Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV và sự phân bố các type HPV ở bệnh nhân khám phụ khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Mục tiêu: Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 3 ở phụ nữ trên toàn thế giới. Nhiễm các type

HPV nguy cơ cao là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây ung thư cổ tử cung. Việc phát hiện và định type HPV

ngày càng trở nên quan trọng trong việc sàng lọc ung thư cổ tử cung và điều trị tiền ung thư. Xác định tỷ lệ

nhiễm và sự phân bố các type HPV ở các bệnh nhân khám phụ khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 715 bệnh nhân đến khám phụ

khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Các đối tượng tham gia nghiên cứu được khám phụ khoa,

xét nghiệm định type HPV bằng kỹ thuật lai phân tử Reverse Dot Blot.

Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HPV ở các bệnh nhân khám phụ khoa tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

là 16,5%. Tỷ lệ nhiễm 1 type HPV chiếm 58,47%, đồng nhiễm 2 type chiếm 18,64%, nhiễm ≥3 type trở lên chiếm

11,02%, dương tính nhưng không định được type chiếm 11,86%. Trong nhóm HPV nguy cơ cao, type HPV 16

dương tính chiếm tỷ lệ cao nhất 23,72% sau đó là HPV 52 chiếm tỷ lệ 13,46%.

Kết luận: Tỷ lệ nhiễm HPV của bệnh nhân đến khám phụ khoa ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí

Minh là 16,5%, sự phân bố tỷ lệ nhiễm các type HPV tương tự các nơi khác ở trong nước và trên thế giới.

pdf 5 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV và sự phân bố các type HPV ở bệnh nhân khám phụ khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV và sự phân bố các type HPV ở bệnh nhân khám phụ khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV và sự phân bố các type HPV ở bệnh nhân khám phụ khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 270 
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM HPV VÀ SỰ PHÂN BỐ CÁC TYPE HPV 
Ở BỆNH NHÂN KHÁM PHỤ KHOA TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC 
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 
Nguyễn Hữu Huy1, Lê Minh Khôi1,2, Nguyễn Thị Băng Sương1,2, Nguyễn Hoàng Bắc1,2 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 3 ở phụ nữ trên toàn thế giới. Nhiễm các type 
HPV nguy cơ cao là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây ung thư cổ tử cung. Việc phát hiện và định type HPV 
ngày càng trở nên quan trọng trong việc sàng lọc ung thư cổ tử cung và điều trị tiền ung thư. Xác định tỷ lệ 
nhiễm và sự phân bố các type HPV ở các bệnh nhân khám phụ khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí 
Minh. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 715 bệnh nhân đến khám phụ 
khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Các đối tượng tham gia nghiên cứu được khám phụ khoa, 
xét nghiệm định type HPV bằng kỹ thuật lai phân tử Reverse Dot Blot. 
Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HPV ở các bệnh nhân khám phụ khoa tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
là 16,5%. Tỷ lệ nhiễm 1 type HPV chiếm 58,47%, đồng nhiễm 2 type chiếm 18,64%, nhiễm ≥3 type trở lên chiếm 
11,02%, dương tính nhưng không định được type chiếm 11,86%. Trong nhóm HPV nguy cơ cao, type HPV 16 
dương tính chiếm tỷ lệ cao nhất 23,72% sau đó là HPV 52 chiếm tỷ lệ 13,46%. 
Kết luận: Tỷ lệ nhiễm HPV của bệnh nhân đến khám phụ khoa ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí 
Minh là 16,5%, sự phân bố tỷ lệ nhiễm các type HPV tương tự các nơi khác ở trong nước và trên thế giới. 
Từ khóa: HPV, ung thư cổ tử cung, HPV genotyping 
ABSTRACT 
STUDY ON HPV PREVALENCE AND DISTRIBUTION OF HPV TYPES IN PATIENTS AT 
UNIVERSITY MEDICAL CENTER HO CHI MINH CITY 
Nguyen Huu Huy, Le Minh Khoi, Nguyen Thi Bang Suong, Nguyen Hoang Bac 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 270 - 274 
Objective: The goal of this study was to determine HPV prevalence and distribution of HPV types in 
patients at University Medical Center Ho Chi Minh City. 
Methods: In A cross-sectional study was conducted on 715 patients at University Medical Center Ho Chi 
Minh City. All subjects have taken an pelvic examination to get clinical findings, a sample for examining HPV 
infection by Reverse Dot Blot hybridization assay. 
Results: The prevalence of HPV infection on patients at University Medical Center Ho Chi Minh City was 
16.5%. Infection by 1 type was 58.47%, coinfection with 2 types is 18.64%; co-infection of ≥ 3 types was 11.02% 
and 11.86 % positive but can not typing. In the high risk HPV group, HPV type of 16 was highest (22.73%), the 
second were type 52 (13.46%). 
Conclusions: The prevalence of HPV infection in patients at University Medical Center Ho Chi Minh City 
was 16.5% and there is similarity in HPV types distribution in Vietnam and in an other regions. 
Keywords: HPV, cervical cancer, HPV genotyping 
1Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Băng Sương ĐT:0913281386 Email: [email protected]
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 271 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ung thư cổ tử cung (CTC) là bệnh ung thư 
phổ biến thứ 3 ở phụ nữ trên toàn thế giới, ước 
tính có 569.847 trường hợp mắc mới và 311.365 
ca tử vong trong năm 2018. Khoảng 4.177 trường 
hợp ung thư cổ tử cung mới được chẩn đoán 
hằng năm và khoảng 2.420 ca tử vong do ung 
thư này hàng năm tại Việt Nam (dữ liệu 
GLOBOCAN 2018)(1). Ung thư CTC có liên quan 
chặt chẽ với nhiễm các type Human papilloma 
virus (HPV) nguy cơ cao đường sinh dục. Có 
hơn 150 type Human Papilloma virus được phát 
hiện, trong đó, type 16, 18, 31, 33, 35, 45, 52 và 58 
là nhóm týp nguy cơ cao thường gặp ở cổ tử 
cung(2). Virus xâm nhập vào biểu mô cổ tử cung 
tạo nên các biến đổi của tế bào và diễn tiến này 
kéo dài từ 10 đến 20 năm với biểu hiện từ tổn 
thương viêm nhiễm đơn giản đến tân sinh trong 
biểu mô, ung thư tại chỗ và xâm lấn. Do đó, việc 
phát hiện sớm bằng tế bào học, xét nghiệm 
Human papilloma virus là cần thiết, giúp tăng khả 
năng dự phòng, điều trị sớm tổn thương cổ tử 
cung nhằm giảm tỷ lệ tử vong của bệnh và 
nghiên cứu triển khai vaccine phòng ngừa 
Human papilloma virus ở phụ nữ trẻ tuổi(3). 
Nghiên cứu cộng đồng ghi nhận tỷ lệ nhiễm 
Human papilloma virus khoảng 10% nhưng kết 
quả này khác nhau tùy theo từng vùng, miền, 
từng quốc gia trên thế giới như tỷ lệ tại Châu Phi 
là 22,12%, Châu Mỹ chiếm 12,95%, Châu Âu và 
Châu Á vào khoảng 8%(4).Tại Việt Nam có tỷ lệ 
mắc HPV tương đối cao, theo nghiên cứu của 
Lục Thị Vân Bích (2011) tại khu vực TP. Hồ Chí 
Minh ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là 19,97%(5). 
Theo nghiên cứu của Lê Quang Vinh (2015) tại 
khu vực Hà Nội ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là 
9,73%(6). Do đó, việc phát hiện và xác định các 
type HPV có vai trò vô cùng quan trọng trong 
việc đánh giá nguy cơ ung thư cổ tử cung và một 
số ung thư đường sinh dục khác. Xuất phát từ 
thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: 
“Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm và sự phân bố các type 
Human papilloma virus ở bệnh nhân khám phụ 
khoa tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí 
Minh” có nghĩa và giá trị rất lớn cho việc xây 
dựng bản đồ dịch tể học chủng HPV ở Việt Nam 
làm cơ sở cho chương trình phòng chống ung 
thư cổ tử cung hiệu quả hơn, với mục tiêu là xác 
định tỷ lệ nhiễm HPV sinh dục, các type HPV ở 
bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Đại học Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 
2019 đến tháng 11 năm 2020, chúng tôi thu thập 
(khảo sát) được 715 bệnh nhân đến khám phụ 
khoa tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí 
Minh đưa vào nhóm nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn chọn 
Phụ nữ đã có quan hệ tình dục. 
Hiện tại không có thai. 
Không thụt rửa âm đạo trước khi xét nghiệm. 
Không đặt thuốc điều trị phụ khoa trước đó 
ít nhất 7 ngày. 
Khi xét nghiệm không trong thời kỳ hành kinh. 
Không quan hệ tình dục trước xét nghiệm 
3 ngày. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 
Cỡ mẫu 
Cỡ mẫu được tính theo công thức cho 
nghiên cứu mô tả là ước lượng tỷ lệ: 
n ≥ 
d
qpz
2
2
2/)1(
..
với p= 10%, d=0,05 nên tính được cỡ mẫu là 
139 ca bệnh. 
Quy trình thực hiện định type HPV 
Thu nhận bệnh phẩm: dịch phết cổ tử cung. 
Tách chiết DNA tổng số bằng phương pháp 
Phenol- chloroform. 
Thực hiện phản ứng Real-time PCR trên máy 
Agilent AriaMx. 
Sản phẩm PCR dương tính được sử dụng để 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 272 
định type HPV bằng kỹ thuật lai phân tử 
Reverse Dot Blot với các Probe lai đặc hiệu cho 
16 type nguy cơ cao (16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 
52, 53, 56, 58, 59, 66, 68, 82) và 8 type nguy cơ 
thấp (6, 11, 42, 43, 61, 70, 71, 81) đã được cố định 
sẵn trên màng lai Biodyne C. Tín hiệu dương 
tính được phát hiện qua phản ứng hiện màu. 
Xử lý và phân tích số liệu 
Sử dụng phần mềm SPSS version 20.0 cho 
các phân tích thống kê. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 55/GCN-HĐĐĐ, ngày 
5/12/2020. 
KẾT QUẢ 
Tỷ lệ nhiễm HPV 
Hình 1: Tỷ lệ HPV- DNA (+) của bệnh nhân đến 
khám tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM 
Qua khảo sát 715 phụ nữ trong độ tuổi từ 19 
đến 78 tuổi, chúng tôi ghi nhận có 118 trường 
hợp dương tính với HPV, chiếm tỷ lệ 16,5%. Có 
83,5% trường hợp âm tính với HPV (Hình 1). 
Tỷ lệ nhiễm HPV theo nhóm tuổi 
Bảng 1: Liên quan giữa tình trạng nhiễm HPV với 
nhóm tuổi 
Tuổi 
HPV dương 
tính n (%) 
HPV âm tính 
n (%) 
Tổng 
n (%) 
≤ 25 8 (21,6) 29 (78,4) 37 (100) 
26– 35 34 (16,9) 167 (83,1) 201 (100) 
> 35 76 (15,9) 401 (84,1) 477 (100) 
Tổng 118 (16,5) 597 (83,5) 715 (100) 
Bảng 1 cho thấy phụ nữ có độ tuổi dưới 25 
tuổi có tỷ lệ nhiễm HPV cao hơn so các nhóm 
tuổi khác, kế đến là nhóm tuổi 26 - 35 tuổi; thấp 
nhất ở nhóm phụ nữ trên 35 tuổi nhưng sự khác 
biệt này không có ý nghĩa thống kê, p >0,05. 
Tỷ lệ nhiễm HPV đơn type và đa type 
Bảng 2: Tỷ lệ nhiễm HPV đơn type và đa type 
Kết quả định type Số lượng Tỷ lệ % 
1 type 69 58,47 
2 type 22 18,64 
≥ 3 type 13 11,02 
Không định type 14 11,86 
Tổng số 118 100 
Bảng 2 cho thấy: nhiễm 1 type HPV chiếm 
đa số với 69/118 ca (58,47%), đồng nhiễm 2 
type có 22/118 ca (18,64%), nhiễm ≥3 type trở 
lên có 14/118 ca (11,02%), 14/118 ca (11,86%) 
dương tính nhưng không định được type do 
thuộc các type ngoài 24 type có thể xác định 
được bằng xét nghiệm. 
Bảng 3: Tỷ lệ nhiễm các type HPV (n = 156) 
Type HPV 
Số type HPV 
được xác định 
Tỷ lệ (%)/ số type 
HPV đuợc xác dịnh 
HPV 16 37 23,72 
HPV 18 15 9,62 
HPV 31 3 1,92 
HPV 35 4 2,56 
HPV 39 4 2,56 
HPV 45 4 2,56 
HPV 51 10 6,41 
HPV 52 21 13,46 
HPV 53 7 4,49 
HPV 56 5 3,21 
HPV 58 2 1,28 
HPV 59 6 3,85 
HPV 66 8 5,13 
HPV 68 5 3,21 
HPV 6 8 5,13 
HPV 11 8 5,13 
HPV 42 2 1,28 
HPV 43 1 0,64 
HPV 61 2 1,28 
HPV 70 1 0,64 
HPV 71 2 1,28 
HPV 81 1 0,64 
Tổng số 156 100 
Từ Bảng 3, chúng tôi đã phát hiện được 22 
type HPV trong số 24 type có thể xác định được 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 273 
bằng kỹ thuật này. Trong nhóm HPV nguy cơ 
cao, type HPV 16 dương tính chiếm tỷ lệ cao 
nhất 23,72% sau đó là HPV 52 chiếm tỷ lệ 13,46% 
còn trong nhóm HPV nguy cơ thấp thì HPV type 
6 và HPV type 11 cùng chiếm tỷ lệ 5,13%. 
BÀN LUẬN 
Trong nghiên cứu của chúng tôi đã phát hiện 
được 16,5% trường hợp bị nhiễm HPV qua kỹ 
thuật Reverse Dot Blot, kết quả này phù hợp với 
tần suất nhiễm HPV trong nước, các nước khu 
vực và trên thế giới. Theo nghiên cứu của Lục 
Thị Vân Bích (2011) tại khu vực TP. Hồ Chí Minh 
ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là 19,97%(5). Theo 
nghiên cứu của Lê Quang Vinh (2015) tại khu 
vực Hà Nội ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là 
9,73%(6). Tham khảo nghiên cứu trên thế giới, 
chúng tôi ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ 
khu vực Châu Á dao động khoảng 10%, trong 
đó theo nghiên cứu của tác giả Liu SS (2011) thì 
tỷ lệ nhiễm HPV ở Trung Quốc là 10% và theo 
nghiên cứu của tác giả Johnson DC (2014) thì tỷ 
lệ nhiễm HPV ở Nepal là 9,6%(7,8). Kết quả của 
khu vực này dao động không cao là do các quốc 
gia ở Châu Á có điều kiện sống, sinh hoạt, tình 
trạng kinh tế tương đồng nhau, có chịu ảnh 
hưởng văn hóa Phương Đông, có hành vi quan 
hệ tình dục, lối sống tương đối lành mạnh, tình 
trạng kinh tế xã hội đang phát triển, điều kiện 
chăm sóc y tế không khác nhau nhiều, cũng như 
tình trạng tổn thương cổ tử cung được phát hiện. 
Tỷ lệ nhiễm HPV phụ thuộc vào độ tuổi, các 
quốc gia khác nhau, tùy vào vùng miền trong 
cùng quốc gia, trên thế giới cũng như đối tượng 
tham gia nghiên cứu, địa điểm thực hiện, kỹ 
thuật sinh học phân tử để xác định tình trạng 
nhiễm HPV, điều kiện trang thiết bị xét nghiệm 
hiện đại, kỹ thuật viên lành nghề và kỹ thuật lấy 
mẫu bệnh phẩm. 
Khi phân tích tỷ lệ nhiễm HPV theo độ tuổi 
thì ở độ tuổi <25 (độ tuổi còn có thể tiêm vắc xin 
phòng HPV) thì tỷ lệ dương tính với HPV trong 
nghiên cứu này là 8/37 (21,6%). Có kết quả này 
có thể đây là lứa tuổi quan hệ tình dục nhiều mà 
lây nhiễm HPV được xem là bệnh lây truyền qua 
đường tình dục, rất dễ lây nhiễm, kể cả tiếp xúc 
da kề da. Do vậy, khuyến nghị xét nghiệm định 
type HPV trước khi quyết định tiêm phòng cho 
nữ giới dưới 25 tuổi đã có quan hệ tình dục. Tuổi 
<35, tỷ lệ dương tính với HPV là 34/201 (16,9%). 
Theo Remi Catabelle (Pháp), có đến 80% bệnh 
nhân ở nhóm tuổi này, HPV được đào thải tự 
nhiên nhờ hệ miễn dịch (được gọi là khỏi tự 
nhiên hay nhiễm trùng tạm thời). Tuổi >35, tỷ lệ 
dương tính là 76/477 (15,9%). Theo Remi 
Catabelle (Pháp) nếu tồn tại nhiễm trùng trên 1 
năm thì có khoảng 10-20% ca nhiễm, sau 2 – 5 
năm có thể tiến triển từ một tổn thương CTC 
lành tính thành tổn thương trong biểu mô 
Malpighi mức độ thấp (CIN 1). Sau đó, 3 đến 5 
năm tiến triển thành tổn thương trong biểu mô 
Malpighi mức độ cao (CIN 2-3). Sau đó 4 đến 10-
15 năm thành ung thư(9). 
Về tỷ lệ nhiễm HPV đơn type và đa type thì 
nhiễm 1 type HPV chiếm đa số với 69/118 ca 
(58,47%). Tham khảo nghiên cứu Lê Trung Thọ 
có 72,72% nhiễm đơn type HPV(10). Kết quả của 
Nguyễn Thị Tuyết Vân có tỷ lệ nhiễm đơn type 
là 69,4%; đa type là 30,6%(11). Tham khảo kết quả 
nghiên cứu nước ngoài cho thấy tỷ lệ nhiễm đơn 
type chiếm đa số như Martín P. thực hiện tại 
Madrid, phụ nữ nhiễm đơn týp là 65,5% trường 
hợp(12). Vaccine chỉ có thể dự phòng các type 
HPV thường gặp nên phụ nữ nhiễm đa type cần 
được quan tâm vì vaccine dự phòng ung thư 
CTC không thể có tác dụng cho các type HPV 
không có trong phổ của vaccine. 
Về tỷ lệ nhiễm các type HPV thì nghiên cứu 
của chúng tôi ghi nhận trong nhóm HPV nguy 
cơ cao, type HPV 16 dương tính chiếm tỷ lệ cao 
nhất 23,72% sau đó là HPV 52 chiếm tỷ lệ 13,46% 
còn trong nhóm HPV nguy cơ thấp thì HPV type 
6 và HPV type 11 cùng chiếm tỷ lệ 5,13%. Kết 
quả này cũng tương đồng với các nghiên cứu 
khác như kết quả type HPV trên bệnh nhân bị 
tiền ung thư, ung thư CTC tại Cần Thơ của Lâm 
Đức Tâm là type HPV 16, 52, 18(13), kết quả của 
Võ Văn Kha là type HPV 16, 18, 52, 58(14). Tuy các 
type HPV được phân lập có phụ thuộc vào vùng 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 274 
địa lý, vùng miền và khu vực khác nhau trên 
cùng một quốc gia (Việt Nam) nhưng nhìn 
chung các type HPV 16, 18, 52 thường gặp ở 
cộng đồng Việt Nam. 
KẾT LUẬN 
Tỷ lệ nhiễm HPV ở các bệnh nhân khám phụ 
khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí 
Minh là 16,5%. Phụ nữ có độ tuổi dưới 25 tuổi có 
tỷ lệ nhiễm HPV cao hơn so các nhóm tuổi khác. 
Tỷ lệ nhiễm 1 type HPV chiếm 58,47%, đồng 
nhiễm 2 type chiếm 18,64%, nhiễm ≥3 type trở 
lên chiếm 11,02%, dương tính nhưng không 
định được type chiếm 11,86%. Trong nhóm HPV 
nguy cơ cao, type HPV 16 dương tính chiếm tỷ 
lệ cao nhất 23,72% sau đó là HPV 52 chiếm tỷ lệ 
13,46%. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bray F, Ferlay J, Soerjomataram I, Siegel RL, Torre LA, Jemal A 
(2018). Global cancer statistics 2018: GLOBOCAN estimates of 
incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 
countries. A Cancer Journal for Clinicians, 68(6):394-424. 
2. Lagheden C, Eklund C, Lamin H, Kleppe SN, Lei J, Elfström 
KM, Dillner J (2018). Nationwide comprehensive human 
papillomavirus (HPV) genotyping of invasive cervical cancer. 
British Journal of Cancer, 118(10):1377-1381. 
3. Harper DM, DeMars LR (2017). HPV vaccines–a review of the 
first decade. Gynecologic Oncology, 146(1):196-204. 
4. Bosch FX, Burchell AN, Schiffman M, Giuliano AR, de Sanjose 
S, Bruni L, et al (2008). Epideminology and Natural History of 
Human Papilloma virus Infection and Týp-Specific Implications 
in Cervical Neoplasia. Vaccine, 26(10):K1- K16. 
5. Lục Thị Vân Bích, Cao Minh Nga, Hồ Lê Ân, Huỳnh Ngọc 
Phương Thảo (2011). Khảo sát tình hình nhiễm HPV và các 
genotýp HPV (Human Papilloma virus) ở phụ nữ Việt Nam 
trong độ tuổi từ 18- 69 bằng kỹ thuật sinh học phân tử. Y học 
Thành phố Hồ Chí Minh, 15(2):190-194. 
6. Lê Quang Vinh, Phạm Thị Thanh Yên, Nguyễn Khánh Dương, 
Lê Hoàng Linh, Đào Duy Quân và cộng sự (2015). Nghiên cứu 
tỷ lệ nhiễm Human Papilloma virus ở cán bộ nữ Bệnh viện Phụ 
Sản Trung ương. Phụ Sản, 13(2):9-11. 
7. Liu SS, Chan KYK, Leunh RCY, Chan KKL, Tam KF, et al (2011). 
Prevalence and Risk Factors of Human Papollomavirus (HPV) 
Infection in Southern Chinese Women- A Population- Base 
Study. Plos ONE, 6(5):e19244. 
8. Johnson DC, Bhatta MP, Smith JS, Kempf MC, Broker TR, et al 
(2014). Assessment of High Risk Human Papilloma virus 
Infection Using Clinician and Self- Collected Cervical Sampling 
Methods in Rural Women from Far Western Nepal. Plos One, 
9(6):e101255. 
9. Remi Catabelle. Chẩn đoán, điều trị, dự phòng ung thư cổ tử 
cung. Bài giảng cho bác sỹ sản phụ khoa. 23/05/2016. Đại học y 
Hải Phòng 
10. Lê Trung Thọ, Trần Văn Hợp (2009). Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm 
HPV ở cộng đồng phụ nữ Hà Nội, tìm hiểu một số yếu tố liên 
quan. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 13(1):185- 189. 
11. Nguyễn Thị Tuyết Vân, Nguyễn Hoàng Quân, Cao Minh Nga 
(2010). Nhiễm các týp Human Papilloma virus ở phụ nữ sinh 
đẻ. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề Vi sinh, 14(1):504- 
508. 
12. Martín P, Linah K, Diego G, Ana MLGM, et al (2011). Human 
Papilloma virus genotýp distribution in Madrid and Correlation 
with cytological data. BMC Infectious Diseases, 11:316- 321. 
13. Lâm Đức Tâm, Nguyễn Vũ Quốc Huy (2013). Nghiên cứu tỷ lệ 
nhiễm Human Papilloma virus và các yếu tố liên quan tổn 
thương tiền ung thư cổ tử cung ở phụ nữ từ 18- 60 tuổi. Y học 
Thành phố Hồ Chí Minh, 17(1):213- 220. 
14. Võ Văn Kha, Huỳnh Quyết Thắng (2011). Tỷ lệ nhiễm HPV trên 
bệnh nhân ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Ung bướu Cần 
Thơ. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Chuyên đề Giải phẫu bệnh, 
15(2):168-173. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ty_le_nhiem_hpv_va_su_phan_bo_cac_type_hpv_o_benh.pdf