnh nhi hẹp khúc nối BT-NQ, 1 phình to niệu quản và 1 túi sa niệu quản ứ nước thận nặng làm nhu mô mỏng Chủ yếu được phẫu thuật ở lứa tuổi 2- 12 tháng cho 10 bệnh nhi (52,63%), đây là lứa tuổi thích hợp cho phẫu thuật các dị tật thận- tiết niệu vì phẫu thuật muộn sẽ ảnh hưởng đến chức năng thận. 5/19 bệnh nhi phẫu thuật 12-18 tháng và 51/70 bệnh nhi đang tiếp tục theo dõi. Một số tác giả khi nghiên cứu về dị tật bẩm sinh nhận xét “sự bất thường tiết niệu phát hiện được đôi khi không gây nguy hiểm cho đứa trẻ và rất nhiều sự bất thường được cải thiện một cách ngẫu nhiên” [13]. Cùng với sự hiểu biết tốt hơn về diễn tiến tự nhiên của thận ứ nước trước sinh, thái độ xử trí đã thay đổi từ tiếp cận phẫu thuật ngay từ đầu đến theo dõi sát không phẫu thuật và phẫu thuật có lựa chọn [14]. Theo KoffSA (2000), theo dõi 104 trẻ mới sinh và chỉ có 23 (22%) có chỉ định phẫu thuật, còn lại 81 (78%) theo dõi không phẫu thuật. Thời gian theo dõi lâu dài (trung bình 78 tháng ) có 71 bệnh nhân. Vào thời điểm cuối của quá trình theo dõi không phẫu thuật, thận ứ nước tự khỏi (độ0 và 1 theo SFU) có 69% và cải thiện ở độ 2 là 29%, độ 3 là 2%. Ở những bệnh nhân không phẫu thuật, chức năng thận gia tăng trong 2 năm đầu và tiếp tục tăng lên sau đó. Sau 10 năm, thận ứ nước và chức năng thận ổn định hoặc tự hết hơn 75% [15]. Nghiên cứu của HálekJ và cộng sự trên 234 trường hợp giãn bể thận, chỉ định can thiệp phẫu thuật là 6,8%, trong đó có 56,0% được chẩn đoán trước sinh [9]. Thường trên siêu âm nhưng 50% trong số này sẽ xuất hiện bể thận giãn và các bệnh lý tiết niệu rõ ràng khi siêu âm lại sau 2 tháng [16]. 5. Kết luận Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ dị tật thận- niệu quản chiếm tỷ lệ 0,2% (70/35351) trong tổng số trẻ sơ sinh được sinh ra trong thời gian nghiên cứu. Trong số những dị tật đó, hẹp khúc nối bể thận hiệu quản là bất thường hay gặp nhất. Siêu âm là phương pháp có hiệu quả cao trong chẩn đoán sớm các bất thường của thai nhi trong đó có dị tật thận-tiết niệu. Đối chiếu kết quả chẩn đoán trước và sau sinh về các dị tật thận-tiết niệu thì tỷ lệ chẩn đoán đúng của siêu âm là 87%. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), 114 - 119, 2016 119 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 Tài liệu tham khảo 1. Trần Đình Long và cộng sự. Nghiên cứu dị tật thận tiết niệu trẻ mới đẻ. Báo cáo nghiên cứu đề tài cấp bộ, Bộ y tế. 2005 2. Agnieszka Lukomska et al. Estimation of the risk factors of the congenital urinary system defect. Central European Journal of Medicine. 2012; 85-90. 3. Trần Ngọc Bích và cộng sự. Nghiên cứu chẩn đoán dị tật thai nhi và trẻ sơ sinh. chỉ định can thiệp trước sinh và điều trị sau sinh. Kết quả khoa học công nghệ đề tai, Bộ y tế. 2013. 4. Hálek J,Flögelová H, Michálková K et al. Diagnostic accuracy of postnatal ultrasound screening for urinary tract abnormalities. Pediatr Nephrol. 2010; 25(2), 281-7. 5. Dias T,Sairam S, Kumarasiri S. Ultrasound diagnosis of fetal renal abnormalities. Best Pract Res Clin Obstet Gynaecol 2014. 28(3), 403-15. 6. Trần Quốc Nhân. Phát hiện và xử trí thai dị dạng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong 2 năm 2004-2005. Luận văn Bác sĩ chuyên khoa cấp 2, Trường Đại Học Y Hà Nội. 2006. 7. Phạm Thị Kim Quyên. Siêu âm chẩn đoán và xử trí trước sinh các dị tật thận-tiết niệu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Luận văn thạc sĩ Y học. Trường Đại học Y Hà Nội. 2014 8. Dejter SW Jr, Gibbons MD (2005). The fate of infant kidneys with fetal hydronephrosis but initially normal postnatal sonography. J Urol 2005 Aug. 2005; 142(2), 661-667. 9. Gimpel C et al. Complications and long-term outcome of primary obstructive megaureter in childhood. Pediatr Nephrol. 2010; 25(9), 1679-1686. 10. Podevin G,Levard G, Marechaud M et al Strategie dianostique posnatale d’ uropathies malformatives depistées avant la naissance. Archpediatr. 1997;4, 411-415. 11. Dejter SW Jr,Gibbons MD. The fate of infant kidneys with fetal hydronephrosis but initially normal postnatal sonography, J Urol Aug 1989;142(2), 667-8. 12. Lê Công Thắng,Lê Thanh Tùng, Lê Tấn Sơn. Tổng kết 10 năm phẫu thuật tiết niệu - sinh dục tại bệnh viện nhi đồng (6/1994-6/2004), Hội nghị ngoại nhi lần I - Bệnh viện Nhi đồng I. 2004; 227-35. 13. Raquitlet C,Sergent-Ataoui A, Grapin C et al. Prise en charge de l’anomalie de la jonction pyélourétérale de diagnostic anténatal: protocole basé surla scin¬tigraphie au Mag3 et l’échographie. Communication orate, 62e congrès de la SFCP, Reims, septembre 2005 14. Longpre M, Nguan A, Macneily AE, Afshar K. Prediction of the outcome of antenatally diagnosed hydronephrosis: a multivariable analysis. J Pediatr Urol. 2012; 8(2), 135-9. 15. Koff SA. Postnatal management of antenatal hydronephrosis using an observational approach. Urology. 2000; 55(5), 609-11. 16. Nguyễn Bửu Triều. Bệnh học tiết niệu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 2003; 28-32,598-605,621,624.
File đính kèm:
nghien_cuu_ty_le_va_doi_chieu_chan_doan_di_tat_than_nieu_qua.pdf

