Nghiên cứu tỷ lệ và các yếu tố liên quan thai to tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần thơ năm 2015

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến thai to.

Đối tượng và phương pháp: Tất cả sản phụ có tuổi thai từ 37 tuần trở

lên đến sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Cần Thơ năm 2015.

Kết quả nghiên cứu: Thai có trọng lượng trẻ ≥ 3500 gram chiếm tỷ lệ

23,25%, trẻ ≥ 4000 gram chiếm 3,86%. Các yếu tố liên quan đến thai

to gồm: tuổi mẹ ≥ 35 tuổi có nguy cơ sinh con to tăng 1,44 lần. Trình

độ học vấn sau trung học phổ thông có nguy cơ thai to tăng 2,89 lần.

Nghề nghiệp là công nhân viên có tỷ lệ thai to cao hơn 1,74 lần. Sản

phụ đã từng mang thai 1 - 2 lần có tỷ lệ thai to tăng 1,47 lần. Mẹ có tiền

sử sinh con to có nguy cơ lại mang thai to tăng trên 6 lần. Sản phụ thừa

cân, béo phì (BMI ≥ 23) nguy cơ thai to tăng gấp 1,64 lần. Khi tăng cân

từ 12 - < 20="" kg,="" tỷ="" lệ="" sinh="" con="" to="" tăng="" 4,76="" lần,="" và="" tăng="" lên="" 6,22="" lần="">

tăng ≥ 20 kg. Tuổi thai 40 - < 42="" tuần="" nguy="" cơ="" thai="" to="" tăng="" 1,99="" lần,="">

6,4 lần khi thai ≥ 42 tuần. Nồng độ glucose huyết > 6,4 mmol/l nguy cơ

sinh con to tăng gấp 1,74 lần so với dưới 6,4 mmol/l. Nguy cơ thai to

tăng 5,45 lần khi đường kính lưỡng đỉnh ≥ 90 mm và tỷ lệ mổ lấy thai ở

thai to cao gấp 2,64 lần.

Kết luận: Thai to chiếm tỷ lệ khá cao và thai to có nhiều yếu tố nguy

cơ bất lợi cho cả mẹ và thai nhi.

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tỷ lệ và các yếu tố liên quan thai to tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần thơ năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tỷ lệ và các yếu tố liên quan thai to tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần thơ năm 2015

Nghiên cứu tỷ lệ và các yếu tố liên quan thai to tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần thơ năm 2015
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 31 - 37, 2016
31
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Lâm Đức Tâm(1), Lưu Thị Trâm Anh(1), Nguyễn Vũ Quốc Huy(2) 
(1) Trường ĐH Y Dược Cần Thơ, (2) Trường ĐH Y Dược Huế
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
THAI TO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2015
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến thai to. 
Đối tượng và phương pháp: Tất cả sản phụ có tuổi thai từ 37 tuần trở 
lên đến sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Cần Thơ năm 2015.
Kết quả nghiên cứu: Thai có trọng lượng trẻ ≥ 3500 gram chiếm tỷ lệ 
23,25%, trẻ ≥ 4000 gram chiếm 3,86%. Các yếu tố liên quan đến thai 
to gồm: tuổi mẹ ≥ 35 tuổi có nguy cơ sinh con to tăng 1,44 lần. Trình 
độ học vấn sau trung học phổ thông có nguy cơ thai to tăng 2,89 lần. 
Nghề nghiệp là công nhân viên có tỷ lệ thai to cao hơn 1,74 lần. Sản 
phụ đã từng mang thai 1 - 2 lần có tỷ lệ thai to tăng 1,47 lần. Mẹ có tiền 
sử sinh con to có nguy cơ lại mang thai to tăng trên 6 lần. Sản phụ thừa 
cân, béo phì (BMI ≥ 23) nguy cơ thai to tăng gấp 1,64 lần. Khi tăng cân 
từ 12 - < 20 kg, tỷ lệ sinh con to tăng 4,76 lần, và tăng lên 6,22 lần nếu 
tăng ≥ 20 kg. Tuổi thai 40 - < 42 tuần nguy cơ thai to tăng 1,99 lần, tăng 
6,4 lần khi thai ≥ 42 tuần. Nồng độ glucose huyết > 6,4 mmol/l nguy cơ 
sinh con to tăng gấp 1,74 lần so với dưới 6,4 mmol/l. Nguy cơ thai to 
tăng 5,45 lần khi đường kính lưỡng đỉnh ≥ 90 mm và tỷ lệ mổ lấy thai ở 
thai to cao gấp 2,64 lần. 
Kết luận: Thai to chiếm tỷ lệ khá cao và thai to có nhiều yếu tố nguy 
cơ bất lợi cho cả mẹ và thai nhi.
Abstract 
RATE OF FETAL MACROSOMIA AND FACTORS 
RELATED TO FETAL MACROSOMIA AT CANTHO 
HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY 
IN 2015
Objective: Determine the prevalence and factors related to fetal 
macrosomia. 
Materials and Methods: All pregnant more than 37 weeks 
gestational intrapartum care at Cantho Hospital of Obstetrics and 
Gynecology in 2015. 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lâm Đức Tâm,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/06/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
24/06/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/06/2016
Keyword: Macrosomia, high risk 
pregnant, gestational weight.
LÂM ĐỨC TÂM, LƯU THỊ TRÂM ANH, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY
32
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Result: The rate of fetal macrosomia: 23.25% weight of newborn ≥ 3500 grams and 3.86% newborn 
have weight ≥ 4000 grams. Factors related tofetal macrosomia: maternal age ≥ 35 years old increase 
risk of macrosomia to 1.44 times. Education: over high school level, increase risk of macrosomia 2.89 
times. Employees: Risk higher than 1.74 times. The woman with previous macrosomia pregnancy, 
increase risk macrosomia more than 6 times. Overweight, obesity (BMI ≥ 23): increased risk of 
macrosomia 1.64 times. Weight gain during pregnancy from 12 to 20 kg, increase risk of macrosomia 
4.76 times and the risk increase 6.22 times if who weight gain during pregnancy more than 20 kg. 
Gestational age from 40 to 42 weeks, increased risk of macrosomia 1.99 times, and reach for 6.4 
times if over 42 weeks gestational. Glucose level > 6.4 mmol/l, increased risk of macrosomia to 
1.74 times. Increase the risk of macrosomia about 5.45 times if the fetal BPD ≥ 90 mm. The risk of 
Caesarean section about 2.64 times in macrosomia. 
Conclusions: The rate of fetal adverseis increased and there are a lot of adverse risk for both 
mother and fetus.
Keyword: macrosomia, high risk pregnant, gestational weight
1. Đặt vấn đề 
Cân nặng trẻ sơ sinh là yếu tố đánh giá tình 
trạng dinh dưỡng, sự phát triển của thai trong quá 
trình mang thai. Trẻ quá thừa cân hay quá nhẹ cân 
đều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh 
thần về sau, do đó, dinh dưỡng có vai trò rất quan 
trọng trong suốt quá trình tăng trưởng và phát triển 
của trẻ, thai phụ cần ăn uống đầy đủ để bào thai 
có đủ chất dinh dưỡng nhất là chất đạm giúp các 
cơ quan tạo hình và phát triển đầy đủ. Trọng lượng 
trung bình của trẻ sơ sinh Việt Nam là 3000g ± 
200g. Thai to là thai có trọng lượng trên 4000g (ở 
Châu Âu), hay trên 3500g (ở Việt Nam) [1]. Theo 
kỷ lục Guinness, trẻ sơ sinh lớn nhất là một bé trai 
nặng 10800g con của người phụ nữ Canada [10]. 
Hiện nay, tỷ lệ thai to đang có xu hướng ngày càng 
tăng. Thống kê tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ 
Chí Minh có 10,7% sản phụ sinh con trên 3800g 
[4]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Hải năm 
2009, tỷ lệ thai từ 3500 gram trở lên là 13,36% [5]. 
Tại Huế, năm 2014, kết quả của Lê Lam Hương là 
18,5% [1]. Tỷ lệ thai trên 4000 gram ở Trung Quốc 
là 11,24% [3], miền Bắc California là 13,6% [14], 
tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 10% [10]. Nguy cơ của 
thai to được ghi nhận có nhiều nhưng mẹ bị đái tháo 
đường, béo phì hay cả hai là yếu tố nguy cơ quan 
trọng nhất. Ngoài ra, các yếu tố thuận lợi khác như 
như cha mẹ cao lớn, sự tăng cân của mẹ trong thai 
kỳ, đa sản, tiền sử sinh con trên 4000 gram, thai 
giới tính nam, thai già tháng sinh lý là những yếu 
tố cũng được quan tâm [1, 13, 3]. 
Hậu quả của thai to: Khi thai to sẽ gây nhiều 
nguy cơ cho mẹ như tăng cường mổ lấy thai, tăng 
sự can thiệp giúp sinh bằng thủ thuật sản khoa [13, 
14]. Nếu sinh ngã âm đạo, nguy cơ đờ tử cung, 
chấn thương sinh dục [14]. Việc sinh một thai quá 
to thường khó khăn và nguy hiểm trong lúc chuyển 
dạ và sổ thai mà quan trọng nhất là kẹt vai (thường 
có đường kính lưỡng mõm vai lớn hơn 12cm), theo 
Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG), tỷ lệ sinh 
khó do thai to kẹt vai thay đổi từ 0,6 - 1,4% [1]. Đối 
với thai nhi, chuyển dạ kéo dài làm tăng nguy cơ 
suy thai, sinh khó có thể gây nhiều sang chấn, gãy 
xương đòn và tổn thương đám rối thần kinh cánh tay 
là thường gặp [9, 13]. Ngoài ra, thai quá to thường 
yếu đuối và khó nuôi hơn một thai bình thường, nhất 
là khi bà mẹ bị đái tháo đường thai kỳ, trẻ sinh ra 
dễ bị hạ đường huyết, khi lớn lên trẻ dễ bị béo phì 
và tăng nguy cơ bị đái tháo đường niên thiếu [9].
Nguy cơ của thai to cho mẹ và thai được ghi 
nhận nhưng việc chẩn đoán chính xác thai to trước 
khi sinh vẫn còn là vấn đề thách thức đối với các 
nhà sản khoa, hiện nay phương pháp ước lượng 
trọng lượng thai chủ yếu dựa trên bề cao tử cung và 
siêu âm thai nhưng tỷ lệ sai lệch vẫn còn cao [1], 
[3, 9]. Thai to đang là gánh nặng đối với ngành 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 31 - 37, 2016
33
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
sản khoa, nhưng các nghiên cứu về vấn đề này tại 
Việt Nam còn rất hạn chế, chưa có số liệu chính 
thức về tỷ lệ thai to được ghi nhận trong nước, trong 
đó, chúng tôi không ghi nhận được nghiên cứu nào 
tại Cần Thơ, do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện 
đề tài với mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ thai to tại 
Bệnh viện Phụ Sản Thành phố Cần Thơ năm 2015 
và (2) Khảo sát một số yếu tố liên quan đến thai to 
ở sản phụ nhập viện tại Bệnh viện Phụ Sản Thành 
phố Cần Thơ năm 2015.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 
Gồm 1.501 thai phụ đến sinh tại Bệnh viện 
Phụ sản Thành phố Cần Thơ năm 2015. Thỏa tiêu 
chuẩn chọn mẫu là các sản phụ đến sinh có tuổi 
thai từ 37 tuần trở lên và đồng ý tham gia nghiên 
cứu. Loại trừ các trường hợp đa thai, thai chết lưu, 
sản phụ bị bệnh tâm thần. 
Tiêu chuẩn chọn thai to: được quy định là cân 
nặng của trẻ sơ sinh là 3500 gram trở lên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên 
cứu là cắt ngang mô tả có phân tích.
Các biến số nghiên cứu gồm: Tuổi mẹ, địa chỉ, 
dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tiền căn về 
sản phụ khoa, tiền thai, số lần mang thai, đặc điểm 
sinh lần trước, cân nặng trẻ, đặc điểm cho thai kỳ 
lần này như số lần khám thai, nơi khám thai, bệnh 
của mẹ trong thai kỳ, tuổi thai, bất thường do thai, 
phần phụ, cân nặng, chiều cao, sự tăng cân trong 
thai kỳ, chỉ số khối cơ thể, chiều cao tử cung, vòng 
bụng, độ xóa mở cổ tử cung, tim thai, ngôi thế 
kiểu thế, tình trạng ối, siêu âm, lượng hemoglobin, 
glucose máu, protein niệu. Tình hình chuyển dạ, 
phương pháp sinh, tình trạng mẹ và bé sau sinh.
Tìm hiểu các yếu tố nguy cơ của thai to so với 
thai có trọng lượng bình thường thông qua chỉ số 
nguy cơ (OR) ghi nhận bằng yếu tố có tiếp xúc và 
không tiếp xúc ở 2 nhóm trẻ sơ sinh cân nặng trên 
3500 gram và trẻ thường (dưới 3500 gram). 
Sự khác biệt có ý nghĩa khi p < 0,05. Số liệu 
được nhập và xử lý phần mềm Stata 10.0.
3. Kết quả nghiên cứu
Trong thời gian 8 tháng, chúng tôi nhận được 
1.501 trường hợp sinh, kết quả như sau:
3.1. Tỷ lệ thai to
Thai to khi trẻ có cận nặng 3500 gram, có 349 
trẻ sau sinh trên 3500 gram, chiếm 23,25%.
Số trẻ có trọng lượng từ 4000 gram trở lên là 58 
trẻ, chiếm 3,86%. Trọng lượng trung bình của thai 
to là 3738,83 ± 271,37 gram.
3.2. Các yếu tố liên quan đến thai to
3.2.1. Yếu tố nguy cơ của thai to liên quan đến 
đặc điểm chung
Mẹ ≥ 35 tuổi có nguy cơ sinh con to 1,44 lần 
so với bà mẹ dưới 35 tuổi, có trình độ học vấn sau 
THPT có nguy cơ thai to tăng 2,89 lần so với nhóm 
không biết chữ, nghề công nhân viên, tăng 1,74 
lần so với các nghề khác (p < 0,01).
3.2.2. Yếu tố nguy cơ của thai to liên quan đến 
tiền căn sản khoa của mẹ
Nhóm mang thai 1-2 lần có tỷ lệ thai to tăng 
1,47 lần so với nhóm chưa mang thai. Trong 185 
Biểu đồ 1. Tỷ lệ thai to nếu định nghĩa thai có trọng lượng từ 3500g trở lên
Trọng lượng Tần suất (n) Tỷ lệ (%) Trung bình (g)
Thai to 58 3,86 3738,83±271,37
Thai thường 1443 96,14 3008,60±277,64
Bảng 1. Tỷ lệ thai to nếu định nghĩa thai có trọng lượng từ 4000g trở lên
Đặc điểm Trẻ Thai to (n, %) Thai thường (n,%) p OR 95% CI
Tuổi mẹ
<35 tuổi 291(83,38) 1012(87,58)
0,03
1 -
≥35 tuổi 58(16,62) 140(12,15) 1,44 1,03-2,01
Trình 
độ học 
vấn
Mù chữ 5(1,43) 32(2,87)
0,00
1 -
Tiểu học 51(14,61) 202(17,53) 1,62 0,60-4,37
THCS 131(37,54) 439(38,11) 1,91 0,73-5,01
THPT 51(14,61) 233(20,23) 1,40 1,09-7,67
Sau THPT 111(31,81) 246(21,35) 2,89 1,08-7,67
Nghề 
nghiệp
Khác 105(30,09) 229(19,88)
0,00
1 -
Công nhân 244(69,91) 923(80,12) 1,74 1,32-2,27
Bảng 2. Liên quan giữa thai to và các đặc điểm chung của mẹ
Tiền căn Trẻ Thai to (n, %) Thai thường (n,%) p OR 95% CI
Số lần 
mang 
thai
con so 150(42,98) 607(52,69)
0,00
1 -
1-2 lần 185(53,01) 509(44,18) 1,47 1,15-1,88
≥3 lần 14(4,01) 36(3,13) 1,57 0,83-3,00
Căn 
nặng 
lần trước
<3500g 112(60,54) 449(90,89)
0,00
1 -
3500<4000 65(35,14) 40(8,10) 6,51 4,05-10,47
≥4000g 8(4,32) 5(1,01) 6,41 2,03-20,27
Bảng 3. Liên quan giữa tiền căn sản khoa của mẹ và thai to
3.2.4. Yếu tố nguy cơ của thai to liên quan đến 
đặc điểm lâm sàng
BCTC ≥ 35cm thì nguy cơ sinh con to tăng 4,76 
lần so với nhóm có BCTC từ 25 -< 35cm. Tỷ lệ sinh 
con to tăng 4,89 lần nếu vòng bụng 90 -< 100cm, 
tăng 20,46 lần nếu số đo ≥ 100cm so với vòng 
bụng ≤ 90cm (p < 0,01).
3.2.5. Yếu tố nguy cơ của thai to liên quan đến 
đặc điểm cận lâm sàng
Nguy cơ sinh thai to tăng 5,45 lần khi BPD ≥ 
90mm so với BPD < 90mm, tăng 1,7 lần khi có FL ≥ 
70mm so với FL < 70mm (p<0,01). Lượng glucose 
huyết > 6,4mmol/l, nguy cơ tăng 1,74 lần so với 
glucose huyết ≤ 6,4mmol/l (p < 0,05). Không ghi 
nhận được sự với tình trạng thiếu máu (p > 0,05).
3.2.6. Sự liên quan giữa đặc điểm thai to và 
tình trạng sau sinh của mẹ, thai nhi
Có sự liên quan giữa thai to với phương pháp 
sinh, giới tính như nguy cơ MLT tăng 2,64 lần so 
với sinh ngã âm đạo, bé trai có tăng nguy cơ là 
1,34 lần (p < 0,05). Chưa ghi nhận liên quan với 
diễn tiến sau sanh của mẹ và thai (p > 0,05). 
4. Bàn luận
4.1. Tỷ lệ thai to
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1501 trường 
hợp sinh, tỷ lệ thai to là 23,25% khi định nghĩa thai 
LÂM ĐỨC TÂM, LƯU THỊ TRÂM ANH, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY
34
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
bà mẹ đã sinh, tiền căn sinh con to có nguy cơ sinh 
con to tăng 6 lần ở lần mang thai kế, sự khác biệt 
có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
3.2.3. Yếu tố nguy cơ của thai to liên quan đến 
đặc điểm thai kỳ lần này
Có sự liên quan giữa tuổi thai, chiều cao, cân 
nặng, chỉ số khối cơ thể, sự tăng cân trong thai kỳ, 
cụ thể, tuổi thai càng lớn nguy cơ thai to càng cao, 
từ 40 -< 42 tuần nguy cơ tăng 1,99 lần, tăng 6,4 
lần khi ≥ 42 tuần so với thai 37 -< 40 tuần (p < 
0,001). Sản phụ cao có nguy cơ sinh con to tăng 
2,44 lần so cao ≥ 165cm. Cân nặng trước mang 
thai 45 -< 60kg, nguy cơ tăng 2,22 lần, gấp 3,44 
lần khi ≥ 60kg so với cân nặng < 45kg. Khi thừa 
cân, béo phì (BMI ≥ 23) tỷ lệ thai to gấp 1,64 lần 
so BMI trung bình. Khi tăng cân 12 -< 20kg gấp 
4,76 lần, nhóm tăng ≥ 20 kg gấp 6,22 lần, sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
 Trẻ Thai to (n, %) Thai thường (n,%) p OR 95% CI
Tuổi thai
37-<40 tuần 194(55,59) 828(71,88)
0,00
1 -
40-<42 tuần 149(42,69) 320(27,78) 1,99 1,54-2,56
≥42 tuần 6(1,72) 4(0,35) 6,40 1,78-23,07
Chiều 
cao
<145cm 2(0,57) 5(0,43)
0,00
1,66 0,32-8,72
145-<155cm 101(28,94) 420(36,46) 1 -
155<165cm 219(62,75) 681(59,11) 1,34 1,03-1,74
≥165cm 27(7,74) 46(3,99) 2,44 1,44-4,14
Cân 
nặng
<45kg 24(6,88) 165(14,32)
0,00
1 -
45-<60kg 308(88,25) 953(82,73) 2,22 1,42-3,48
≥60kg 17(4,87) 34(2,95) 3,44 1,63-7,23
Chỉ số 
khối cơ 
thể
<18,5 kg/m2 37(10,60) 182(15,80)
0,00
0,66 0,45-0,96
18,5-<23 282(80,80) 911(79,08) 1 -
≥23 kg/m2 30(8,60) 59(5,12) 1,64 1,04-2,60
Tăng 
cân 
trong 
thai kỳ
≤8 kg 17(4,87) 220(19,10)
0,00
0,57 0,33- 0,98
8-<12kg 77(22,06) 565(49,05) 1 -
12-<20 kg 183(52,44) 282(24,48) 4,76 3,46- 6,55
≥20 kg 72(20,63) 85(7,38) 6,22 4,08- 9,46
Nơi 
khám
Bệnh viện 37(10,60) 134(11,63)
0,60
1 -
Bác sĩ tư 312(89,40) 1018(88,37) 1,1 0,75-1,63
Số lần 
khám 
thai
≤3 lần 100(28,65) 320(27,78)
0,58
1
3-<6 lần 126(36,10) 451(39,15) 0,89 0,66-1,21
≥6 lần 123(35,24) 381(33,07) 1,03 0,76-1,40
Bảng 4. Liên quan giữa đặc điểm thai kỳ lần này và thai to
Lâm sàng Trẻ Thai to (n, %) Thai thường (n,%) p OR 95% CI
Bề cao 
tử cung
≤25cm 1(0,29) 13(1,13)
0,00
0,57 0,33- 0,98
25-<35 274(78,51) 1117(96,96) 1 -
≥35cm 74(21,20) 22(1,91) 4,76 3,46- 6,55
Vòng 
bụng
≤90cm 18(5,16) 351(30,47)
0,00
1 -
90 -<100 160(45,85) 638(55,38) 4,89 2,92-8,18
≥100cm 171(49) 163(14,15) 20,46 11,12-37,65
Bảng 5. Liên quan giữa đặc điểm bề cao tử cung, vòng bụng và thai to
Siêu âm Trẻ Thai to (n, %) Thai thường (n,%) p OR 95% CI
Đường kính 
lưỡng đỉnh
<90mm 30(8,75) 381(34,29)
0,00
1 -
≥90mm 313(91,25) 730(65,71) 5,45 3,63-8,18
Chiều dài 
xương đùi
<70mm 81(23,62) 383(34,47)
0,00
1 -
≥70mm 262(76,38) 728(65,53) 1,70 1,29-2,25
Glucose 
(mmol/l)
≤6,4 321(91,98) 1097(95,23)
0,02
1 -
>6,4 28(8,02) 55(4,77) 1,74 1,08-2,79
Hb (g/dl)
<11 13(3,72) 336(96,28)
0,57
1 -
≥11 51(4,43) 1101(95,57) 1,20 0,64- 2,23
Bảng 6. Liên quan giữa đặc điểm cận lâm sàng và  ... am khảo của Ngô Thi Uyên [3] (2008) tại Hải 
Phòng là 15,7%; Nguyễn Thị Ngọc Hải [5] (2009) 
tại Huế là 13,36% và 18,5% của Lê Lam Hương [1] 
(2014) khi thai ≥ 3500g; theo N.E. Stotland [14] 
(2005) 13,6% khi cân nặng là ≥ 4000g và 9% theo 
Mahin Najafian [13] (2012) tại Iran. Tỷ lệ thai to của 
chúng tôi hơi cao hơn so nghiên cứu khác, điều này 
là do các nghiên cứu chọn định nghĩa thai to khác, 
sự khác nhau về tiêu chuẩn chọn mẫu, tuổi thai. Cụ 
thể, Nguyễn Thị Ngọc Hải [5] chọn các sản phụ đến 
sinh. Lê Lam Hương [1] chọn thai 38 - 42 tuần.Ngô 
Thị Uyên [3] chọn thai ≥ 38 tuần nhưng thai to có 
trọng lượng nằm trên đường bách phân vị thứ 90 so 
với tuổi thai tương ứng. Tương tự, các nghiên cứu của 
N.E. Stotland [14], Mahin Najafian [13] cũng chọn 
cân nặng là 4000gram. Ngoài ra, môi trường, điều 
kiện kinh tế xã hội, chế độ dinh dưỡng cũng có nhiều 
khác biệt nên tỷ lệ khác so với nghiên cứu chúng tôi. 
4.2. Các yếu tố liên quan đến thai to
4.2.1. Liên quan đến đặc điểm chung của đối 
tượng nghiên cứu
Tuổi của sản phụ: mẹ ≥ 35 tuổi có nguy cơ sinh 
con to 1,44 lần so với nhóm < 35 tuổi (p < 0,05). 
Theo Mahin Najafian, 60% mẹ sinh con to ≥ 35 tuổi 
[13], theo N.E. Stotland, 30-40 tuổi có nguy cơ thai to 
(OR=1,16, 95%CI [1,07-1,14]) [14], Yi Li (OR=1,08, 
95%CI [1,03-1,12]) [3]. Tuổi càng lớn có liên quan 
mật thiết đến yếu tố con rạ, tiền sử sinh con to làm 
nguy cơ thai to tăng lên. Vấn đề hiện nay là phụ nữ 
có xu hướng lập gia đình ngày càng trễ nên trường 
hợp lớn tuổi mang thai cũng tăng lên, góp phần làm 
tăng tỷ lệ thai to.
Trình độ học vấn của mẹ:Phụ nữ có trình độ trung 
học phổ thông sinh thai to tăng 2,89 lần so với không 
biết chữ (95% CI [1,08-7,67], p < 0,05). Tương tự Yi 
Li, tỷ lệ thai to là 14% ở nhóm học trên 12 năm so với 
12,4% ở nhóm học ít hơn [3]. Trình độ học vấn càng 
cao, khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe 
tốt hơn, cơ hội có được việc làm tốt hơn, kinh tế được 
đảm bảo hơn do đó mức độ dinh dưỡng cũng như sự 
quan tâm đến sức khỏe sinh sản cao hơn, từ đó làm 
tăng tỷ lệ đẻ con to. 
Nghề nghiệp: công nhân viên sinh thai to gấp 1,74 
lần so nghề khác (95%CI [1,32-2,27], p < 0,05). Điều 
này có do mẹ làm công việc văn phòng ít hoạt động 
thể lực, mức thu nhập tương đối cao và ổn định so với 
nghề khác nên có nhiều cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm 
sóc sức khỏe hơn, chế độ dinh dưỡng trong thai kỳ tốt 
hơn nên góp phần nâng cao tỷ lệ mang thai to. Kết 
quả phù hợp nghiên cứu tại Nha Trang khi thu nhập > 
3,5 triệu đồng/tháng tăng nguy cơ 1,36 lần (p < 0,05) 
so với thu nhập 1,5-2,5 triệu đồng/tháng [11]. 
4.2.2. Đặc điểm về tiền căn sản phụ khoa
Số lần mang thai: Khi mang thai 1-2 lần có 
nguy cơ tăng 1,47 lần so với nhóm chưa mang thai. 
Theo Mahin Najafian có 81% trẻ sinh nặng cân gặp 
ở phụ nữ đa sản (p < 0,05) so với 34% nhóm chứng 
[13]. Nguyễn Thị Ngọc Hải,sinh trên 3 lần có con to là 
44,54% [5]. Khác nhau là do mẫu chọn rộng hơn (cả 
sẩy thai, nạo phá thai) và dochính sách kế hoạch hóa 
gia đình của nước ta được thực hiện khá tốt.
Tiền căn sinh con to: ở 185 bà mẹ đã sinh, nguy 
cơ sinh con to ở lần mang thai sau tăng trên 6 lần. 
Kết quả tương tự ở nghiên cứu Phan Xuân Khoa 
(OR=14,5, p < 0,01) [8], Mahin Najafian (OR=10, 
p<0,05) [13]. Các nghiên cứu định nghĩa thai to có 
trọng lượng lúc sinh ≥ 4000g nhưng cho rằng nguy cơ 
sinh con to ở người có tiền căn sinh con to, do đó, bà 
mẹ có tiền sử sinh con to nên theo dõi thai và quản lý 
thai, theo dõi chặt chẽ cho lần mang thai đầu vì nếu 
cho ra đời một sơ sinh có cân nặng bình thường thì 
giảm nguy cơ mang thai to trong lần sinh sau.
4.2.3. Đặc điểm thai kỳ lần này
Chiều cao, cân nặng: Lối sống có thể làm thay 
đổi chỉ số khác của người mẹ (ví dụ cân nặng), nhưng 
chiều cao là đặc trưng riêng cho từng người. Nhóm 
cao 1,55-1,65cm có sinhcon to gấp 1,34 lần, tăng 
2,44 lần ở nhóm cao trên 165cm so với 145-155cm. 
Nghiên cứu nước ngoài chứng minh liên quan giữa 
chiều cao mẹ với trọng lượng sơ sinh của trẻ [13, 3]. 
Lý giải điều này có thể do yếu tố di truyền tác động 
đến trọng lượng trẻ. Nhóm có cân nặng trước mang 
thai 45 -< 60kg có nguy cơ sinh thai to tăng 2,22 lần, 
cân nặng ≥ 60kg tăng 3,44 lần so với nhóm < 45kg. 
LÂM ĐỨC TÂM, LƯU THỊ TRÂM ANH, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY
36
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Kết quả này phù hợp với Mahin Najafian [13]. Như 
vậy, mẹ càng cao to,nguy cơ sinh con to càng tăng 
nhưng chiều cao đã ổn định nên việc kiểm soát cân 
nặng hợp lý trước khi mang thai là vấn đề cần được 
chú trọng trong chăm sóc tiền sản.
Chỉ số khối cơ thể (BMI) trước mang thai: có 8,6% 
SP thừa cân, béo phì (BMI ≥ 23) mang thai to, nguy 
cơ thai to tăng gấp 1,64 lần so với BMI bình thường, 
95%CI [1,04- 2,60]. Dù định nghĩa thai to có khác 
biệt nhưng kết quả này phù hợp với nghiên cứu: Phan 
Xuân Khoa (OR=2,65, 95%CI [4,48- 60,16]) [8], Yi 
Li (OR=1,13, 95%CI [1,09-1,18) [3] hay Erika Ota 
(OR=2,25, 95%CI [1,61-3,15]) [11]. Có lẽ do người 
mẹ béo phì dự trữ nhiều năng lượng thừa, nguồn 
năng lượng truyền cho con làm tăng trọng lượng thai. 
Ngoài ra, béo phì liên quan đái tháo đường và các 
biến chứng khác trong thai kỳ của mẹ, đây là yếu tố 
có thể thay đổi được vì vậy, cần tập thể dục đi kèm 
với chế độ dinh dưỡng phù hợp. Do đó, khi tăng cân 
càng nhiều, nguy cơ sinh con to càng tăng nên theo 
dõi sự tăng cân trong thai kỳ là vấn đề quan trọng để 
có thể điều chỉnh chế độ dinh dưỡng phù hợp [13], 
[3]. Theo khuyến cáo, tăng cân khoảng 8-12kg ở cân 
nặng bình thường là sự tăng cân hợp lý nên khi so với 
nhóm tăng cân 8-12kg, nếu tăng 12 -< 20kg nguy 
cơ sinh con to tăng 4,76 lần, tăng 6,22 lần nếu tăng 
cân ≥ 20kg (p < 0,05) nhưng nếu tăng cân < 8kg 
lại là yếu tố bảo vệ cho trường hợp sinh con bình 
thường nên nhiều người tăng cân trên 12 kg sẽ là yếu 
tố đáng quan tâm trong chăm sóc thai sản. Kết quả 
này phù hợp với Nguyễn Thị Tuyết Anh [6], Phan Thị 
Kim Ngân [7] với hệ số tương quan lần lượt là R = 
0,84 và R = 0,67. Theo Phan Xuân Khoa khi thai to 
có TLSS ≥ 4000g, với biến cố tăng cân mẹ từ 14,5kg 
trở lên thì nguy cơ thai to là 12,93 với p < 0,01 [8]. 
Wang WP (OR = 2,03, 95%CI [1,79-2,31]) [1].Theo 
dõi cân nặng, điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hợp lý 
để có mức tăng cân phù hợp là vấn đề cần được quan 
tâm trong quá trình thai sản.
Tuổi thai: Sự tăng cân của thai ở đỉnh ở khoảng 
37 tuần, hầu hết thai nhi vẫn tiếp tục tăng cân đến 
khi sinh [10]. Tuổi thai từ 40 -< 42 tuần nguy cơ tăng 
1,99 lần, tăng 6,4 lần khi ≥ 42 tuần, khi tuổi thai càng 
lớn nguy cơ thai to càng tăng. Theo N.E. Stotlandtăng 
3,39 lần ở thai > 41 tuần [14]. Theo Phan Xuân Khoa, 
yếu tố tuổi thai không khác biệt giữa nhóm thai to 
và nhóm chứng (OR=1,5, p=0,16) [8]. Kết quả khác 
nhau có lẽ do hiện nay dựa vào siêu âm quý một, việc 
xác định tuổi thai tương đối chính xác, khi nghi ngờ 
thai to- chủ động chấm dứt thai kỳ sớm. Một số bệnh 
viện xem trường hợp thai > 40 tuần là thai quá ngày, 
được chủ động chấm dứt thai kỳ, tỷ lệ thai già tháng 
giảm đáng kể. Việc xác định chính xác tuổi thai để có 
hướng xử trí phù hợp, giảm tỷ lệ thai quá ngày là tốt 
cần được phát huy hơn nữa.
Bề cao tử cung, vòng bụng: Có 21,2% sinh thai to 
có BCTC ≥ 35cm so 1,91% ở nhóm thai thường, nguy 
cơ sinh con to tăng 4,76 lần (p < 0,05). Tỷ lệ sinh con 
to tăng 4,89 lần nếu vòng bụng 90 -< 100cm, tăng 
đến 20,46 lần nếu vòng bụng ≥ 100cm (p < 0,05).Sự 
phát triển thai nhi biểu hiện lâm sàng qua sự tăng của 
BCTC và vòng bụng. Tuy còn nhiều sai số do kỹ thuật 
đo, lượng nước ối, độ dày lớp mỡ dưới da, ngôi thai
nhưng số đo của BCTC và vòng bụng có sự tương 
quan với trọng lượng thai [1]. Trên lâm sàng, trường 
hợp có BCTC và vòng bụng lớn, bác sĩ nên nghi ngờ 1 
thai có trọng lượng lớn để chủ động hơn trong hướng 
giải quyết.
4.2.4. Đặc điểm cận lâm sàng liên quan đến thai to
Nồng độ đường trong máu có mối liên quan giữa 
đái tháo đường và tỷ lệ sinh con nặng cân [14, 57]. 
Do điều kiện khách quan, chúng tôi chỉ xét nồng độ 
đường huyết lúc nhập viện. Khi nồng độ đường huyết 
> 6,4mmol/l, nguy cơ sinh con to tăng 1,74 lần, nồng 
độ đường trong máu mẹ cao sẽ tăng đường huyết trong 
máu, là nguồn dinh dưỡng cho phát triển của thai. 
Nồng độ đường cao sẽ kèm theo sự tăng insulin trong 
máu thai, thúc đẩy dự trữ chất dinh dưỡng thừa dẫn đến 
tăng trọng lượng nên kiểm soát tốt đường huyết trong 
thai kỳ là yếu tố góp phần làm giảm tỷ lệ thai to [4]. 
Siêu âm: Có 1454 phụ nữ siêu âm ,nguy cơ sinh 
thai to tăng 5,45 lần khi BPD ≥ 90mm, tăng 1,7 lần 
khi có FL ≥ 70mm. Sự phát triển của thai biểu hiện 
qua số đo kích thước BPD, FL, AC của thai trên siêu 
âmnhưng sự sai biệt này là khá cao [1].
4.2.5. Phương pháp sinh
Tỷ lệ MLT cao gấp 2,64 lần so với sinh ngã âm 
đạo khi thai ≥ 3500g (p < 0,05). Điều này phù hợp 
với y văn và các nghiên cứu khác vì khi sinh thai to, 
khả năng kẹt vai là yếu tố đánh lo ngại của bác sĩ [9], 
[12]. Đồng thời, nhiều trường hợp nghi ngờ thai to, 
bác sĩ lâm sàng có thể sử dụng nghiệm pháp lọt để 
thử thách cuộc sinh và góp phần làm tăng tỷ lệ MLT. 
Tham khảo Ngô Thị Uyên [3] (2008) MLT là 54,5% và 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 31 - 37, 2016
37
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
45,5% sinh ngã âm đạo; Mahin Najafian [13] (2012) 
ghi nhận là 89% MLT. Nhưng Nguyễn Thị Ngọc Hải 
[5] (2014) có 34,45% MLT và 65,55% sinh ngã âm 
đạo. Qua đó, tỷ lệ MLT của chúng tôi cao hơn nghiên 
cứu khác, có thể do việc quản lý thai được xã hội hóa, 
siêu âm ước lượng trọng lượng thai, lo lắng sinh ngã 
âm đạo nên có xu hướng xin MLT chủ động khi thai 
to, từ đó làm cho kết quả MLT của thai to trong nghiên 
cứu này cao hơn các nghiên cứu khác.
4.2.6. Tình trạng mẹ và thai sau sinh
Thai to có nhiều nguy cơ cho chuyển dạ, khi thai 
càng to, đầu không lọt khi vào chuyển dạ, chuyển 
dạkhó khăn và kéo dài dẫn đến đờ tử cung, nếu sinh 
được ngã âm đạo, sự sổ thai dễ gây tổn thương phần 
mềm của mẹ, tăng tỷ lệ giúp sinh bằng thủ thuật [1]. 
Kết quả có 4 sản phụ bị chảy máu sau sanh, tăng 
nguy cơ ở thai to nhưng do số mẫu số chảy máu 
không nhiều nên kiểm định chưa có ý nghĩa thống kê 
(p > 0,05). Theo Mahin Najafian [13] có sự liên quan 
giữa thai to và tình trạng đờ tử cung, chấn thương sinh 
dục (p < 0,05). Theo Nguyễn Thị Ngọc Hải, tỷ lệ chảy 
máu là 1,68% [5]. Có sự khác nhau này là do khi nghi 
ngờ thai to, bác sĩ chủ động dự phòng chảy máu bằng 
thuốc, tăng tỷ lệ MLT chủ động, MLT khi ở giai đoạn 
tiềm thời. Chủ động dự phòng BHSS là phương pháp 
tốt, cần phát huy hơn. 
Tình trạng trẻ sau sinh: Thai to khi chuyển dạ đầu 
thường không lọt, chuyển dạ kéo dài dẫn đến suy thai, 
ảnh hưởng đến chỉ số Apgar. Nếu đầu lọt, sự xuống 
của thai thường chậm và khó khăn, thai bị dồn ép nhiều 
nên dễ bị chấn thương, biến cố đáng sợ nhất là kẹt vai 
do thai to thường có đường kính lưỡng mỏm vai lớn, tỷ 
lệ chấn thương tăng 3 lần khi thai trên 4000g [1, 13].
Giới tính: Y văn ghi nhận trẻ trai lớn hơn trẻ gái ở 
bất kỳ tuổi thai nào, có lẽ nhiễm sắc thể Y có ảnh hưởng 
đến sự phát triển của bào thai hơn nhiễm sắc thể X [1, 
13, 14, 3]. Kết quả sinh con to tăng 1,34 lần nếu mang 
thai bé trai, điều này phù hợp với N.E. Stotland [14], 
trẻ trai có TLSS lớn hơn trẻ gái (> 50% là bé trai) nhưng 
khác với Nguyễn Thị Ngọc Hải [5] và Erika Ota [11] 
dù bé trai lớn hơn. Có lẽ do cỡ mẫu không đủ hay đối 
tượng chọn khác nhau nhưng tác giả cho rằng, trẻ trai 
nguy cơ có TLSS cao hơn so với trẻ gái.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu tỷ lệ thai to tại Bệnh viện Phụ Sản 
Thành phố Cần Thơ ghi nhận thai có trọng lượng trẻ ≥ 
3500 gram chiếm tỷ lệ là 23,25%. Trọng lượng trẻ ≥ 
4000 gram chiếm 3,86%. Các yếu tố liên quan đến 
thai to gồm tuổi của mẹ ≥ 35 tuổi, trình độ học vấn 
sau trung học phổ thông, tiền sử mang thai 1-2 lần, 
tiền căn sinh con to, sản phụ cao trên 165cm, thừa 
cân, béo phì (BMI ≥ 23), tăng cân nhiều trong thai kỳ, 
thai quá ngày sinh dự đoán, bề cao tử cung ≥ 35cm, 
mang thai bé trai, tăng đường máu thai kỳ. Mang thai 
to làm tăng tỷ lệ mổ lấy thai.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ môn phụ sản, Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh (2011), Sản phụ 
khoa tập I, Nhà Xuất bản Y học chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh,tr.251- 254.
2. Lê Lam Hương, Hoàng Thanh Hà (2014), “Nghiên cứu giá trị dự đoán trọng 
lượng thai của thai đủ tháng qua lâm sàng và siêu âm”, Tạp chí Phụ Sản, 
12(1), tr.58-63.
3. Ngô Thị Uyên, Lê Thùy Hưu (2011), “Tình hình chẩn đoán xử trí thai to tại 
bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ tháng 3-4 năm 2008”, Y học Thực Hành 
(774), Số 7, tr.54-57.
4. Nguyễn Ngọc Thoa (2013), “Hệ lụy thai to”, Tạp chí Phụ sản, số đặc biệt, 
tr.33- 38.
5. Nguyễn Thị Ngọc Hải, Tôn Thất Phúc, Bùi Lập (2009) “Tình hình thai to và 
thái độ xử trí sản phụ chuyển dạ sinh thai to tại trung tâm Y tế huyện Hương 
Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2009” , Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại 
học Y Dược Huế.
6. Nguyễn Thị Tuyết Anh (2006), “Phân tích các yếu tố liên quan đến cân 
nặng con”, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ 
Chí Minh, tr.54-55.
7. Phan Thị Kim Ngân (2004), “Khảo sát tương quan cân nặng trẻ lúc sinh và 
tăng cân mẹ qua từng thời kỳ”, Luận văn Thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y 
Dược Huế, tr.55-58. 
8. Phan Xuân Khoa (2007), “Khảo sát một số yếu tố nguy cơ gây thai to tại 
Bệnh viên Đại học Y Dược Cơ Sở 2”, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại 
học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
9. American Congress of Obstetricians and Gynecologists (2001), “ACOG 
Issues Guidelines on Fetal Macrosomia”, Pratice Bulletin No.22, pp. 169- 170. 
10. Cunninggham et al (2011), “Fetal growth and development”, “Fetal growth 
disorders”,“Diabetes”, Williams Obstetrics 23rd Edition, pp.842-857/1104-1126
11. Erika Ota et al (2011), “Maternal body mass index and gestational weight 
gain and their association with perinatal outcomes in Viet Nam”, Bulletin of the 
World Health Organization, 89, pp.127-136. 
12. Li N1, Li Q1, Chang L1, Liu C2 (2015), “Risk factors and clinical prediction 
of shoulder dystocia in non-macrosomia”, Zhonghua Fu Chan Ke Za Zhi, 50(1), 
pp.17-21.
13. Mahin Najafian and Maria Cheraghi (2012), “Occurrence of Fetal Macrosomia 
Rate and Its Maternal and Neonatal Complications: A 5-Year Cohort Study”, 
Article, ISRN Obstetrics and Gynecology, pp.353-791.
14. N.E. Stotland, A.B. Caughey, E.M. Breed, G.J. Escobar Corrigendum to 
(2005), “Risk factors and obstetric complications associated with macrosomia”, 
Gynecol Obstet 87, pp.220–226.
15. Wang WP et al (2013), “Gestational weight gain and its relationship with the 
birthweight of offspring”, Zhonghua Fu Chan Ke Za Zhi, 48(5), pp. 321-325. 
16. Yadav H1, Lee N (2014), “Factors influencing macrosomia in pregnant women 
in a tertiary care hospital in Malaysia”, J Obstet Gynaecol, 40(2), pp.439-444.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ty_le_va_cac_yeu_to_lien_quan_thai_to_tai_benh_vi.pdf