Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm human papilloma virus và các yếu tố liên quan của phụ nữ từ 18 đến 69 tuổi tại thành phố Cần Thơ

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ trong độ tuổi từ 18-69 tại Thành phố Cần Thơ và các yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: mô tả cắt ngang được thực hiện trên 1.442 phụ nữ có chồng từ 18- 69 tuổi, thành phố Cần Thơ. Các đối tượng tham gia nghiên cứu được khám phụ khoa, xét nghiệm định tính và định týp HPV bằng kỹ thuật realtime PCR, thu thập các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về dân số xã hội học, tiền sử bệnh tật và sản khoa của vợ, tiền sử bệnh tật của chồng, các yếu tố liên quan đến nhiễm HPV. Số liệu thu thập được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS. Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ Thành phố Cần Thơ là 5,2% với 100% trường hợp nhiễm type nguy cơ cao, trong đó, type HPV 52 chiếm tỷ lệ cao nhất (23,6%), kế đó là type 16 và type 51 là 15,73%, type 39 (8,99%); type 56 (7,87%), type 58, 31 là 6,74%; các type khác có tỷ lệ nhiễm không cao. Tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất trong nhóm tuổi 39-48 (29,33%), nhóm tuổi 49- 58 (28%), nhóm tuổi 29- 38 tuổi là 20%. Các yếu tố nguy cơ như lứa tuổi, tuổi giao hợp lần đầu, tình trạng sử dung bao cao su không liên quan đến nhiễm HPV. Kết luận: tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ Thành phố Cần Thơ là 5,2%, sự phân bố tỷ lệ nhiễm các type HPV tương tự các nơi khác ở trong nước và trên thế giới

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm human papilloma virus và các yếu tố liên quan của phụ nữ từ 18 đến 69 tuổi tại thành phố Cần Thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm human papilloma virus và các yếu tố liên quan của phụ nữ từ 18 đến 69 tuổi tại thành phố Cần Thơ

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm human papilloma virus và các yếu tố liên quan của phụ nữ từ 18 đến 69 tuổi tại thành phố Cần Thơ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
83
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 83 - 88, 2013 PHỤ KHOA & KHHGĐ
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM HUMAN PAPILLOMA VIRUS 
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA PHỤ NỮ
TỪ 18 ĐẾN 69 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Lâm Đức Tâm(1), Trần ngọc Dung(2), nguyễn Vũ Quốc huy(3) 
(1) Trường Đại học Y Dược Huế, (2) Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, (3) Trường Đại học Y Dược Huế
tóm tắt
mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ trong 
độ tuổi từ 18-69 tại Thành phố Cần Thơ và các yếu tố liên 
quan. Đối tượng và phương pháp: mô tả cắt ngang 
được thực hiện trên 1.442 phụ nữ có chồng từ 18- 69 tuổi, 
thành phố Cần Thơ. Các đối tượng tham gia nghiên cứu 
được khám phụ khoa, xét nghiệm định tính và định týp 
HPV bằng kỹ thuật realtime PCR, thu thập các đặc điểm 
của đối tượng nghiên cứu về dân số xã hội học, tiền sử 
bệnh tật và sản khoa của vợ, tiền sử bệnh tật của chồng, 
các yếu tố liên quan đến nhiễm HPV. Số liệu thu thập 
được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS. Kết quả: Tỷ 
lệ nhiễm HPV ở phụ nữ Thành phố Cần Thơ là 5,2% với 
100% trường hợp nhiễm type nguy cơ cao, trong đó, 
type HPV 52 chiếm tỷ lệ cao nhất (23,6%), kế đó là type 
16 và type 51 là 15,73%, type 39 (8,99%); type 56 (7,87%), 
type 58, 31 là 6,74%; các type khác có tỷ lệ nhiễm không 
cao. Tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất trong nhóm tuổi 39-48 
(29,33%), nhóm tuổi 49- 58 (28%), nhóm tuổi 29- 38 tuổi 
là 20%. Các yếu tố nguy cơ như lứa tuổi, tuổi giao hợp lần 
đầu, tình trạng sử dung bao cao su không liên quan đến 
nhiễm HPV. Kết luận: tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ Thành 
phố Cần Thơ là 5,2%, sự phân bố tỷ lệ nhiễm các type HPV 
tương tự các nơi khác ở trong nước và trên thế giới.
từ khóa: HPV, ung thư cổ tử cung, type HPV.
ABStRACt
Prevalence oF human PaPillomavirus 
inFecTion and relaTed FacTors on 18-69 ages-
grouP Women in can Tho ciTy
Objectives: To study the prevalence of HPV infection 
by real-time Polymerase chain reaction (real-time PCR) 
technique and the risk of related factors on women. 
materials and methods: A cross-sectional study 
was conducted on 1442 married women from 18 to 69 
years old living in Cantho city. All subjects have taken 
an pelvic examination to get clinical findings, a sample 
for examining HPV infection by real-time PCR technique 
and were collected through the questionnaire about the 
characteristic of social, medical history of spouse with 
facts related to HPV infection. Results: The prevalence 
of HPV infection on 18-69 ages group married women 
living in Cantho city was 5.2%. 100% HPV positive 
cases have been infected by the high risk HPV type, in 
these, HPV types of 52 was highest (23.6%), the second 
were type 16 and 51 (15.73%), type 39 (8.99%); type 56 
(7.87%), type 58, 31 (6.74%), orther types were lower. 
The highest prevalence of HPV infection was in the 39-
48 age group (29.33%), 28% in the 49- 58 age group, 
and 20% in the 29- 38 age group. The risk factors like 
ages group, age of the first intercourse, using condom 
infrequently noy related to infected HPV. Conclusion: 
The prevalence of HPV infection detected by realtime 
PCR on 18-69 ages group married women in Cantho 
city was 5.2% and there is similar about the HPV types 
in Cantho city and in an other regions.
Đặt vấn Đề
Ung thư cổ tử cung (CTC) là đứng hàng thứ hai 
sau ung thư vú trong các loại ung thư thường gặp 
ở phụ nữ trên thế giới. Đây là bệnh có tỷ lệ tử vong 
cao đặc biệt là ở Việt Nam, nên cần có sự quan tâm 
của ngành y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe 
sinh sản của phụ nữ. Hằng năm, có khoảng 500.000 
trường hợp ung thư CTC mới mắc trên toàn thế giới, 
trong đó 90% trường hợp xuất hiện các nước đang 
phát triển và có 270.000 bệnh nhân sẽ tử vong(15). 
Việt Nam, ung thư cổ tử cung chiếm tỉ lệ cao trong 
các loại ung thư sinh dục thường gặp nhất với tỷ lệ 
ung thư cổ tử cung ở phụ nữ TP HCM là 28,6%, ở Hà 
Nội là 7,7 % xếp vị trí thứ ba. Tuy nhiên, đây là bệnh 
có thể phòng ngừa nếu được tầm soát phát hiện 
sớm và điều trị kịp thời, vì tiến triển tự nhiên của 
LÂM ĐỨC TÂM, Trần ngọC Dung, nguyễn Vũ QuốC huyPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
84
ung thư biểu mô CTC là qua giai đoạn tổn thương 
tiền xâm lấn, sau nhiều năm có sự tồn tại của các yếu 
tố nguy cơ trong đó nhiễm HPV giữ vai trò chính.
Thời gian trước đây, HPV được xem như là 1 
trong những tác nhân gây biến đổi tế bào cổ tử 
cung (dị sản CTC), là tiền đề của ung thư cổ tử cung, 
nhưng hiện nay, HPV được xác định là nguyên nhân 
gây ra ung thư cổ tử cung vì ADN của virus đã được 
tìm thấy trong hầu hết các mẫu mô ung thư (1) 
Các nghiên cứu bệnh chứng cho thấy 99,7%-100% 
các trường hợp ung thư cổ tử cung có xét nghiệm 
ADN virus HPV dương tính so với 5%- 12% ở nhóm 
chứng (1,2). Bên cạnh đó, tình trạng nhiễm kéo dài 
các type HPV sẽ phát triển thành tổn thương trong 
biểu mô CTC. Khả năng diễn tiến đến ung thư cổ 
tử cung gấp 250 lần ở trường hợp nhiễm HPV kéo 
dài so với người không bị nhiễm(8). Các type gây 
ung thư thường gặp là các type 16,18, 31,33 (2,8). 
Vai trò của HPV gây ung thư cổ tử cung đã được 
ghi nhận trong nghiên cứu phân tích tổng hợp từ 
78 nghiên cứu khác, ước tính tỷ lệ nhiễm HPV 
hiệu chỉnh chung trên toàn thế giới khoảng 10% 
(khoảng tin cậy 95% 10,2- 10,7). Khi ước tính riêng 
cho từng vùng, Châu Phi hiện có tỷ lệ mắc bệnh 
khoảng 22%, Trung Mỹ 20,4%, Bắc Mỹ 11,3%, Châu 
Âu 8,1% và Châu Á 8% và type thường gặp nhất là 
16, 18 (4). Tỷ lệ nhiễm HPV và sự phân bố các type 
nguy cơ rất khác nhau tuỳ vào vùng địa lý và dân số 
nghiên cứu (8). Các yếu tố góp phần diễn tiến đến 
ung thư cổ tử cung của HPV được ghi nhận là quan 
hệ tình dục sớm, sanh đẻ nhiều, dùng thuốc ngừa 
thai lâu dài (vai trò estrogen), nhiễm các bệnh lây 
truyền qua đường tình dục, quan hệ tình dục với 
nhiều bạn tình (4). Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống 
nhất giữa các nhà nghiên cứu trên thế giới về vai 
trò thực sự của các yếu tố nguy cơ này.
Tại Việt Nam, nghiên cứu về dịch tễ học của HPV 
như Nguyễn Trọng Hiếu năm 2002, phát hiện HPV 
bằng xét nghiệm DNA-HPV bằng kỹ thuật PCR ở phụ 
nữ bình thường, cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV TPHCM 
là 10,9% và Hà Nội là 2% (6). Phạm Việt Thanh khảo 
sát ở 408 trường hợp có kết quả phết tế bào CTC 
là HSIL và ung thư CTC cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV là 
93,14%, nhiễm HPV type nguy cơ cao là 95% (13). 
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Phượng xác định tỷ 
lệ nhiễm HPV phát hiện qua phết tế bào CTC ở 300 
phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Nhân Dân 
Gia Định là 10,3% và khi có kết quả Pap’s bất thường 
thì tỷ lệ nhiễm là 86,1%; yếu tố nguy cơ được ghi 
nhận là tiền căn viêm âm đạo (5). Nghiên cứu của Vũ 
Thị Nhung xác định tỷ lệ nhiễm HPV phát hiện bằng 
phương pháp PCR là 12%, trong đó 77,78% nhiễm 
type HPV nguy cơ cao và 66,67% các tổn thương tiền 
ung thư dương tính với HPV (8). Tuy nhiên, các yếu 
tố liên quan với nhiễm các týp HPV trong diễn tiến 
thành ung thư cổ tử cung chưa được khảo sát và 
đánh giá thỏa đáng. Nghiên cứu của Trần Thị Lợi ghi 
nhận tỷ lệ nhiễm HPV ở cộng đồng phụ nữ TPHCM là 
10,84% (11). Trương Quang Vinh cũng ghi nhận các 
trường hợp có tổn thương tiền ung thư và ung thư 
cổ tử cung có tỷ lệ nhiễm HPV là 55,4%, trong đó, 
type 16 chiếm 39,9% (14), trong khi đó, tại Cần Thơ, 
chúng tôi chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. 
Từ đó, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu với 
mục tiêu xác định tỷ lệ nhiễm HPV và các yếu tố liên 
quan ở phụ nữ trong độ tuổi 18- 69 tuổi tại Thành 
phố Cần Thơ.
Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu 
thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Đối tượng nghiên cứu: 1442 phụ nữ trong độ 
tuổi từ 18 đến 69 đang cư trú tại các quận thuộc 
Thành phố Cần Thơ, có quan hệ tình dục và đồng ý 
tham gia nghiên cứu sau khi được cung cấp thông 
tin. Tiêu chuẩn loại trừ: các phụ nữ có bệnh tâm 
thần, phụ nữ được cắt tử cung toàn phần, đang 
mang thai hoặc đang trong giai đoạn hậu sản và/ 
hoặc không đủ điều kiện lấy bệnh phẩm như đang 
ra máu âm đạo, đang đặt thuốc âm đạo trong thời 
gian khoảng 24 giờ trước đó, hoặc đang viêm cấp 
âm đạo CTC. Cỡ mẫu được tính theo công thức cho 
nghiên cứu mô tả là ước lượng tỷ lệ, với p= 10%, 
d=0,02 nên tính được cỡ mẫu là 865 trường hợp. Để 
tránh sai số trong việc chọn mẫu, chúng tôi chọn 
hiệu lực thiết kế là 1,5 lần nên chúng tôi chọn cỡ 
mẫu là 1300 đối tượng.
tiến hành nghiên cứu: chúng tôi triển khai 
nghiên cứu tại 20 cụm quần thể rải đều các quận 
huyện thuộc Thành phố Cần Thơ với phương pháp 
chọn mẫu cụm nghiên cứu theo tỷ lệ dân số cộng 
dồn: phương pháp PPS (Probability Proportional to 
Size). Các đối tượng được giải thích về ý nghĩa của 
nghiên cứu và đồng ý tham gia sẽ được phỏng vấn 
các đặc điểm dân số xã hội học, tiền sử sản khoa của 
vợ, tiền sử bệnh tật của vợ và chồng, các yếu tố liên 
quan đến nhiễm HPV, khám phụ khoa, phết tế bào 
cổ tử cung; phết dịch cổ tử cung làm tách chiết DNA, 
thực hiện realtime PCR-HPV-DNA để phát hiện mẫu 
dương tính; chọn mẫu dương tính này để định type 
Bảng 2. phân bố các type hpV ở các đối tượng nhiễm hpV
Trong 75 phụ nữ nhiễm HPV, có 89 type HPV được 
phân lập, chiếm 6,17%, trong đó tỷ lệ type HPV 52 là 
23,6%, type 16, 51 là 15,73%, type 39 (8,99%); type 56 
(7,87); 6,74% là nhiễm type 31, 56.
Bảng 3. phân bố số type hpV bị nhiễm
Trong 75 trường hợp nhiễm HPV có nhiễm đơn type 
là 82,67%; nhiễm 2 type 16%, 1 trường hợp nhiễm 3 type 
chiếm 1,33% trong tổng số trường hợp dương tính.
liên quan giữa Tuổi với Tình Trạng nhiễm hPv 
Bảng 4. Liên quan giữa tuổi với tình trạng nhiễm hpV
Tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất ở nhóm tuổi 39- 48 là 
33,43%, kế đó là nhóm tuổi 29-38 tuổi là 26,63%, 
nhóm 49- 58 tuổi (23,72%). Sự khác biệt không ý 
nghĩa thống kê p=0,055.
liên quan giữa Tuổi giao hợP lần Đầu với Tình 
Trạng nhiễm hPv
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
85
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 83 - 88, 2013
HPV bằng kỹ thuật realtime PCR.. Số liệu được nhập 
và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0.
Kết quả nghiên Cứu
Qua thời gian thu thập số liệu tại các quận Ninh 
Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt và các 
huyện Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Cờ Đỏ và Phong Điền 
thuộc Thành phố Cần Thơ trên 1.442 đối tượng, 
chúng tôi ghi nhận được kết quả sau
Bảng 1. phân bố các đặc điểm xã hội học của đối tượng
Độ tuổi trung bình của phụ nữ nghiên cứu là 
42,58±10,25 tuổi, trong đó 33,43% từ 39- 48; 23,72% 
ở độ tuổi 49- 58 tuổi; 26,63% ở độ tuổi là 29- 38 tuổi. 
Đa số phụ nữ có trình độ tiểu học, trung học cơ sở; 
nghề nghiệp nội trợ, buôn bán, làm nông. 91,61% 
phụ nữ còn sống với chồng, 64,7% phụ nữ có chồng 
hút thuốc lá. 10,4% có quan hệ lần đầu trước 19 tuổi.
Tỷ lệ nhiễm hPv
Có 75 phụ nữ bị nhiễm HPV, tỷ lệ HPV dương tính 
là 5,2% (75/1442). 
Đặc điểm Tần số (n=1442) Tỷ lệ (%)
Tuổi
Trung bình
42,58±10,25
(18- 67 tuổi)
<29
29- <39
39- <49
49- <59
≥59
142
384
482
342
92
9,85
26,63
33,43
23,72
6,38
nghề nghiệp
nội trợ
Buôn bán
Làm ruộng- vườn
Công nhân
Tri thức
Khác 
408
319
344
49
161
161
28,29
22,12
23,85
3,40
11,17
11,17
Trình độ học vấn
Mù chữ
Tiểu học
ThCS
ThpT
Đại học Sau đại học
92
479
490
276
105
6,38
33,22
33,98
19,14
7,28
Tình trạng
hôn nhân
Có sống cùng chồng
góa
Ly dị
Độc thân
1321
64
53
4
34,19
0,49
0,62
64,70
hút thuốc lá
Không hút
Cả 2 vợ chồng hút
Vợ hút
Chồng hút
493
7
9
933
34,19
0,49
0,62
64,70
Tuổi quan hệ tình 
dục lần đầu
Quan hệ sớm 
Quan hệ không sớm
150
1192
10,40
89,60
Loại type hpV Tần suất Tỷ lệ hpV/tổngphụ nữ Tỷ lệ hpV/số dương tính
16 14 0,97 15,73
18 4 0,28 4,49
31 6 0,41 6,74
33 2 0,14 2,25
35 4 0,28 4,49
39 8 0,56 8,99
45 2 0,14 2,25
51 14 0,97 15,73
52 21 1,46 23,60
56 7 0,49 7,87
58 6 0,42 6,74
59 1 0,07 1,12
Tổng 89 6,17 100
Số type hpV bị nhiễm Tần suất Tỷ lệ hpV/tổngphụ nữ Tỷ lệ hpV/ số dương tính
Đơn type 62 4,3 82,67
hai type 12 0,83 16,00
Ba type 1 0,07 1,33
Tổng cộng 75 5,2 100
Tuổi 18- 28 (n,%) 29- 38 (n,%) 39- 48 (n,%) 49- 58 (n,%) ≥ 59 (n,%)
Dương tính 14 (18,67) 15 (20) 22 (29,33) 21 (28) 3 (4)
Âm tính 128 (9,36) 369 (26,99) 460 (33,65) 321 (23,48) 89 (6,51)
Tổng 142 (9,85) 384 (26,63) 482 (33,43) 342 (23,72) 92 (6,38)
p pearson chi2(4)= 9,2653; pr= 0,055
18: 36,11% và type 58: 11,31%(11). Kết quả của Nguyễn 
Vũ Quốc Huy, type HPV chủ yếu là type 16, 18, 58 (7). Tỷ lệ 
các type nguy cơ cao phù hợp nghiên cứu Munoz (2004) là 
nhiễm type 16, 18, 58 (4). Nhưng kết quả của chúng tôi ghi 
nhận type 52 khá cao. Đây là type nguy cơ cao và phù hợp 
với nghiên cứu của Võ Văn Kha ghi nhận type HPV ở bệnh 
nhân ung thư CTC tại Bệnh viện Ung Bướu Cần Thơ cho 
thấy tỷ lệ nhiễm HPV type 16, 18, 52 có tỷ lệ cao nhất (10).
So sánh tỷ lệ nhiễm các type HPV nguy cơ cao qua các nghiên cứu
Nghiên cứu Vũ Thị Nhung(9)ghi nhận 3 type HPV hay 
gặp nhất trong cộng đồng là 18, 58,16 và Nguyễn Trọng 
Hiếu là 16,58,18(6). Trần Thị Lợi là type 16,18,58(11). Lâm 
Đức Tâm khảo sát tại Quận Ninh Kiều, Cần Thơ là type 52, 
16 và 18. Khảo sát các quận- huyện của Thành phố Cần 
Thơ ghi nhận được type 52, 16, 51 chiếm tỷ lệ cao. Sự khác 
biệt này có thể lý giải do khác nhau về thời điểm nghiên 
cứu, lấy mẫu, cách chọn mẫu. Tương tự, sự khác biệt về sự 
phân bố kiểu genotypes của HPV của vùng địa dư khác 
nhau trên thế giới cúng khác nhau như nghiên cứu tỷ lệ 
HPV ở 13 vùng trên 11 quốc gia trên thế giới có 15.613 
phụ nữ từ 15- 60 tuổi được đưa vào tầm soát HPV bằng 
kỹ thuật khuyết đại chuỗi di truyền PCR(1) ở phụ nữ có 
phết tế bào CTC bình thường, type HPV 16 ở Châu Âu cao 
hơn nhiều so với Châu Phi với OR=2,6. Dù rằng có khác 
nhau về sự phân bố các type ở các vùng địa lý khác nhau 
nhưng nhiễm HPV thường gặp thì type 16. Sự xuất hiện 
type 58 trong 3 type hay gặp nhất tại Thành phố Hồ Chí 
Minh cho thấy type 58 có phải là đặc trưng của sự phân 
bố tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tương tự, tại Cần Thơ qua 3 
nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận type 52 là type được phát 
hiện khác với các vùng dân cư tại Việt Nam.
Tuổi và mối liên quan với nhiễm hPv
Tuổi trung bình của đối tượng trong mẫu nghiên 
cứu là 42,58±10,25, trẻ nhất là 18 tuổi và lớn nhất là 67 
tuổi. Đa số tập trung ở nhóm tuổi từ 39- 48 tuổi (chiếm 
33,43%), 23,723% là 49- 58 và có 26,63% trường hợp 
trong độ tuổi 29- 38 tuổi; độ tuổi 18- 28 tuổi chiếm 
9,85%. Kết quả này tương đối phù hợp với nghiên cứu 
của Trần Thị Lợi: 30- 49 tuổi chiếm 65%, nhóm tuổi từ 
LÂM ĐỨC TÂM, Trần ngọC Dung, nguyễn Vũ QuốC huyPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
86
Bảng 5. Liên quan giữa tuổi giao hợp lần đầu với tình trạng nhiễm hpV
Có 75 phụ nữ giao hợp lần đầu sớm, trước 19 tuổi 
(trung bình là 23,02±4,31 tuổi, nhỏ nhất là 15 tuổi và 
cao nhất là 44 tuổi), nhưng sự khác biệt này không có 
ý nghĩa thống kê.
liên quan giữa sử dụng bao cao su với Tình Trạng 
nhiễm hPv
Bảng 6. Liên quan giữa sử dụng bao cao su với tình trạng nhiễm hpV
Trong 329 phụ nữ có sử dụng bao cao su, chỉ có 16 
(chiếm 4,86%) trường hợp bị nhiễm HPV so với người 
không sử dụng bị nhiễm (95,8%); sự khác biệt này 
không có ý nghĩa thống kê p>0,05.
Bàn luận
Với 1442 phụ nữ từ 18- 67 tuổi được nhận vào 
nghiên cứu, chúng tôi ghi nhân 5,2% (75/1442) người 
bị nhiễm HPV, tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu Trần Thị 
Lợi (10,84%) (11), Nguyễn Trọng Hiếu (10,9%) (6), Vũ Thị 
Nhung (p=12%)(9) tại TP Hồ chí Minh. Tại Thừa Thiên Huế, 
Nguyễn Vũ Quốc Huy ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là 0,9% 
(7); tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi. Trên 
thế giới, theo phân tích tổng hợp của De Sanjoes (2007) 
tỷ lệ nhiễm HPV trong cộng đồng là khoảng 10%(1). Do 
đó, kết quả này thấp kết quả trên thế giới. Chúng tôi ghi 
nhận 100% trường hợp nhiễm là nhiễm type nguy cơ cao, 
không ghi nhận trường hợp nào nhiễm type HPV nguy 
cơ thấp, kết quả này cao hơn kết quả của Trần Thị Lợi là 
83,93% (11)và Vũ Thị Nhung 77,78% (9).
Có 89 type HPV được phân lập trong 75 phụ nữ bị 
nhiễm, có 23,6% nhiễm type 52, kế đến là type 16 và 51 
là 14,9%, type 39 (8,99%); 7,87% type 56; 6,74% là 31 và 
58, các type còn lại có tỷ lệ thấp. Như vậy, type 52 là type 
thường gặp trong cộng đồng phụ nữ Thành phố Cần 
Thơ. Theo Trần Thị Lợi, tại Thành phố Hồ Chí Minh, type 
16 chiếm tỷ lệ cao nhất: 55,95% (94/168), kế đến là type 
Tuổi giao hợp lần đầu Quan hệ sớm Quan hệ không sớm
Dương tính 9 (12) 141 (10,31)
Âm tính 66 (88) 1226 (89,69)
Tổng 75 1367
p pearson chi2(4)= 9,2653; pr= 0,055
Bao cao su Có (n,%) Không (n,%) Tổng
Dương tính 7 (9,33) 68 (90,67) 75
Âm tính 178 (13,02) 1189 (86,98) 1367
Tổng 185 (12,83) 1257 (87,17) 1442
p pearson chi2(1) = 0,865 pr = 0,352
Tác giả
Các type hpV được phát hiện
16 (%) 18 (%) 51 (%) 52(%) 58 (%) 6 (%) 11 (%)
Vũ Thị nhung (2006)(9) 13,34 52,23 22,23 5
Trần Thị Lợi (2010)(11) 55,95 36,11 11,31 3,57 4,76
Võ Văn Kha (2012)(10) 56,7 22,3 6,7 6,7
Munoz (2004)(4) 53,5 7,2 2,2
Lâm Đức Tâm (2012)(12) 14,9 10,6 8,51 25,5 6,4 0 0
Lâm Đức Tâm 15,73 4,49 15,73 23,6 6,74 0 0
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
87
Tạp Chí phụ Sản - 11(2),83 - 88, 2013
18-29 chiếm tỷ lệ thấp 9,03%(11).
Trong 75 phụ nữ có kết quả dương tính và định được 
type, có 14 đối tượng thuộc nhóm tuổi 18- 28, 15 phụ 
nữ trong độ tuổi 29- 38, nhóm từ 39- 48 tuổi có 22 người 
và có 21 phụ nữ có tuổi từ 49- 58, có 3 người nhiễm HPV 
sau 59 tuổi. Tỷ lệ nhiễm tương ứng với từng nhóm tuổi 
là 9,86%, 3,9%, 4,56%, 6,14% và 4,35%; qua đó, nhóm 
tuổi trẻ có nguy cơ lây nhiễm HPV cao hơn. Tuy nhiên, 
nhóm tuổi 39- 58 chiếm tỷ lệ 57,33% trong những 
trường hợp dương tính với HPV. Tham khảo nghiên cứu 
của Trần Thị Lợi, có 11,31% ở lứa tuổi 18- 29, 24,4% ở lứa 
tuổi 30- 39, 42,86% ở lứa tuổi 40- 49, 16,67% ở tuổi từ 
50 -59 và 4,76% ở tuổi 60-69(11). Như vậy, nhóm tuổi 
30- 49 chiếm 67%. Kết quả của chúng tôi khác với kết 
quả của Trần Thị Lợi (11) và Vũ Thị Nhung (9). Sự khác 
nhau này có lẽ do sự phân bố không đồng đều giữa các 
nhóm tuổi trong mẫu nghiên cứu, tuy nhiên, kết quả 
vẫn cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV cao, thường tập trung 
trong độ tuổi có quan hệ tình dục.
Khảo sát mối liên quan giữa độ tuổi với tình trạng HPV, 
chúng tôi ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV ở nhóm tuổi từ 18- 28 
tuổi (18,67%); 20% từ 29- 38 tuổi, từ 39- 48 tuổi có 29,33% 
và 28% ở độ tuổi 39- 48. Như vậy, khi chúng tôi phân 
nhóm tuổi thì nhóm tuổi 29 đến 48 chiếm tỷ lệ cao hơn 
và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). 
Kết quả chúng tôi tương tự với kết quả nghiên cứu của 
Trần Thị Lợi (11) (tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất là nhóm tuổi 
60- 69 tuổi (15,38%), kế đó là nhóm tuổi từ 40-49 tuổi 
13,38% và 13,57% trong độ tuổi 18- 29) và kết quả của 
Vũ thị Nhung (tỷ lệ nhiễm HPV thường gặp ở nhóm tuổi 
dưới 30 tuổi thấp hơn lứa tuổi từ 30 tuổi trở lên) (9). Tuy 
nhiên, với nghiên cứu của Scheurer: tỷ lệ nhiễm HPV cao 
nhất trong từ 15 đến 25, sau đó giảm dần và ổn định sau 
40 tuổi và tăng trở lại vào giai đoạn quanh mãn kinh và 
hậu mãn kinh (8). 
Tuổi bắT Đầu quan hệ Tình dục và nhiễm hPv
Qua nghiên cứu 1442 trường hợp phụ nữ có chồng 
đồng ý tham gia nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận tuổi 
trung bình bắt đầu quan hệ tình dục là 23,02±4,31 tuổi, 
trong đó nhỏ nhất là 15 tuổi và độ tuổi cao nhất là 44 
tuổi. Theo Luật Hôn nhân gia đình của Việt Nam, phụ nữ 
từ 18 tuổi trở lên được phép kết hôn nên được chấp nhận 
có quan hệ tình dục hợp pháp. Tuy nhiên, trong thực tế, 
có những phụ nữ có chồng từ rất sớm. Số trường hợp 
có quan hệ tình dục trước 19 tuổi là 150 phụ nữ chiếm 
10,4%. Kết quả này cao hơn kết quả nghiên cứu của Trần 
Thị Lợi (8,65% phụ nữ)(11). Như vậy, độ tuổi giao hợp lần 
đầu ở Cần Thơ và Hồ Chí Minh cao hơn phụ nữ trên thế 
giới có lẽ do nền văn hóa phong kiến Á Đông và sự cho 
phép của pháp luật. Có lẻ vì vậy mà trong nghiên cứu 
này không ghi nhận được mối liên quan giữa tuổi giao 
hợp lần đầu và nhiễm HPV (p=0,642). Tuy nhiên, mối liên 
quan này vẫn còn nhiều tranh cãi trên thế giới (9). Ngày 
nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và 
sự giao lưu, hội nhập không ngừng về văn hóa xã hội 
giữa Việt Nam và các nước phương Tây nên tuổi quan hệ 
tình dục lần đầu sẽ có xu hướng sớm hơn. Do đó, ta cũng 
cần có thêm những nghiên cứu khác quan tâm đúng 
mức hơn về mối quan hệ này.
yếu Tố nghề nghiệP.
Nhóm phụ nữ ở nhà nội trợ chiếm phần nhiều hơn 
so với công việc khác 28,29%. Nghiên cứu của Trần Thị 
Lợi (11), Vũ Thị Nhung (10) thường gặp đối tượng này. 
Từ đó cho thấy, phụ nữ Việt Nam làm công việc nhà 
nhiều hơn, ít tiếp xúc ngoài xã hội và ít có điều kiện 
chăm sóc sức khỏe định kỳ hơn so với đối tượng khác. 
Tuy chúng tôi không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa 
thống kê giữa nghề nghiệp với tình trạng nhiễm HPV, 
nhưng nghiên cứu Nguyễn Thị Mỹ Phượng (2004) (5) ở 
các phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Nhân Dân 
Gia Định ghi nhận có mối liên quan giữa nghề và nhiễm 
HPV. Sự khác biệt này theo chúng tôi, có lẽ do đối tượng 
chọn mẫu của chúng tôi là những người được xem là 
khỏe mạnh trong cộng đồng.
Trình Độ học vấn của Đối Tượng với nhiễm hPv
Có 67,2% phụ nữ có trình độ học vấn là tiểu học và 
trung học cơ sở. Kết quả này tương tự nghiên cứu của 
Trần Thị Lợi(11) và Vũ Thị Nhung(9). Xét về tỷ lệ nhiễm 
HPV trên những nhóm học thức khác nhau, chúng tôi 
chưa ghi nhận được mối liên hệ có ý nghĩa thống kê. Khi 
tham khảo các nghiên cứu khác, kết quả của Phạm Việt 
Thanh(13) cho thấy người có học vấn từ đại học trở lên có 
nguy cơ nhiễm HPV cao gấp 2,4 lần so với phụ nữ chỉ học 
dưới cấp 1. Kết quả của chúng tôi đa số phụ nữ có học vấn 
thấp hơn nên có kết quả thấp hơn là điều hợp lý.
húT Thuốc lá và nhiễm hPv
Số phụ nữ hút thuốc ở nghiên cứu không cao, 
0,62%. Kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Trần Thị 
Lợi 1,29%(11); Nguyễn Trọng Hiếu (1,94%) (6). Tuy nhiên, 
vấn đề chúng tôi quan tâm là những phụ nữ hút thuốc 
thụ động từ chồng, trong nghiên cứu của chúng tôi có 
64,7% trường hợp chồng hút thuốc lá- đây là kết quả 
đáng quan tâm. Tại Quận Ninh Kiều, Cần Thơ ghi nhận 
có 58,44% phụ nữ hút thuốc thụ động (12). Như vậy, dù 
rằng tỷ lệ phụ nữ không hút thuốc lá chủ động không 
cao nhưng hút thuốc lá thụ động tăng đánh kể. Theo Y 
LÂM ĐỨC TÂM, Trần ngọC Dung, nguyễn Vũ QuốC huy PHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
88
văn, hút thuốc được xem là yếu tố nguy cơ có liên quan 
đến tình trạng nhiễm HPV, mặc dù kết quả của chúng tôi 
chưa ghi nhận được yếu tố liên quan này. Theo Kết quả 
của Trần Thị Lợi khi phân tích đơn biến và hồi quy đa biến 
nhận thấy vai trò của hút thuốc lá chủ động có liên quan 
thực sự với tình trạng nhiễm HPV với phụ nữ chính họ 
hút thuốc hoặc cả hai vợ chồng cùng hút, nguy cơ nhiễm 
HPV tăng lên 3 lần (OR= 3,08; p= 0,02) (11). Tỷ lệ chồng 
hút thuốc khá cao trong các nghiên cứu là phù hợp với 
thực tế xã hội Việt Nam, nên cần nghiên cứu sâu hơn để 
đánh giá mối liên quan này.
vấn Đề sử dụng bao cao su Tránh Thai và hPv
Trong các biện pháp tránh thai hiện đại, sử dụng bao 
cao su và thuốc ngừa thai uống là hai biện pháp có sự tác 
động lên sự thay đổi tế bào cổ tử cung. Một nghiên cứu 
cho thấy sử dụng thuốc ngừa thai uống liên tục trong 12 
năm làm tăng nguy cơ nhiễm HPV và ung thư CTC (4). 
Theo Green, không có mối liên hệ nào giữa nhiễm HPV 
và sử dụng thuốc ngừa thai kéo dài (3). Nghiên cứu của 
chúng tôi tương tự, chỉ ghi nhận mối liên quan giữa tình 
trạng HPV với sử dụng bao cao su. Qua nghiên cứu tại 
các quận- huyện thuộc thành phố Cần Thơ, chúng tôi 
có 12,83% phụ nữ có sử dụng bao cao su quan hệ tình 
dục thường xuyên, và có 7 trường hợp bị nhiễm HPV và 
sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Khi 
tham khảo nghiên cứu của chúng tôi tại quận Ninh Kiều, 
Cần Thơ(12) cho thấy có sự liên quan giữa sử dụng bao 
cao su thường xuyên với tình trạng nhiễm HPV và theo 
kết quả nghiên cứu của Trần Thị Lợi khảo sát những phụ 
nữ sử dụng bao cao su ghi nhận chỉ có 12% phụ nữ sử 
dụng bao cao su thường xuyên trong quan hệ tình dục. 
Tỷ lệ nhiễm HPV khi sử dụng bao cao su thường xuyên 
trong quan hệ tình dục, nguy cơ nhiễm HPV giảm đi 2 lần 
so với phụ nữ không sử dụng hay sử dụng không thường 
xuyên (OR =2,28; p= 0,01)(11). Một nghiên cứu đã đưa ra 
kết quả tỉ lệ sạch nhiễm HPV tích lũy trong 2 năm tương 
ứng ở 2 nhóm có và không sử dụng bao cao su là 4% và 
23%(4). Vậy, sử dụng bao cao su có thể làm tăng sự sạch 
nhiễm HPV, có vai trò làm tăng sự thoái triển của tân sinh 
trong biểu mô CTC.
Kết luận
Sau khảo sát 1442 phụ nữ tại Thành phố Cần Thơ, 
chúng tôi có kết luận như sau
tỷ lệ nhiễm hpv: Tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ có 
chồng từ 18- 69 tuổi ở Thành phố Cần Thơ là 5,2% với 
100% trường hợp nhiễm type HPV nguy cơ cao. Trong đó, 
nhiễm đơn type là 82,67%; nhiễm 2 type 16%, nhiễm 3 
type là 1,33% trong tổng số trường hợp dương tính.
Tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất trong nhóm tuổi 39-48 
tuổi: 33,43%, 26,63% nhóm tuổi 29- 38 tuổi, nhóm tuổi 
49- 58 tuổi chiếm 23,72%.
Sự phân bố các type hpv: 75 phụ nữ nhiễm HPV có 
89 type HPV được phân lập bằng kỹ thuật realtime PCR, 
trong đó, type HPV 52 chiếm 23,6%, kế đến là type 16 
và 51 là 15,73%, type 39 (8,99%); type 56 (7,87%), 6,74% 
type 31, 58. Các type còn lại tương đối thấp. 
Các yếu tố nguy cơ liên quan với nhiễm hpv
Không có sự liên quan giữa trình độ học vấn, nghề 
nghiệp và hút thuốc lá, nhóm tuổi, sử dụng bao cao su, 
tuổi giao hợp lần đầu nhỏ hơn 19 tuổi với tình trạng 
nhiễm HPV.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.De Sanjose S, Diaz M, Castellsague X. Worldwide prevalence 
and genotype distribution of cervical human papillomavirus DNA in 
women with normal cytology. Lancet Infect Dis; 2007, 7:453
2. Franco EL, Duarte-Franco, et al. Epidemiology, prevention and 
the role of human papillomavirus infection. CMAJ. 2001.164: 1017-25
3. Green JB et al. Human Papillomavirus infection and use of oral 
contraceptives. Bristish Journal of cancer. 2003; 88(11): 1713-1720.
4. Munoz N et al. Role or parity and human pappillomavirus in 
cervical cancer. Lancet. 2002, 359 (9312): 1093- 1101.
5. Nguyễn Thị Mỹ Phượng. Tỷ lệ nhiễm HPV phát hiện qua 
phết mỏng cổ tử cung ở bệnh khám phụ khoa tại BV NDGĐ, Luận 
văn Thạc sĩ Y học;2004; 66- 67.
6. Nguyễn Trọng Hiếu. Tần suất nhiễm HPV ở phụ nữ Thành phố Hồ 
Chí Minh và Hà Nội, Tạp chí Phụ sản, 2004; tập 4(2): 64-72.
7. Nguyễn Vũ Quốc Huy, Lê Minh Tâm, Ngô Viết Quỳnh Trâm, 
Trương Quang Vinh, Cao Ngọc Thành. Nghiên cứu tình hình 
nhiễm Human papilloma virus sinh dục ở phụ nữ tại tỉnh Thừa 
Thiên Huế, Tạp chí Phụ Sản, 2012; tập 10, số 3: 192- 199.
8. Scheurer ME. Human papillomavirus infection: biology, 
epidemiology, and prevention. Int Gynecol Cancer. 2005; 15: 727-746.
9. Vũ Thị Nhung. Khảo sát tình hình nhiễm các type HPV ở 
phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh bằng kỹ thuật sinh học phân tử. 
Đề tài cấp sở, 2006; 55.
10. Võ Văn Kha, Huỳnh Quyết Thắng. Tỷ lệ nhiễm HPV trên bệnh 
nhân ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ, Y học Thành 
phố Hồ Chí Minh, chuyên đề Giải phẫu bệnh, 2011; tập 15 (2): 168- 173.
11. Trần Thị Lợi, Hồ Văn Phúc. Tỷ lệ nhiễm human phapilloma virus và 
các yếu tố liên quan của phụ nữ từ 18- 69 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh, 
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 2012; tập 14, phụ bản số 1: 297- 306.
12. Lâm Đức Tâm, Nguyễn Thị Huệ, Trần Ngọc Dung, Nguyễn Vũ 
Quốc Huy, (2012), Tình hình nhiễm human papilloma virus và các yếu tố 
liên quan của phụ nữ từ 18- 69 tuổi tại Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần 
Thơ, Hội nghị Khoa học Y Dược Đồng bằng sông Cửu Long mở rộng lần 
thứ IV, Tạp chí Y học Thực hành, số 852+ 853: 406- 411.
13. Phạm Việt Thanh. Định danh HPV ở phụ nữ có phết mỏng CTC 
bất thường. Hội nghị sản phụ khoa Việt- Pháp- Châu Á- Thái bình Dương 
lần thứ IX, 2009; 102-110.
14. Trương Quang Vinh, Cao Ngọc Thành. Nghiên cứu nhiễm 
Human papilloma virus ở phụ nữ có các tổn thương tiền ung thư và cổ tử 
cung, Tạp chí Y học Thực hành, Bộ Y tế, 2010; số 718- 719: 229- 240
15. WHO. Comprehensive cervical cancer control: a guide to 
essential practise. Geneva, World Health Organization, 2006.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ty_le_nhiem_human_papilloma_virus_va_cac_yeu_to_l.pdf