Nghiên cứu tỷ lệ typ mô bệnh học ung thư nội mạc tử cung và sự bộc lộ thụ thể estrogen và progesteron

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các típ mô bệnh học, độ mô học của UTNMTC theo phân loại của WHO 2003. Nhận xét tỷ lệ bộc lộ thụ thể ER, PR của typ ung thư dạng nội mạc, mối liên quan giữa tỷ lệ bộc lộ ER, PR với một số yếu tố mô học. Đối tượng nC: Gồm 102 TH được chẩn đoán MBH là UTNMTC, đã phẫu thuật cắt bỏ TC, vòi TC, buồng trứng, nạo vét hạch chậu, mạc nối tại BV Phụ sản TW và BV K Hà nội từ tháng 7/2010 đến 7/2011. phương pháp nC: Nghiên cứu mô tả. Các trường hợp được nghiên cứu MBH, nhuộm HMMD ER, PR của 40 trường hợp UTBMT dạng nội mạc. Kết quả: Typ UTBM tuyến dạng nội mạc gặp nhiều nhất (80,4%), biến thể biệt hóa vảy có tỷ lệ cao nhất (47,6%). Độ 1 gặp nhiều nhất, chiếm 50%, độ 3 chiếm 23,5%. Nhóm u xâm nhập ít hơn 1/2 chiều dày lớp cơ và ≥ 1/2 chiều dày lớp cơ chiếm 48% và 43,1%. Có 70,6% trường hợp UTNMTC giới hạn ở nội mạc và lớp cơ thân tử cung. Tỷ lệ ER (+) là 65%, PR (+) là 60%, đồng thời ER (+) và PR (+) là 55%, đồng thời ER (-) và PR (-) là 30%. ER, PR có tỷ lệ dương tính cao nhất ở u độ 1 ( 94,1% và 82,4%). Tỷ lệ dương tính của hai thụ thể này giảm dần ở u độ 2, thấp nhất ở độ 3 (p<0,05). cả="" er="" và="" pr="" dương="" tính="" chiếm="" tỷ="" lệ="" cao="" ở="" u="" độ="" 1="" (82,4%),="" ở="" u="" độ="" 2="" là="" (50,0%)="" và="" thấp="" nhất="" ở="" u="" độ="" 3="" (4,5%).="" tỷ="" lệ="" er,="" pr="" dương="" tính="" cao="" hơn="" ở="" nhóm="" u="" xâm="" nhập="" ít="" hơn="" ½="" chiều="" dầy="" cơ="" tc="" so="" với="" nhóm="" xấm="" nhập="" hơn="" ½="" chiều="" dầy="" cơ="" tc="" song="" sự="" khác="" biệt="" là="" không="" có="" ý="" nghĩa="" (p="">0,05). ER dương tính thì ít lan ra ngoài thân tử cung có ý nghĩa so với trường hợp ER âm tính. ER dương tính chiếm tỷ lệ thấp ở các u có xâm nhập mạch và chiếm tỷ lệ cao hơn đối với các u không xâm nhập mạch cũng như di căn hạch (p= 0,06). Kết luận: Tỷ lệ các typ UTBMT dạng nội mạc chiếm tỷ lệ cao (80,4%). ER (+) là 65%, PR (+) là 60%, đồng thời ER (+) và PR (+) là 55%, đồng thời ER (-) và PR (-) là 30%. Tỷ lệ xâm nhập mạch, di căn hạch, độ mô học, u khu trú ở thân tử cung, xâm nhập < ½="" lớp="" cơ="" có="" liên="" quan="" thuận="" với="" sự="" bộc="" lộ="" er.="" tỷ="" lệ="" pr="" dương="" tính="" chỉ="" liên="" quan="" đến="" độ="" mô="" học="" của="">

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tỷ lệ typ mô bệnh học ung thư nội mạc tử cung và sự bộc lộ thụ thể estrogen và progesteron", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tỷ lệ typ mô bệnh học ung thư nội mạc tử cung và sự bộc lộ thụ thể estrogen và progesteron

Nghiên cứu tỷ lệ typ mô bệnh học ung thư nội mạc tử cung và sự bộc lộ thụ thể estrogen và progesteron
Lê Quang Vinh, Lê Trung ThọPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
98
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ TYP MÔ BỆNH HỌC UNG THƯ NỘI 
MẠC TỬ CUNG VÀ SỰ BỘC LỘ THỤ THỂ ESTROGEN 
VÀ PROGESTERON 
Lê Quang Vinh(1), Lê Trung Thọ(2)
(1) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (2) Đại học Y Hà Nội 
tóm tắt
mục tiêu: Xác định tỷ lệ các típ mô bệnh học, độ mô 
học của UTNMTC theo phân loại của WHO 2003. Nhận 
xét tỷ lệ bộc lộ thụ thể ER, PR của typ ung thư dạng nội 
mạc, mối liên quan giữa tỷ lệ bộc lộ ER, PR với một số yếu 
tố mô học. Đối tượng nC: Gồm 102 TH được chẩn đoán 
MBH là UTNMTC, đã phẫu thuật cắt bỏ TC, vòi TC, buồng 
trứng, nạo vét hạch chậu, mạc nối tại BV Phụ sản TW và 
BV K Hà nội từ tháng 7/2010 đến 7/2011. phương pháp 
nC: Nghiên cứu mô tả. Các trường hợp được nghiên cứu 
MBH, nhuộm HMMD ER, PR của 40 trường hợp UTBMT 
dạng nội mạc. Kết quả: Typ UTBM tuyến dạng nội mạc 
gặp nhiều nhất (80,4%), biến thể biệt hóa vảy có tỷ lệ 
cao nhất (47,6%). Độ 1 gặp nhiều nhất, chiếm 50%, độ 
3 chiếm 23,5%. Nhóm u xâm nhập ít hơn 1/2 chiều dày 
lớp cơ và ≥ 1/2 chiều dày lớp cơ chiếm 48% và 43,1%. Có 
70,6% trường hợp UTNMTC giới hạn ở nội mạc và lớp cơ 
thân tử cung. Tỷ lệ ER (+) là 65%, PR (+) là 60%, đồng thời 
ER (+) và PR (+) là 55%, đồng thời ER (-) và PR (-) là 30%. 
ER, PR có tỷ lệ dương tính cao nhất ở u độ 1 ( 94,1% và 
82,4%). Tỷ lệ dương tính của hai thụ thể này giảm dần 
ở u độ 2, thấp nhất ở độ 3 (p<0,05). Cả ER và PR dương 
tính chiếm tỷ lệ cao ở u độ 1 (82,4%), ở u độ 2 là (50,0%) 
và thấp nhất ở u độ 3 (4,5%). Tỷ lệ ER, PR dương tính cao 
hơn ở nhóm u xâm nhập ít hơn ½ chiều dầy cơ TC so với 
nhóm xấm nhập hơn ½ chiều dầy cơ TC song sự khác 
biệt là không có ý nghĩa (p>0,05). ER dương tính thì ít 
lan ra ngoài thân tử cung có ý nghĩa so với trường hợp 
ER âm tính. ER dương tính chiếm tỷ lệ thấp ở các u có 
xâm nhập mạch và chiếm tỷ lệ cao hơn đối với các u 
không xâm nhập mạch cũng như di căn hạch (p= 0,06). 
Kết luận: Tỷ lệ các typ UTBMT dạng nội mạc chiếm tỷ lệ 
cao (80,4%). ER (+) là 65%, PR (+) là 60%, đồng thời ER 
(+) và PR (+) là 55%, đồng thời ER (-) và PR (-) là 30%. Tỷ 
lệ xâm nhập mạch, di căn hạch, độ mô học, u khu trú ở 
thân tử cung, xâm nhập < ½ lớp cơ có liên quan thuận 
với sự bộc lộ ER. Tỷ lệ PR dương tính chỉ liên quan đến độ 
mô học của u.
từ khoá: Ung thư biểu mô tuyến nội mạc tử cung, 
thụ thể estrogen (ER), thụ thể progesterone (PR).
ABStRACt
research on hisToPaThological TyPes oF 
endomeTrial cancer and er,Pr exPression 
Objectives: To determine the rate of 
histopathological types, histological grade of 
endometrial carcinomas classified by WHO 2003. 
Remarks on the rate of ER and PR receptor expression of 
endometriod carcinoma type, the correlation (relation) 
between the rate of ER, PR expression and some 
histological factors.
materials & methods: 102 cases had 
histopathology diagnosis was endometrial carcinoma, 
was resected : uterine, uterine tubes, ovary and greater 
omentum, removed pelvic lymph nodes (if any) at 
National Cancer Hospital and National Hospital of 
Obstetrics and Gynecology from 7/2010 to 7/2011. 
Descriptive study on the rate of histopathological 
types of endometrial carcinomas, the rate of vascular 
invasion, uterine muscle invasion, lymph node 
metastasis and histological grade of the tumors. 
Determining the level of ER, PR expression of 40 cases 
with endometrioid carcinoma type. Determining the 
correlation between ER, PR expression and vascular 
invasion, uterine muscle invasion, histological grade.
Results: The endometriod adenocarcinoma type 
was the most commonly seen (80,4%), squamous 
differentiation variant had the highest percentage 
(47,6%). Grade 1 was the most common, accounted 
for 50%, 23,5% grade 3. Less than ½ and ≥ ½ vascular 
thickness of uterine invasion groups accounted for 
48% and 31%. There were 70,6 % cases of endometrial 
carcinoma limiting to endometrium and muscle layer 
of uterine body (corresponding to stage I according to 
FIGO 2008).The percentage of ER(+) was 65% ,PR(+) 
was 60%, Both PR(+) and ER (+) were 55% ,30% both 
ER(-) and PR(-).The grade 1 tumors had the highest rate 
of ER,PR positive expression (94,1% and 82,4%). Positive 
rate of the two receptors decreased in grade 2 tumors, 
lowest in grade 3 tumors (p<0,05). Both ER(+) and PR(+) 
had high rate in grade 1 tumors (82,4%),50% in grade 2 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
99
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 98 - 103, 2013
tumors ,lowest in grade 3 tumors (4,5%). The rate of ER, 
PR-positive tumors was higher in group with invasion 
less than ½ thickness of uterine muscle in compared with 
the group with muscle invasion ≥1/2 thickness, but the 
difference was not significant (p> 0.05). ER(+) tumors 
were less spread out uterine body than ER (-) tumors, the 
difference was significant. ER (-) had low rate in tumors 
with vascular invasion, but having higher rate in non-
invasion as well as no lymph node metastasis tumors 
(p=0,06). There were no difference in the rate of PR (+) of 
tumors with vascular invasion and non vascular invasion, 
no lymph node metastasis tumors (p=1).
Conclusions: Endometroid adenocarcinoma types 
accounted for high percentage (80,4%). Grade 1 was 
the most common, accounted for 50%. ER(+) was 65% 
,PR(+) was 60%, Both PR(+) and ER (+) were 55% ,30% 
both ER(-) and PR(-). The rate of vascular invasion, lymph 
node metastasis,histology grade, limit to the uterus 
body tumors, less than ½ muscular thickness invasion 
had favourable correlation with the expression of ER. 
The proportion of positive PR was only related to the 
histological grade of tumors.
Keyword: Endometrial carcinoma, estrogen receptor 
(ER), progesterone receptor (PR).
1. Đặt vấn Đề: 
Ung thư biểu mô nội mạc tử cung (UTNMTC) là u 
biểu mô ác tính nguyên phát từ biểu mô nội mạc tử 
cung (NMTC), thường biệt hóa dạng tuyến, nó có khả 
năng xâm nhập lớp cơ và lan đến những nơi xa [1].
Theo ghi nhận của IARC năm 2002, UTNMTC là ung 
thư thường gặp đứng hàng thứ bảy ở nữ trên thế giới, 
có 199.000 trường hợp mới mắc chiếm tỷ lệ 3,9% các 
bệnh ung thư mới mắc ở nữ, 50.000 trường hợp tử 
vong chiếm tỷ lệ 1,7%. Về sinh bệnh học, UTNMTC được 
chia thành típ phụ thuộc estrogen (típ I) và típ không 
phụ thuộc estrogen (típ II). Trong những năm gần đây 
nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu cho thấy những 
bệnh nhân UTNMTC có ER và PR dương tính (ER+, PR+) 
được điều trị hỗ trợ bằng nội tiết sau phẫu thuật đáp 
ứng với lâm sàng và tỉ lệ sống thêm cao hơn có ý nghĩa 
so với những bệnh nhân âm tính với hai thụ thể này 
(1). Ở Việt Nam, những nghiên cứu về UTNMTC chủ 
yếu ở khía cạnh lâm sàng còn các nghiên cứu về giải 
phẫu bệnh học cũng như hóa mô miễn dịch (HMMD) 
chưa đề cập nhiều. Do vậy chúng tôi tiến hành đề tài: 
“nghiên cứu tỷ lệ typ mô bệnh học ung thư nội mạc 
tử cung và sự bộc lộ ER, pR” nhằm hai mục tiêu sau:
- Xác định tỷ lệ các típ mô bệnh học, độ mô học 
của ung thư biểu mô nội mạc tử cung theo phân 
loại của WhO 2003. 
- nhận xét tỷ lệ bộc lộ thụ thể ER, pR của typ 
ung thư dạng nội mạc, mối liên quan giữa tỷ lệ bộc 
lộ ER, pR với một số yếu tố mô học.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu
2.1. Đối Tượng nghiên cứu
Có 102 bệnh nhân được điều trị phẫu thuật cắt 
tử cung (TC) hoàn toàn kèm theo hai phần phụ, nạo 
vét hạch chậu (có thể có cắt 1/3 trong âm đạo và/
hoặc tổ chức mạc nối). Mẫu bệnh phẩm được chẩn 
đoán (mô bệnh học) MBH là UTNMTC từ tháng 
7/2010 đến 7/2011 tại bệnh viện Phụ sản TW và 
bệnh viện K Hà Nội. 
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
Chẩn đoán MBH là UTNMTC.
Mẫu bệnh phẩm lấy đủ các phần u ở NMTC, cổ tử 
cung, phần phụ, hạch và hoặc mạc nối.
Mô tả đầy đủ hình ảnh đại thể của u.
Bệnh nhân có hồ sơ lưu trữ đầy đủ.
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu
Không có tiêu bản hoặc khối nến.
Không mô tả hình ảnh đại thể xâm nhập u vào 
thành TC
Những bệnh nhân UTNMTC tái phát, đã điều trị.
2.2. Phương PháP nghiên cứu
- thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
- mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu 
không xác suất, loại mẫu mục đích (không bắt buộc 
tính cỡ mẫu).
- nội dung nghiên cứu
+ Nghiên cứu mô bệnh học: Bệnh phẩm sau phẫu 
thuật được mô tả đánh giá đại thể. Bao gồm TC, CTC, 
buồng trứng, vòi TC, các hạch và mạc nối lớn (nếu có). 
Tiêu bản nhuộm HE, theo quy trình thường quy tại 
khoa GPB- BV Phụ sản Trung ương. Xác định tỷ lệ các 
typ MBH theo tiêu chuẩn của TCYTTG năm 2003.
+ Đánh giá xâm nhập u: Không xâm nhập/xâm 
nhập chỉ ở lớp nội mạc/xâm nhập dưới 1/2 lớp cơ tử 
cung/xâm nhập bằng hoặc trên 1/2 lớp cơ tử cung/
xâm nhập mạch/xâm nhập CTC/xâm nhập thanh mạc 
và xâm nhập các mô kế cận khác.
+ Xác định tỷ lệ di căn hạch, di căn xa.
Bảng 3.2. Tỷ lệ mức độ xâm nhập (Xn) u trong cơ thành tử cung và di căn (DC)
Nhận xét: Khối u còn ở lớp nội mạc gặp 9 trường 
hợp, chiếm 8,8%. Nhóm u xâm nhập ít hơn 1/2 chiều 
dày lớp cơ và ≥ 1/2 chiều dày lớp cơ là 49 và 44 trường 
hợp, chiếm 48% và 43,1%. Có 72 trường hợp UTNMTC 
giới hạn ở nội mạc và lớp cơ thân tử cung (tương ứng 
giai đoạn I theo FIGO 2008), chiếm tỷ lệ cao nhất (70,6%). 
Có 10 trường hợp UTNMTC lan tràn đến CTC tương ứng 
giai đoạn II, chiếm 9,8%. UTNMTC di căn hạch chậu hoặc 
phần phụ tương ứng ở giai đoạn III có 16 trường hợp, 
chiếm 15,7%. UTNMTC di căn vào mạc nối tương ứng ở 
giai đoạn VI gặp ít nhất có 4 trường hợp chiếm 3,9%.
Bảng 3.3. Kết quả xét nghiệm Er, pr, liên quan độ mô học (n = 40)
Nhận xét: Kết quả bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ ER (+) là 
65%, PR (+) là 60%, đồng thời ER (+) và PR (+) là 55%, 
đồng thời ER (-) và PR (-) là 30%. Tỷ lệ độ 1, độ 2 và độ 3 
lần lượt là: 42,5%, 35% và 22,5%. ER, PR có tỷ lệ dương 
tính cao nhất ở u độ 1 ( 94,1%, 82,4%). Tỷ lệ dương tính 
của hai thụ thể này giảm dần ở u độ 2, thấp nhất ở độ 3. 
Sự khác biệt này có ý nghĩa với p = 0,0001 đối với ER và p 
= 0,011 đối với PR. Cả ER và PR dương tính chiếm tỷ lệ cao 
ở u độ 1 (82,4%), ở u độ 2 là (50,0%) và có tỷ lệ thấp nhất 
ở u độ 3 (4,5%). Sự khác biệt này có ý nghĩa với p = 0,002.
 Bảng 3.4. Liên quan mức độ dương tính Er, pr với độ mô học (n=40)
+ Xếp loại giai đoạn lâm sàng theo FIGO 2008.
+ Xác định độ mô học theo FIGO 2008: Độ 1(G1): 
Ít hơn 5% các tế bào u sắp xếp thành các đám đặc. Độ 
2 (G2): 6-50% các tế bào u xếp thành các đám đặc. Độ 
3 (G3): Trên 50% các tế bào u sắp xếp thành các đám 
đặc (Chú ý: Về mặt cấu trúc mô học có độ ác tính G1 
hoặc G2 nhưng nhân có độ ác tính cao thì tăng độ 
mô học lên một độ. Đám đặc không bao gồm đám 
tế bào vảy). 
+ Nghiên cứu hóa mô miễn dịch (HMMD): 40 mẫu 
bệnh phẩm mô u đã được chẩn đoán UTBMT dạng 
nội mạc được chọn để nhuộm HMMD với các dấu 
ấn ER và PR. Sử dụng kháng thể đơn dòng ER1D5 và 
PR88, kháng chuột, nồng độ pha loãng là 1/100. Kỹ 
thuật HMMD thực hiện tại Khoa Giải phẫu bệnh – 
Bệnh viện Phụ sản trung ương. Đánh giá kết quả theo 
tiêu chuẩn của Allred và nhà sản xuất Dako. Phản ứng 
dương tính khi tổng điểm >0. 
2.3. xử lý và Phân Tích số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý và phân tích theo 
chương trình phần mềm tin học SPSS 16.0.
Các biến số độc lập và phụ thuộc được phân tích 
và trình bày dưới dạng tần số, tỷ lệ %, giá trị trung 
bình, độ lệch chuẩn, giá trị thấp nhất, giá trị cao nhất 
trên các bảng đơn và biểu đồ. 
Tính mối liên quan giữa sự bộc lộ của các dấu ấn 
ER, PR với một số yếu tố mô học.
3. Kết quả nghiên Cứu
Bảng 3.1. Tỷ lệ các típ mô bệnh học uTnMTC
Nhận xét: Typ UTBM tuyến dạng nội mạc gặp 
nhiều nhất (80,4%). Các loại UTBM khác không phải 
typ dạng nội mạc gặp tỷ lệ thấp hơn: UTBM tuyến 
nhầy chiếm 1%, UTBM tuyến thanh dịch 7,8%, UTBM 
tuyến tế bào sáng 5,9%, UTBM tuyến hỗn hợp 2%, 
UTBM tế bào vảy 1% và UTBM không biệt hóa 2%. 
Không gặp typ UTBM tế bào nhỏ cũng như dạng 
chuyển tiếp.
Lê Quang Vinh, Lê Trung ThọPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
100
Típ mô học n %
uTBM tuyến dạng nM 82 80,4
Các típ khác
uTBM tuyến nhầy 1 1,0
uTBM tuyến thanh dịch 8 7,8
uTBM tuyến tế bào sáng 6 5,9
uTBM tuyến hỗn hợp 2 2,0
uTBM tế bào vảy 1 1,0
uTBM không biệt hóa 2 2,0
Tổng 102 100,0
Mức độ xâm nhập n % Tỷ lệ xâm nhập và di căn n %
nội mạc
<1/2 lớp cơ
≥ 1/2 lớp cơ
Tổng
9
49
44
102
8,8
48,0
43,1
100,0
u giới hạn ở thân TC (gđ 1)
u lan đến cổ tử cung (gđ 2)
u Xn phần phụ/Dc hạch (gđ 3)
u DC mạc nối (gđ 4)
72
10
16
4
72
10
16
4
Tổng 102 100,0
Bộc lộ Er, pr n % Bộc lộ
Er, pr
Độ mô học
p
Er (+) 26 65,0 Độ 1 (n = 17) Độ 2 (n = 14) Độ 3 (n = 9)
pr (+) 24 60,0 Er + 16 (94,1%) 9 (64,3%) 1 (11,1%) 0,0001
Er (+), pr (-) 4 10,0 pr + 14 ( 82,4%) 8 (57,1%) 2 (22,2%) 0,011
Er (-), pr (+) 2 5,0 Er+, pr+ 14 (82,4%) 7 (50,0%) 1 (4,5%) 0,002
Er (+), pr (+) 22 55,0
Er (-), pr (-) 12 30,0
Độ Mh Độ 1 Độ 2 Độ 3 p
Er
- 1 (5,9 %) 5 (35,7%) 8 (88,9%)
p = 0,001
+ 5 (29,4%) 1 (7,1%) 1 (11,1%)
++ 4 (23,5%) 6 (42,9%) 0
+++ 7 (41,2%) 2 (14,3%) 0
pr
- 3 (17,6%) 6 (42,9%) 7 (77,8%)
p = 0,045
+ 2 (11,8%) 2 (14,3%) 2 (22,2%)
++ 4 (23,5%) 3 (21,4%) 0
+++ 8 (47,1%) 3 (21,4%) 0
Nhận xét: - ER có mức độ dương tính (+++) chiếm 
tỷ lệ nhiều nhất ở u độ 1, u độ 3 phần lớn là âm tính 
(88,9%) chỉ có 11,1% dương tính (+). Vậy độ mô học 
càng cao thì mức độ dương tính của u với thụ thể ER 
càng thấp. Sự khác biệt này có ý nghĩa với p = 0,001.
- PR có mức độ dương tính (+++) chiếm tỷ lệ nhiều 
nhất ở u độ 1, u độ 3 phần lớn là âm tính (77,8%), có 
22,2% trường hợp dương tính (+). Độ mô học càng 
cao thì mức độ dương tính với thụ thể PR càng thấp 
và ngược lại. Sự khác biệt này có ý nghĩa với p = 0,045.
Bảng 3.5. Liên quan giữa Er, pr với u còn khu trú ở trong thân TC hay ngoài 
thân TC và xâm nhập (Xn) cơ tử cung (n=40)
Nhận xét: UTNMTC có ER (+) chiếm phần lớn u khu 
trú trong thân tử cung (76,9%) và chiếm 42,9% những 
u lan ra ngoài thân TC. Sự khác biệt này có ý nghĩa với 
p = 0,031. UTNMTC còn khu trú trong thân TC có 66,4% 
bộc lộ thụ thể PR lớn hơn so với những u lan ra ngoài 
thân tử cung có tỷ lệ bộc lộ là 50% (p = 0,343).
- ER dương tính ở những u xâm nhập < 1/2 chiều dày 
lớp cơ TC chiếm 76% lớn hơn tỷ lệ dương tính của ER ở 
những u xâm nhập ≥ 1/2 lớp cơ TC (56%). Sự khác biệt 
không có ý nghĩa (p = 0,191). Tỷ lệ PR dương tính ở u xâm 
nhập < 1/2 lớp cơ TC chiếm 70,6% lớn hơn tỷ lệ dương 
tính của PR ở khối u xâm nhập ≥ 1/2 lớp cơ TC (52,2%), 
tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa (p = 0,24).
Bảng 3.6. Liên quan Er, pr với xâm nhập mạch, di căn hạch chậu (n=40)
Nhận xét: - ER (+) chiếm 46,7% các u có xâm nhập 
mạch, chiếm 76% các u không xâm nhập mạch. Vậy 
ER dương tính chiếm tỷ lệ thấp ở các u có xâm nhập 
mạch và chiếm tỷ lệ cao hơn đối với các u không xâm 
nhập mạch (p = 0,06).
- PR ( +) chiếm 60% các u có xâm nhập mạch và 
60% các u không xâm nhập mạch. Không có sự khác 
biệt của tỷ lệ PR(+) của u có xâm nhập mạch và u 
không xâm nhập mạch hay đặc điểm xâm nhập mạch 
không phụ thuộc vào sự bộc lộ PR (p=1).
- ER (+) chiếm 40% các u có di căn hạch và 
66,6% các u không di căn hạch. Vậy tỷ lệ UTNMTC 
với ER dương tính có tỷ lệ di căn hạch thấp hơn so 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
101
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 98 - 103, 2013
Er+ pr+
Xn mạch
Có (n = 15) 7 (46,7%)
p = 0,06
9 (60%)
p = 1
Không (n = 25) 19 (76,0%) 15 (60%)
Dc hạch
Có (n = 5) 2 (40%)
p = 0,021
3 (60%)
p = 1
Không (n = 35) 19 (66,6%) 21 (60%)
Xâm nhập thân TC Xâm nhập cơ TC
Trong thân TC ngoài thân TC p Xn < 1/2 Xn ≥ 1/2 p
Er+ 20 (76,9%) 20 (76,9%) 0,031 Er+ 13 (76%) 13 (56%) 0,191
pr+ 17 (65,4%) 17 (65,4%) 0,343 pr+ 12 (70,6%) 12 (52,2%) 0,24
với ER âm tính ( p = 0,021).
- PR (+) chiếm 60% các u có di căn hạch và 60% 
các u không di căn hạch. Không có sự khác biệt về tỷ 
lệ PR dương tính của các u có di căn và không di căn 
hạch (p = 1).
4. Bàn luận
4.1. về mộT số Đặc Điểm mô bệnh học
- Về typ mô bệnh học: Kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi cho thấy UTBM tuyến dạng NMTC chiếm 
tỷ lệ cao nhất (80,4%) tiếp đến là typ tuyến thanh 
dịch (7,8%), tế bào sáng chiếm 5,9%. Các typ tuyến 
còn lại chỉ chiếm <2%, không gặp típ tế bào chuyển 
típ cũng như típ tế bào nhỏ. Kết quả nghiên cứu 
của chúng tôi tương tự của Chu Hoàng Hạnh (2005) 
thấy UTBM tuyến dạng NMTC 85%, tuyến thanh dịch 
3,2%, tế bào sáng 2,8%, không biệt hóa 2%, tuyến 
hỗn hợp 1,6%, tuyến nhầy 0,4%, tuyến vảy 4% [2]. 
Kết quả này cũng tương tự như kết quả của Nucci 
M R & Oliva E (2009), typ dạng nội mạc khoảng 80%, 
5% - 10% tuyến thanh dịch, 1% - 9% tuyến nhầy, 
UTBM tế bào sáng gặp từ 1% – 6%, tế bào vảy < 1%, 
típ không biệt hóa chiếm tỷ lệ từ 1 – 2%, các típ còn 
lại như típ hỗn hợp, tế bào nhỏ, tế bào chuyển tiếp 
thì tỷ lệ gặp cũng rất thấp. Kết quả của Abeler V M 
(1992) cũng cho thấy 79,3% các UTNMTC là typ dạng 
NMTC [3]; Ballester M (2010) típ thanh dịch và tế bào 
sáng là: 5/85(6%) va 5/85(6%) [4].
- Về độ mô học: Trong 102 trường hợp UTNMTC, 
độ 1 chiếm 50%, độ 2: 26,5%; độ 3: 23,5%. Kết quả của 
chúng tôi tương tự như của HachisugaT, Creasman 
WT HachisugaT, Creasman WT nhưng có sự khác biệt 
với Kasamatsu T. (bảng 4.1).
Bảng 4.1. So sánh một số tác giả khác về tỷ lệ độ mô học
- Về mức độ xâm nhập u trong thành tử cung: 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy u chưa 
xâm nhập lớp cơ có 9 ca chiếm tỷ lệ thấp nhất 8,8%, 
xâm nhập <1/2 lớp cơ có 49 ca chiếm tỷ lệ cao nhất 
48%, xâm nhập ≥ 1/2 lớp cơ có 44 ca chiếm tỷ lệ 
43,1%. Như vậy, tỷ lệ u xâm nhập ½ 
lớp cơ tương tự nhau, tỷ lệ u khu trú ở niêm mạc ít. 
So sánh với kết quả một số tác giả khác được trình 
bày bảng dưới đây.
Tác giả Độ 1 Độ 2 Độ 3
Kasamatsu T (2003) 181(64,6%) 66 (23,6%) 33 (11,8%)
hachisuga T (1999) 111 (36,6%) 115 (38%) 77(25,4%)
Creasman WT (1987) 180 (29,0%) 288 (46,4%) 153 (24,6%)
nghiên cứu của chúng tôi 51 (50%) 27 (26,5%) 24 (23,5%)
Lê Quang Vinh, Lê Trung ThọPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
102
Bảng 4.2. So sánh với một số tác giả về tỷ lệ xâm nhập u vào thành tử cung
Qua so sánh với một số nghiên cứu nước ngoài 
ở bảng 4.2 thì dễ dàng nhận thấy rằng tỷ lệ phát 
hiện u ở giai đoạn còn khu trú niêm mạc TC của 
nghiên cứu chúng tôi thấp hơn và tỷ lệ phát hiện u 
ở giai đoạn xâm nhập ≥ 1/2 lớp cơ tử cung thì cao 
hơn, điều này có thể phụ thuộc vào những lý do 
như: thời gian đến khám bệnh khi phát hiện triệu 
chứng đầu tiên, chất lượng thăm khám phát hiện 
bệnh tư vấn ban đầu của các cơ sở y tế.
- Về tỷ lệ các giai đoạn xâm nhập, lan tràn và 
di căn u: Trong nghiên cứu của chúng tôi có 72 
trường hợp u còn khu trú ở thân tử cung tương 
ứng giai đoạn I, chiếm tỷ lệ cao nhất (70,6%), giai 
đoạn II, III, IV lần lượt là 9,8%, 15,7%, 3,9%. Kết quả 
của chúng tôi tương tự như của Chu Hoàng Hạnh 
(2005) [2]. Tỷ lệ giai đoạn I, II của chúng tôi thấp 
hơn của Bassarak N (2010).
- Về mức độ xâm nhập u trong cơ thành tử 
cung và di căn: Kết quả nghiên cứu cho thấy có 62 
(75,5%) bệnh nhân ung thư dạng NMTC còn khu 
trú ở thân TC, chiếm 86,1% trong giai đoạn u còn 
khu trú ở thân TC; 20 (24,4%) u xâm lấn hoặc di 
căn ra ngoài thân tử cung. U không thuộc typ dạng 
NMTC có tỷ lệ xâm lấn hoặc di căn ra ngoài thân TC 
50%. Kết quả này tương tự như kết quả nghiên cứu 
của Chu Hoàng Hạnh: ung thư dạng NMTC có 77% 
khu trú thân tử cung, ung thư không thuộc dạng 
NMTC có 48,6 % xâm lấn ra ngoài thân tử cung [2]. 
Kết quả của chúng tôi có sự khác biệt chút ít so với 
tác giả Mandic A (2004) nghiên cứu 75 trường hợp 
ung thư dạng NMTC có 50 (66%) u khu trú trong 
thân TC, 25 (34%) u ra ngoài thân tử cung [5].
4.2. về sự bộc lộ er, Pr và mối liên quan với 
mộT số yếu Tố mô học
- Về sự bộc lộ ER, PR: Nội mạc tử cung là một trong 
những cơ quan đích chịu tác động của hormone 
hướng sinh dục estrogen và progesterone thông 
quan thụ thể ER và PR. Bằng việc phát hiện sự bộc 
lộ thụ thể ER, PR trên tế bào ung thư, người ta có 
thể biết được UTNMTC có phụ thuộc hay không 
Tác giả u ở niêm mạc < ½ lớp cơ ≥ ½ lớp cơ
Chu hoàng hạnh (2005) 18 (8,5%) 84 (40,4%) 111 (52,1%)
Bassarak n (2010) 34 (15,9%) 56 (51,9%) 69 (32,2%)
Worasethsin p (2001) 40 (25.6%) 63 (40.4%) 53 (34.0%)
Tang X (1989) 200 (62,7%) 119 (37,3%)
nghiên cứu của chúng tôi 9 (8,8%) 49 (48.0%) 44 (43,1%)
phụ thuộc hormone, những trường hợp bộc lộ với 
ER, PR được xem xét sử dụng liệu pháp nội tiết. Kết 
quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ ER (+) 
là 65%, PR (+) là 60%, ER và PR đồng thời dương 
tính là 55%, ER và PR cùng đồng thời âm tính là 
30%. Kết quả của chúng tôi thấp hơn của Gehring 
P.A (khi nhuộm HMMD 55 trường hợp, tỷ lệ bộc lộ 
ER (+) là 87,3%, PR (+) là 76,4%, tỷ lệ dương tính cả 
ER và PR là 76,4% và tỷ lệ âm tính cả hai là 21,8% 
[4]và của Gul A.E và CS (2010) nhuộm hóa mô 
miễn dịch 72 trường hợp cho thấy tỷ lệ bộc lộ ER là 
84,1%, PR là 81,9% [6].
- Về liên quan ER, PR với độ mô học: Nghiên cứu 
của chúng tôi thấy tỷ lệ ER (+), PR(+) ở những u có 
độ mô học 1 là 94.1% và 82.4% cao hơn độ 2 (64.3% 
và 57.1%) và độ 3 (11.1% và 22.2%). Sự khác biệt 
này là có ý nghĩa. Kết quả này cũng tương tự với 
nghiên cứu của Kleine: Tỷ lệ cả ER và PR dương tính 
ở u biệt hóa cao chiếm phần lớn (85%), ngược lại 
chỉ có 13% của những u có độ biệt hóa thấp dương 
tính với hai thụ thể này [7]. Kết quả nghiên cứu 
của Chu Hoàng Hạnh thấy tỷ lệ ER, PR dương tính 
ở u độ 1 (54.9% và 76.5%), độ 2 (37% và 29,6%), 
độ 3 (0% và 9,1%) có sự khác biệt với p = 0.07 và 
p < 0.00001 [8). Nghiên cứu của Nicholson và CS 
(2006): tỷ lệ ER, PR dương tính ở u ung thư dạng 
NMTC độ 1 và độ 2 ( 84% và 83%), u độ 3 (50% và 
42%) [8). Các nghiên cứu trên có đặc điểm chung 
là tỷ lệ bộc lộ ER, PR cao ở những u có độ biệt hóa 
cao và ngược lại những u có độ biệt hóa kém thì tỷ 
lệ bộc lộ ER, PR thấp hơn. 
- Về liên quan ER, PR với xâm nhập cơ: Kết quả 
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ER và PR dương tính ở 
những u có xâm nhập <1/2 chiều dày lớp cơ là76% 
và 70,6%, lớn hơn so với những u xâm nhập ≥1/2 
chiều dày lớp cơ (56% và 52,2%), không thấy có 
liên quan giữa bộc lộ ER, PR với xâm nhập cơ. Kết 
quả nghiên cứu của Chu Hoàng Hạnh lại cho thấy 
sự liên quan giữa ER (+) và PR (+) với mức độ xâm 
nhập cơ của u (p = 0,003 và 0,0015) [2]. Kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu 
Klein [7]. Khi nghiên cứu 309 trường hợp UTNMTC 
thấy tỷ lệ bộc lộ ER, PR liên quan đến độ mô học 
nhưng không liên quan đến xâm nhập cơ. 
- Về mối liên quan tỷ lệ bộc lộ ER, PR với xâm 
nhập mạch, di căn hạch: ER dương tính ở những 
u có xâm nhập mạch cao hơn những u không xâm 
nhập mạch (76,0% so với 46,7%). Tỷ lệ PR dương 
tính ở những u có xâm nhập mạch và không xâm 
nhập mạch là không khác nhau. Trong nhóm 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
103
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 98 - 103, 2013
nghiên cứu của chúng tôi có 5 trường hợp di căn 
hạch, trong đó có 2 trường hợp dương tính với 
ER chiếm 40% thấp hơn tỷ lệ ER dương tính trong 
nhóm không di căn hạch (66,6%), p= 0,21. Tỷ lệ PR 
dương tính không có sự khác nhau giữa nhóm có 
di căn và nhóm không di căn hạch.
- Về liên quan của ER, PR với giai đoạn u còn 
khú trú trong thân TC hay ra ngoài thân TC: Kết 
quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những u 
UTNMTC còn khu trú trong thân TC dương tính với 
ER là 76,9% và có 42,9% trường hợp u lan ra ngoài 
thân tử cung hoặc di căn dương tính với ER. Kết 
quả nghiên cứu của Chu Hoàng Hạnh [2) thấy ER 
dương tính của u còn khu trú trong thân TC và ra 
ngoài thân TC lần lượt là 56.3% và 8% [1]. Kết quả 
nghiên cứu của Gul A.E: có 23/ 28 (82.14%) ca ở 
giai đoạn I dương tính với ER, chỉ có 1 ca ở giai 
đoạn II và tất cả 5 ca ở giai đoạn III dương tính 
với ER, tác giả kết luận không có ý nghĩa thống kê 
về sự liên quan bộc lộ ER và giai đoạn của u (p = 
0.543) [5]. Xét mối liên quan PR với giai đoạn bệnh 
theo nghiên cứu của chúng tôi có 65,4% u còn khu 
trú trong thân TC có PR dương tính, 50% các u lan 
ra ngoài thân TC có PR dương tính. U ở giai đoạn 
sớm có tỷ lệ PR (+) cao hơn những u ở giai đoạn 
muộn tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa 
(p= 0.343). Kết quả nghiên cứu của Gul [6] cho thấy 
có 23 trong 28 ca ở giai đoạn I dương tính với PR 
chiếm tỷ lệ 85,2%, có 1 ca ở giai đoạn II và 3/5 ca 
ở giai đoạn III dương tính PR, không thấy sự liên 
quan có ý nghĩa về tỷ lệ dương tính của PR với giai 
đoạn u (p = 0.085).
5. Kết luận:
Nghiên cứu 102 trường hợp UTNMTC và sự bộc 
lộ dấu ấn của 40 trường hợp UTNMTC dạng nội 
mạc, tìm mối liên quan giữa sự bộc lộ ER, PR với 
một số yếu tố mô học, chúng tôi có kết luận: 
- Tỷ lệ các typ UTBMT dạng nội mạc chiếm tỷ 
lệ cao (80,4%), các typ không phải dạng nội mạc 
chiếm tỷ lệ thấp, không gặp typ UTBM tế bào nhỏ 
và dạng chuyển tiếp.
- Tỷ lệ bộc lộ các dấu ấn: ER (+) là 65%, PR (+) là 
60%, đồng thời ER (+) và PR (+) là 55%, đồng thời 
ER (-) và PR (-) là 30%. Tỷ lệ xâm nhập mạch, di căn 
hạch, độ mô học, u khu trú ở thân tử cung, xâm 
nhập < ½ lớp cơ có liên quan thuận với sự bộc lộ 
ER. Tỷ lệ PR dương tính chỉ liên quan đến độ mô 
học của u.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. World Health Organization classification of 
tumour , Pathology and Genetics of tumours of the 
Breast and Female Genital Organs, 2003; 221-230.
2. Chu Hoàng Hạnh, Nhận xét đặc điểm lâm sàng, 
mô bệnh học và hóa mô miễn dịch của ung thư biểu 
mô nội mạc tử cung tại bệnh viện K, Luận văn Thạc Sỹ 
Y học, Trường Đại học Y Hà Nội; 2005. 
3. Abeler V. M., Kjorstad K. E. & Berle E., Carcinoma 
of the endometrium in Norway: a histopathological 
and prognostic survey of a total population, Int J 
Gynecol Cancer, 1992, 2(1), 9-22.
4. Ballester M., Koskas M., Coutant C., Chereau 
E., Seror J., Rouzier R. & Darai E., Does the use 
of the 2009 FIGO classification of endometrial cancer 
impact on indications of the sentinel node biopsy?, 
BMC Cancer, 2010; 104-5. 
5. Mandic A (2004), Endometrial cancer: Importance 
of tumor infiltrating lymphocytes as a prognostic 
factor, Arch Oncol, 2004; 12(4), 215-6.
6. Gul A. E., Keser S. H., Barisik N. O., Kandemir 
N. O., Cakir C., Sensu S. & Karadayi N., The 
relationship of cerb B 2 expression with estrogen 
receptor and progesterone receptor and prognostic 
parameters in endometrial carcinomas, Diagn 
Pathol, 2010; 513.
7. Kleine W., Maier T., Geyer H. & Pfleiderer A., 
Estrogen and progesterone receptors in endometrial 
cancer and their prognostic relevance, Gynecol 
Oncol, 1990; 38(1), 59-65.
8. Nicholson M.R & al, Immunophenotypic diversity 
of endometrial adenocarcinomas: implications for 
differential diagnosis, Modern Pathology, 2006; 
191091–1100.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ty_le_typ_mo_benh_hoc_ung_thu_noi_mac_tu_cung_va.pdf