Nghiên cứu tỷ lệ, một số yếu tố liên quan và kết quả kết thúc thai kỳ ở các sản phụ song thai

Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan ở các

sản phụ song thai. 2. Đánh giá kết quả kết thúc thai kỳ ở các sản phụ

song thai.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có

theo dõi, n=235 là toàn bộ sản phụ vào viện và kết thúc thai kỳ tại Khoa

Phụ sản Bệnh viện Đại Học Y Dược Huế và Bệnh viện Trung Ương Huế

từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2016.

Kết quả: Tỷ lệ sinh song thai là 0,9%.Song thai gặp ở sản phụ mang

thai từ 2 lần trở lên chiếm 59,1%, mang thai con so chiếm 40,9%, tiền

sử gia đình sinh song thai 11,9%, bản thân sản phụ là con song thai

2,1% và sản phụ có dùng thuốc kích thích noãn và biện pháp hỗ trợ sinh

sản điều trị vô sinh chiếm 7,7%. Sản phụ sinh thường chiếm 21,7%,

mổ lấy thai 71,5% và sinh thủ thuật là 6,8% tổng số sản phụ sinh song

thai. Phương pháp sinh trong song thai có liên quan vào các yếu tố:

Tuổi thai, bệnh lý mẹ kèm theo, ngôi thai, sự khác biệt có ý nghĩa với

p <0,05. các="" biến="" chứng="" ở="" mẹ:="" thiếu="" máu="" 28,9%,="" tiền="" sản="" giật="">

băng huyết sau sinh 5,5%, sót rau 8,1%, đờ tử cung 6,0%. Biến chứng

ở trẻ: sinh non 31,5%, trẻ nhẹ cân < 2500g="" 60,2%.="" trẻ="" sơ="" sinh="" có="" chỉ="">

Apgar thấp dưới 7 điểm chiếm 19,1% đối với trẻ thứ nhất, 19,6% đối với

trẻ thứ hai, nhiễm trùng sơ sinh 10,6%, suy hô hấp 6%, vàng da 2,6%

và tử vong sơ sinh chiếm tỷ lệ 0,9%.

Kết luận: Song thai là một thai nghén nguy cơ cao cho cả mẹ lẫn

thai. Tỷ lệ mổ lấy thai ngày càng cao trong kết quả kết thúc thai kỳ của

song thai

pdf 7 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tỷ lệ, một số yếu tố liên quan và kết quả kết thúc thai kỳ ở các sản phụ song thai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tỷ lệ, một số yếu tố liên quan và kết quả kết thúc thai kỳ ở các sản phụ song thai

Nghiên cứu tỷ lệ, một số yếu tố liên quan và kết quả kết thúc thai kỳ ở các sản phụ song thai
NGUYỄN THANH HIỀN, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY
28
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Nguyễn Thanh Hiền(1), Nguyễn Vũ Quốc Huy(2) 
(1) Bác sĩ Nội trú, Bộ môn Phụ Sản Trường Đại học Y Dược Huế, (2) Trường Đại học Y Dược Huế
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
VÀ KẾT QUẢ KẾT THÚC THAI KỲ
Ở CÁC SẢN PHỤ SONG THAI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thanh Hiền,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 9/11/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
23/11/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/12/2016
Từ khóa: Song thai, kết thúc 
thai kỳ.
Keywords: Twin pregnancy, 
pregnancy outcomes.
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan ở các 
sản phụ song thai. 2. Đánh giá kết quả kết thúc thai kỳ ở các sản phụ 
song thai. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có 
theo dõi, n=235 là toàn bộ sản phụ vào viện và kết thúc thai kỳ tại Khoa 
Phụ sản Bệnh viện Đại Học Y Dược Huế và Bệnh viện Trung Ương Huế 
từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2016. 
Kết quả: Tỷ lệ sinh song thai là 0,9%.Song thai gặp ở sản phụ mang 
thai từ 2 lần trở lên chiếm 59,1%, mang thai con so chiếm 40,9%, tiền 
sử gia đình sinh song thai 11,9%, bản thân sản phụ là con song thai 
2,1% và sản phụ có dùng thuốc kích thích noãn và biện pháp hỗ trợ sinh 
sản điều trị vô sinh chiếm 7,7%. Sản phụ sinh thường chiếm 21,7%, 
mổ lấy thai 71,5% và sinh thủ thuật là 6,8% tổng số sản phụ sinh song 
thai. Phương pháp sinh trong song thai có liên quan vào các yếu tố: 
Tuổi thai, bệnh lý mẹ kèm theo, ngôi thai, sự khác biệt có ý nghĩa với 
p <0,05. Các biến chứng ở mẹ: thiếu máu 28,9%, tiền sản giật 18,3%, 
băng huyết sau sinh 5,5%, sót rau 8,1%, đờ tử cung 6,0%. Biến chứng 
ở trẻ: sinh non 31,5%, trẻ nhẹ cân < 2500g 60,2%. Trẻ sơ sinh có chỉ số 
Apgar thấp dưới 7 điểm chiếm 19,1% đối với trẻ thứ nhất, 19,6% đối với 
trẻ thứ hai, nhiễm trùng sơ sinh 10,6%, suy hô hấp 6%, vàng da 2,6% 
và tử vong sơ sinh chiếm tỷ lệ 0,9%. 
Kết luận: Song thai là một thai nghén nguy cơ cao cho cả mẹ lẫn 
thai. Tỷ lệ mổ lấy thai ngày càng cao trong kết quả kết thúc thai kỳ của 
song thai.
Từ khóa: Song thai, kết thúc thai kỳ.
Abstract 
Objectives: 1. To determine the prevalence and associated factors in 
twin pregnancies. 2. To assess the outcome of twin pregnancy.
Materials & methods: Cross-sectional study, has followed, in N=235 
lần và trọng lượng sơ sinh thấp dưới 2500gr gấp 
21,9 lần, dưới 1500gr gấp 10 lần so với sản phụ 
mang đơn thai [8]. Chính điều này làm gia tăng 
đáng kể tỷ lệ trẻ mắc bệnh và tử vong chu sinh 
trong song thai.
Thời gian chuyển dạ trong song thai thường kéo 
dài hơn bình thường và hay có nhiều biến cố. Để 
đảm bảo an toàn tính mạng cho cả mẹ và thai nhi, 
nhằm giảm thiểu các biến cố xảy ra trước, trong 
và sau khi sinh, đòi hỏi người thầy thuốc phải cân 
nhắc kỹ để lựa chọn phương pháp đỡ đẻ an toàn.
Thái độ xử trí đẻ song thai ngày nay có nhiều thay 
đổi. Tỷ lệ mổ lấy thai trong cuộc đẻ song thai ngày 
càng tăng vì lý do sản khoa cũng như lý do xã hội. 
Chúng tôi thực hiện đề tài này nhắm các mục tiêu: 
1. Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan ở các sản 
phụ song thai. 2. Đánh giá kết quả kết thúc thai kỳ 
ở các sản phụ song thai.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
235 sản phụ mang thai song thai tại Khoa Phụ 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 28 - 34, 2017
29
twin pregnant women treated and end of pregnancy in Hue Central Hospital and Hue University 
Hospital’s Department of Gynecology and Obstetrics from June 2014 to June 2016.
Results: The twin rate was 0.9%. Twins occur in multiparous women was 59.1%, nulliparous 
women 40.9 %, the family history of twins was 11.9%, women who themselves was a twin was 
2.1% and women who used drugs for induction of ovulation and assisted reproductive infertility 
treatment was 7.7%. Normal delivery rate was 21.7%, assisted delivery 6.8% and Caesarean section 
rate was 71.5% of twins. Methods of delivery in twins related to factors: gestational age, maternal 
morbidity, fetal presentation with differences statistically significant (p <0.05). Method of delivery 
unrelated factors maternal age and parity, the difference was not statistically significant (p <0.05). 
Complications for the mother: Anemia was 28.9%, 18.3% of preeclampsia, postpartum hemorrhage 
was 5.5%, retained placenta 8.1%, uterine atony was 6.0%. Complications for the newborn: Preterm 
birth 31.5%, low birth weight <2,500g was 60.2%. Infants with low Apgar score < 7 points was 19.1% 
for the first child, 19.6% for the second child, perinatal infections accounted for 10.6%, respiratory 
distress 6%, 2.6% jaundice and neonatal deaths was 0.9%. 
Conclusion: Twin pregnancy is a high-risk pregnancy both of mother and fetus. The rate of 
Caesarean section is more and more increasing in outcome of twin deliveries.
Keywords: Twin pregnancy, pregnancy outcomes.
1. Đặt vấn đề 
Song thai là một thai nghén có nguy cơ bệnh lý 
và tử vong chu sản cao, ảnh hưởng bất lợi đến sức 
khỏe của mẹ, quá trình mang thai và cả sức khỏe 
của trẻ. Song thai chiếm tỷ lệ khoảng 1 – 1,5% các 
trường hợp đẻ, tuy nhiên hiện nay tỷ lệ này có xu 
hướng tăng lên trên toàn thế giới. Điều này chủ yếu 
do việc sử dụng rộng rãi các kỹ thuật hỗ trợ sinh 
sản như như sử dụng thuốc kích thích phóng noãn, 
bơm tinh trùng vào buồng tử cung, thụ tinh trong 
ống nghiệm. Theo Martin J.A. tỷ lệ song thai của 
Mỹ năm 2013 là 3,37%, như vậy tỷ lệ song thai 
tăng 76% từ năm 1980 đến 2009 (1,89 – 3,32%), 
nhưng nhìn chung ổn định giai đoạn 2009 – 2012 
[9]. Theo y văn lẫn các nghiên cứu của nhiều tác 
giả trong nước và ngoài nước đều xác định các 
yếu tố liên quan làm tăng tỷ lệ song thai cũng như 
đa thai do nhiều yếu tố như tuổi mẹ, số lần mang 
thai, chiều cao, chỉ số khối cơ thể trước mang thai, 
chủng tộc...
Trong song thai thì nguy cơ lớn nhất vẫn là sinh 
non và trọng lượng sơ sinh thấp: Nguy cơ sinh non 
trước 37 tuần gấp 10,8 lần, trước 32 tuần gấp 7,7 
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
NGUYỄN THANH HIỀN, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY
30
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
sản Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Đại học 
Y Dược Huế từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2016.
Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Sản phụ được khám và siêu âm chẩn đoán 
song thai.
- Tuổi thai ≥ 22 tuần: Tuổi thai được tính dựa 
vào ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng hoặc theo siêu 
âm thai 3 tháng đầu.
- Sản phụ vào điều trị nội trú và kết thúc thai kỳ 
tại bệnh viện.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Song thai có ít nhất 1 thai chết trong tử cung.
Cỡ mẫu: Chọn mẫu toàn bộ trong thời gian 
nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu 
theo phương pháp mô tả cắt ngang có theo dõi.
Các bước tiến hành
-Bước 1: Tiếp nhận và thăm khám các sản phụ 
vào điều trị và kết thúc thai kỳ.
-Bước 2: Điều trị
+ Đối với những sản phụ chưa đủ tháng (< 37 
tuần) có dấu hiệu dọa sinh non hoặc có các bệnh 
lý kèm (tiền sản giật, rau tiền đạo, Basedow,..: tiến 
hành điều trị đến thời điểm kết thúc thai kỳ sẽ đánh 
giá tình trạng mẹ và thai để quyết định phương 
pháp sinh.
+ Đối những sản phụ mang song thai đủ tháng 
chuyển dạ: Đánh giá tình trạng mẹ và thai để quyết 
định kết thúc thai kỳ đúng chỉ định
-Bước 3: Đánh giá kết quả kết thúc thai kỳ, đánh 
giá các biến chứng trên mẹ và thai.
Xử lý số liệu: 
Nhập số liệu vào phần mềm Microsoft Excel 
2007. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0
3. Kết quả
3.1 Tỷ lệ sinh song thai
Trong thời gian nghiên cứu từ ngày 01/6/2014 
đến ngày 01/6/2016 tại Khoa Phụ sản Bệnh viện 
Đại học Y Dược Huế và Bệnh viện Trung ương Huế 
có 25.815 sản phụ đến sinh.
 Trong đó tỷ lệ sinh song thai tại Bệnh viện Đại 
học Y Dược Huế là 0,6%. 
 Tỷ lệ sinh song thai tại Bệnh viện Trung ương 
Huế là 1,2%.
 Tỷ lệ sinh song thai chung là 0,9%.
3. 2 Các yếu tố liên quan song thai
Tuổi sản phụ phân bố tập trung nhất ở nhóm 26 
– 30 tuổi chiếm 30,6%. Ở nhóm tuổi dưới 20 chiếm 
5,1%. Tuổi trung bình là 29,1 ± 5,1, thấp nhất là 
17 tuổi, cao nhất là 42 tuổi.
Số sản phụ có số lần mang thai từ 2 lần trở lên 
chiếm 59,1%. Số sản phụ sinh con so là 40,9%. Số 
lần mang thai trung bình là 2,0 ± 1,1, cao nhất là 
6 lần, thấp nhất là 1 lần.
Có 64,2% sản phụ mang song thai không 
rõ nguyên nhân. Sản phụ có tiền sử dùng thuốc 
tránh thai chiếm 12,8%. Số sản phụ có tiền sử 
gia đình nội ngoại sinh song thai, đa thai là 
11,9%. Sản phụ dùng thuốc kích thích phóng 
noãn và điều trị vô sinh là 7,7%. Sản phụ là con 
song thai chiếm 2,1% và chồng là con song thai 
chiếm 0,9%. Nhóm sản phụ có tiền sử đã sinh 
song thai chiếm 0,4%.
3.3 Kết quả kết thúc thai kỳ ở các sản 
phụ song thai
Các phương pháp sinh song thai và các mối 
liên quan
Biểu đồ 1: Tuổi của sản phụ
Số lần mang thai (lần) n % ± SD (lần)
1 96 40,9
2,0 ± 1,1
(1 – 6) 
2 75 31,9
≥ 3 64 27,2
Tổng 235 100
Bảng 1: Số lần mang thai của các sản phụ 
Tiền sử n %
Dùng thuốc tránh thai ngừng đột ngột 30 12,8
Tiền sử gia đình sinh song thai/đa thai 28 11,9
Dùng thuốc kích thích phóng noãn và áp dụng 
các biện pháp hỗ trợ sinh sản 18 7,7
Sản phụ là con song thai 5 2,1
Chồng là con song thai 2 0,9
Đã sinh song thai/đa thai 1 0,4
Không rõ nguyên nhân 151 64,2
Tổng 235 100
Bảng 2: Tiền sử bản thân và gia đình
Chúng tôi ghi nhận sản phụ sinh thường 
chiếm 21,7%, mổ lấy thai 71,5% và sinh thủ 
thuật là 6,8%.
Phương pháp sinh không liên quan các yếu tố 
tuổi mẹ và số lần mang thai, sự khác biệt không có 
ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Phương pháp sinh 
trong song thai có liên quan vào các yếu tố: Tuổi 
thai, bệnh lý mẹ kèm theo, ngôi thai, sự khác biệt 
có ý nghĩa với p <0,05.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 28 - 34, 2017
31
Nhóm chỉ định n %
Chỉ định do thai 100 59,5
Chỉ định do mẹ 54 32,1
Chỉ định do nguyên nhân xã hội 10 6,0
Chỉ định do phần phụ của thai 4 2,4
Tổng 168 100
Bảng 4: Chỉ định mổ lấy thai
Biểu đồ 2: Phương pháp sinh song thai
Liên quan
Phương pháp sinh
Tổng pSinh đường 
âm đạo Mổ lấy thai
Tuổi mẹ
≤ 20 4(33,3%) 8(66,7%) 12(5,1%)
p>0,05
21 – 25 15(27,3%) 40(72,7%) 55(23,4%)
26 – 30 18(25,0%) 54(75,0%) 72(30,6%)
31 – 35 23(33,8%) 45(66,2%) 68(28,9%)
> 35 7(25,0%) 21(75,0%) 28(11,9%)
Tổng 67(28,5%) 168(71,5%) 235(100%)
Số lần 
mang 
thai
1 23(24,0%) 73(76,0%) 96(40,9)
p>0,05
2 21(28,0%) 54(72,0%) 75(31,9)
≥ 3 23(35,9%) 41(64,1%) 64(27,2)
Tổng 67(28,5%) 168(71,5%) 235(100)
Bệnh lý 
mẹ
Có 11(15,1) 62(84,9) 73(31,1)
p<0,05Không 56(34,6) 106(65,4) 162(68,9)
Tổng 67(28,5) 168(71,5) 235(100)
Tuổi thai 
(tuần)
< 37 30(48,4) 32(51,6) 62(26,4)
p<0,05≥ 37 37(21,4) 136(78,6) 173(73,6)
Tổng 67(28,5) 168(71,5) 235(100)
Ngôi thai
Ngôi 1 là ngôi đầu 64(31,4) 140(68,6) 204(86,8)
p<0,05Ngôi 1 không là ngôi đầu 3 (9,7) 28(90,3) 31(13,2)
Tổng 67(28,5) 168(71,5) 235(100)
Bảng 3: Liên quan giữa một số yếu tố và phương pháp sinh
- Nhóm chỉ định mổ lấy thai nguyên nhân do 
thai chiếm tỷ lệ cao nhất 59,5% trong đó nguyên 
nhân 2 thai vướng, chèn nhau chiếm tỷ lệ cao nhất 
26,2%. Nhóm chỉ định mổ lấy thai nguyên nhân do 
mẹ 32,1%, trong đó nhóm mẹ có vết mổ cũ chuyển 
dạ cao nhất 13,7%. Đặc biệt nhóm chỉ định mổ 
lấy thai vì lý do xã hội (nguyện vọng xin mổ, vô 
sinh, con quý, tiền sử sản khoa xấu..) chiếm tỷ lệ 
khá cao 6,0% đứng hàng thứ 6 trong nhóm các chỉ 
định mổ lấy thai.
Tình trạng trẻ sau sinh
Chỉ số Apgar từ 8 – 10 điểm ở trẻ sơ sinh thứ 
nhất chiếm 80,9% và ở trẻ sơ sinh thứ 2 chiếm 
80,4%. Chỉ số Apgar từ 4 – 7 điểm ở trẻ sơ sinh thứ 
nhất chiếm 19,1 % và ở trẻ sơ sinh thứ hai chiếm 
19,6%. Không có trường hợp nào cả 2 trẻ có chỉ số 
Apgar từ 0 – 3 điểm.
Trọng lượng sinh của trẻ sơ sinh dưới 2500 
gr chiếm 60,2%, trọng lượng của trẻ sơ sinh dưới 
2000 gr chiếm 17,2%.
Mức chênh lệch trọng lượng thai < 10% có tỷ 
lệ cao 57,4%, chênh lệch trọng lượng hai thai < 
20% có tỷ lệ cao 84,6% và nhóm chênh lệch trọng 
lượng thai ≥ 30% chiếm 7,2%.
Số trẻ có bệnh lý sau sinh chiếm 20,6% trong 
Tình trạng sơ sinh
Điểm
Trẻ sơ sinh thứ nhất Trẻ sơ sinh thứ hai
n % n %
4 – 7 45 19,1 46 19,6
8 – 10 190 80,9 189 80,4
Tổng 235 100 235 100
Bảng 5: Chỉ số Apgar trẻ sau sinh
Trọng lượng (gram)
Trẻ sơ sinh thứ nhất Trẻ sơ sinh thứ hai Tổng
N % n % n %
< 1500 13 5,5 10 4,3 23 4,9
1500 – 1999 30 12,8 28 11,9 58 12,3
2000 – 2499 67 28,5 88 37,4 155 33,0
2500 – 2999 100 42,6 83 35,3 183 38,9
≥ 3000 25 10,6 26 11,1 52 10,9
Tổng 235 100 235 100 470 100
Bảng 6: Trọng lượng trẻ sơ sinh
Mức độ chênh lệch trọng lượng n %
< 10% 113 57,4
10 – < 20% 64 27,2
20 – < 30% 19 8,1
≥ 30% 17 7,2
Tổng 235 100
Bảng 7: Mức độ chênh lệch trọng lượng giữa hai thai
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
NGUYỄN THANH HIỀN, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY
32
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
đó nhiễm trùng sơ sinh chiếm 10,6%, suy hô hấp 
chiếm 6%. Tử vong sơ sinh chiếm 0,9%.
Biến chứng trước sinh: Biến chứng thiếu máu 
chiếm 28,1%. tiền sản giật chiếm 18,3%,
Biến chứng trong khi sinh: Ối vỡ sớm chiếm 
22,6%, sa dây rốn chiếm 0,4%, không có trường 
hợp nào vỡ tử cung.
Biến chứng sau sinh: Tỷ lệ sót rau sau sinh 
thường chiếm 26,9%, sau mổ 0,6%, băng huyết 
5,5% trong đó sau sinh thường 9%, sau mổ 4,2%.
4. Bàn luận
4.1 Tỷ lệ sinh song thai và các yếu tố 
liên quan
Tỷ lệ sinh song thai trong nghiên cứu của chúng 
tôi là 0,9%. Nguyễn Thị Lan Hương và Nguyễn 
Thanh Phong nhận xét về tình hình sinh song thai 
tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong 6 tháng 
cuối năm 2015 có 618 sản phụ sinh song thai, 
tỷ lệ sinh song thai 5,7% [2]. Điều này có thể do 
cách chọn đối tượng nghiên cứu có khác nhau. Để 
phân tích các yếu tố liên quan mang song thai tự 
nhiên, đồng thời cũng như các đặc điểm lâm sàng, 
cận lâm sàng của song thai, đặc biệt để phân tích 
các đặc điểm kết thúc thai kỳ ở các sản phụ song 
thai chúng tôi không chọn những trường hợp song 
thai có một thai lưu hoặc hai thai lưu nên số lượng 
Tình trạng trẻ sơ sinh Số lượng Tỷ lệ %
Không bệnh lý 373 79,4
Bệnh lý
Nhiễm trùng 50 10,6
Suy hô hấp 28 6,0
Vàng da 12 2,6
Tử vong sau sinh 4 0,9
Dị tật bẩm sinh 3 0,6
Tổng số trẻ 470 100
Bảng 8: Bệnh lý sau sinh của trẻ
Phương pháp sinh
Biến chứng
Sinh đường âm đạo Mổ lấy thai Chung
N % n % n %
Biến chứng 
trước sinh
Thiếu máu trước sinh 16 23,9 50 29,8 66 28,1
Tiền sản giật 7 10,4 34 20,2 43 18,3
Rau tiền đạo 0 0 10 6,0 10 4,3
Biến chứng 
trong sinh
Ối vỡ non, ối vỡ sớm 20 29,9 33 19,6 53 22,6
Sa dây rốn 1 1,5 0 0 1 0,4
Biến chứng 
sau sinh
Sót rau 18 26,9 1 0,6 19 8,1
Đờ tử cung 6 9,0 8 4,8 14 6,0
Băng huyết 6 9,0 7 4,2 13 5,5
Rau bám chặt, rau cầm tù 0 0 2 1,2 2 0,9
Nhiễm trùng hậu sản 0 0 1 0,6 1 0,4
Bảng 9: Biến chứng của song thai đối với mẹ
sản phụ song thai trong mẫu nghiên cứu đã giảm 
xuống, đồng thời đặc điểm song thai phụ thuộc yếu 
tố địa dư và mô hình bệnh nhân tại mỗi Bệnh viện 
tại các thời điểm cũng khác nhau. Mặt khác nghiên 
cứu gần đây của Smith thông qua các dữ liệu điều 
tra dân số thì tỷ lệ mang song thai tự nhiên của 
Việt Nam được ghi nhận thấp nhât nghiên cứu với 
6,2/1000 trường hợp sinh[13].
Tuổi người mẹ là một trong những yếu tố nguy 
cơ quan trọng đối với song thai cũng như đa thai. 
Theo biểu đồ 1, tuổi sản phụ phân bố tập trung nhất 
ở nhóm 26 – 30 tuổi chiếm 30,6%. Với một số lượng 
đáng kể phụ nữ có thai do thành công của điều trị vô 
sinh dẫn đến tuổi các sản phụ sinh song thai thường 
lớn hơn các sản phụ sinh một thai. Theo nghiên cứu 
mới nhất của Nguyễn Thị Lan Hương và Nguyễn 
Thanh Phong thì đẻ song thai gặp nhiều nhất ở lứa 
tuổi 25 – 29 và 30 – 34 [2]. Tại Việt Nam, sản phụ 
đẻ ≥ 3 lần có nguy cơ đẻ song thai tăng gấp 1,47 
lần so với nhóm đẻ < 3 lần (OR = 1,47; 95% CI: 1,04 
– 2,07) [4]. Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận sản 
phụ có số lần mang thai từ 2 lần trở lên chiếm 59,1%, 
sản phụ sinh con so là 40,9%. Antsaklis ghi nhận một 
sự gia tăng liên tục số lần mang thai trong song thai 
trong một khoảng thời gian 30 năm[6].
Về mặt yếu tố tiền sử bản thân và gia đình: Qua 
nghiên cứu có 5/235 trường hợp sản phụ là con song 
thai chiếm tỷ lệ 2,1 % sản phụ sinh song thai, và có 
2/235 trường hợp người chồng là con song thai, kết 
quả này phù hợp với nghiên cứu của White và cộng 
sự (1964): Bản thân vợ là con song thai thì sinh song 
thai với tỷ lệ 1/58 và chồng là 1/116 [14].Tiền sử 
sản phụ đã sinh song thai có 1 trường hợp chiếm 
0,4%, tiền sử gia đình nội ngoại đã có người sinh 
song thai chiếm 11,9%. Tỷ lệ dùng thuốc kích thích 
phóng noãn và điều trị vô sinh qua nghiên cứu của 
chúng tôi chiếm tới 7,7% số trường hợp sinh song 
thai. Theo tác giả Lê Thị Bích Ngọc, tỷ lệ này ở Bệnh 
viện Trung ương Huế là 2,97% thì nghiên cứu của 
chúng tôi là cao hơn [3]. Điều này có thể giải thích 
được bởi nguyên do nhu cầu điều trị vô sinh ngày 
càng tăng và khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế 
ngày càng phát triển nên việc sử dụng thuốc kích thích 
phóng noãn ngày càng phổ biến ở nước ta hiện tại 
cũng như tương lai. Chúng tôi ghi nhận có tới 12,8% 
sản phụ sinh song thai có sử dụng thuốc tránh thai 
ngừng đột ngột, không rõ loại chi tiết nhưng chủ yếu 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 28 - 34, 2017
33
là dạng thuốc tránh thai định kỳ. Theo tác giả Hoàng 
Ngọc Tú và Nguyễn Vũ Quốc Huy ghi nhận trong 
nghiên cứu tình hình đa thai thì tỷ lệ dùng thuốc tránh 
thai tới 21,05% [5]. Rothman cho rằng song thai hai 
noãn hay gặp ở phụ nữ sau ngừng thuốc tránh thai 1 
tháng, ở những tháng sau hiện tượng này ít xảy ra, tỷ 
lệ song thai tăng khoảng 2 lần đối với những sản phụ 
dùng thuốc tránh thai trên 6 tháng [10].
4.2 Đặc điểm kết thúc thai kỳ trong 
song thai
Theo biểu đồ 2, sinh đường âm đạo chiếm tỷ lệ 
28,9% ở thai thứ nhất và 28,5% ở thai thứ hai (có 
1 trường hợp thai thứ nhất sinh thường, thai thứ hai 
chuyển mổ). Tỷ lệ sinh thủ thuật ở thai thứ nhất chiếm 
0,4%, ở thai thứ hai chiếm 6,8%. Sinh can thiệp ở 
thai thứ nhất này là nội xoay thai, xảy ra ở trường 
hợp: Sản phụ mang thai con so 28 tuần vào viện vì 
dọa sinh non, quá trình điều trị sản phụ chuyển dạ 
sinh non khó tránh, ối vỡ lúc cổ tử cung mở hết có 
tình trạng sa dây rốn, ngôi ngược nên tiến hành đại 
kéo thai thai thứ nhất. Tỷ lệ mổ lấy thai ở thai thứ nhất 
chiếm 71,1% và ở thai thứ hai là 71,5%. Phương 
pháp can thiệp sinh thai thứ hai 100% (16/16) là 
nội xoay thai, không có trường hợp nào đặt forcep 
sản khoa. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương 
và Nguyễn Thanh Phong trong 6 tháng cuối năm 
2015 tỷ lệ sinh thường, sinh thủ thuật đối với thai thứ 
nhất là 18,2%, 0,2% và đối với thai thứ hai lần lượt 
là 18,4%, 0% [2]. Qua đó nhận xét được tình hình 
sinh thường song thai ngày càng thấp trong song 
thai. Bamberg và cộng sự (2012) nghiên cứu 1239 
trường hợp song thai tại Đức thì tỷ lệ sinh đường âm 
đạo chiếm 33,2%, mổ lấy thai chiếm 66,8% trong 
đó mổ lấy thai ở nhóm sản phụ song thai do điều trị 
vô sinh cao khác biệt có ý nghĩa với nhóm sản phụ 
mang song thai tự nhiên (72,3% và 63,9%) [7].
Tình hình trẻ sau sinh:
Trong sinh song thai do thời gian sổ kéo dài hơn 
và tỷ lệ can thiệp cao hơn nên tỷ lệ trẻ bị ngạt (Agar 
≤ 7 điểm) cao hơn so với một thai, nhất là đối với 
thai thứ hai, điều này phù hợp với những ghi nhận 
của các tác giả Nguyễn Thị Kiều Oanh (16,1%) và 
trong y văn [4]. So với kết quả của Lê Thị Bích Ngọc 
thì tỷ lệ ngạt sơ sinh đối với thai thứ nhất là 29,17% 
và đối với thai thứ hai là 46% thì kết quả của chúng 
tôi thấp hơn [3]. Có lẽ do tỷ lệ theo dõi sinh đường 
âm đạo trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn, 
đối với non tháng dùng thuốc trưởng thành phổi 
sớm, sử dụng các phương tiện chẩn đoán liên quan 
sức khỏe thai, tiên lượng cuộc đẻ góp phần hạn chế 
được những thai kỳ có nguy cơ sinh ngạt.
Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân là yếu tố nguy cơ tử vong 
cao của trẻ có thể dẫn đến suy dinh dưỡng về sau 
ảnh hưởng sự phát triễn của trẻ, đặc việt là nhóm 
trẻ có cân nặng dưới 2000 gram. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi tỷ lệ nhóm này là 17,2% thấp hơn 
nghiên cứu của Lê Thị Bích Ngọc và Hoàng Ngọc Tú 
trước đây tại Huế là 25,53% và 22,01%. Có lẽ tỷ lệ 
này ngày càng giảm do nhóm nghiên cứu có nghề 
nghiệp cán bộ nhân viên chiếm tỷ lệ cao, điều kiện 
về chăm sóc thai nghén, dinh dưỡng, sự hiểu biết 
các kiến thức và kỹ năng chăm sóc bản thân của các 
bà mẹ đã tốt hơn. Sự khác nhau về trọng lượng giữa 
hai thai trong song thai là vấn đề ngày càng được 
quan tâm. Sự chênh lệch trọng lượng giữa hai thai 
thường do hội chứng truyền máu cho – nhận giữa 
hai thai, trong hai thai có 1 thai chết lưu... Trong 
nghiên cứu này vì lý do thời gian cũng như giới hạn 
của đề tài, chúng tôi chỉ khảo sát sơ bộ về sự chênh 
lệch trọng lượng giữa hai thai chứ chưa đi sâu vào 
từng nguyên nhân tại sao có sự chênh lệch trọng 
lượng hai thai..Sự chênh lệch trọng lượng thai dù 
sao cũng chưa có mức chuẩn, hiện nay người ta 
đang dùng rộng rãi trọng lượng khác nhau từ 15 – 
20% và 30% đối với song thai sinh non [15]. Đây là 
yếu tố góp phần trong việc tiên lượng nguy cơ sinh 
non sớm trên các sản phụ mang song thai.
Tử vong sơ sinh trong nghiên cứu của chúng tôi 
chiếm 0,9% là do biến chứng của sinh thai cực non, 
nhiễm trùng, suy hô hấp Kết quả của chúng tôi 
tương tự của Hoàng Ngọc Tú là 0,87%. So với kết 
quả của Nguyễn Thị Hạnh là 6,3%, của Lê Thị Bích 
Ngọc là 1,58% thì tỷ lệ trẻ chết sau sinh của chúng 
tôi là thấp hơn có lẽ do việc khám chẩn đoán và xử lý 
kịp thời đã góp phần giảm tỷ lệ tử vong trẻ sau sinh.
Biến chứng song thai đối với mẹ
Biến chứng trước sinh: Theo Salvi và cộng sự thì 
tỷ lệ thiếu máu trong song thai tới 48% [11]. Kết quả 
của chúng tôi thấp hơn có thể do tình hình quản lý 
thai nghén tốt hơn trước đây, các sản phụ khám thai 
định kỳ, bổ sung viên sắt trong quá trình mang thai 
nên số sản phụ thiếu máu được điều trị sớm. Theo 
y văn tiền sản giật chiếm tỷ lệ 15 – 30% trong các 
trường hợp sinh song thai. Tỷ lệ sản phụ có tình trạng 
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
NGUYỄN THANH HIỀN, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY
34
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
tiền sản giật trong nghiên cứu chúng tôi là 18,3%. 
Biến chứng rau tiền đạo là 4,3% tương tự tỷ lệ của tác 
giả Lê Thị Bích Ngọc là 3,96%. Không có trường hợp 
song thai nào có biến chứng phù phổi cấp cũng như 
rong bong non trong thời gian nghiên cứu.
Biến chứng trong khi sinh: Ối vỡ sớm chiếm 
22,6%, không có trường hợp nào vỡ tử cung.Sa 
dây rốn chiếm tỷ lệ 0,4%, so với Lê Thị Bích Ngọc 
ghi nhận trong sinh song thai tỷ lệ sa dây rốn chiếm 
tỷ lệ 1,98% thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
thấp hơn có lẽ là chúng tôi nghiên cứu trên tất cả 
các trường hợp sinh song thai, sản phụ được theo 
dõi và xử trí kịp thời nên biến cố này ít xảy ra.
Biến chứng sau sinh: Băng huyết là nguy cơ lớn 
nhất ở sản phụ sau sinh song thai, một trong những 
tai biến sản khoa có thể dẫn đến hậu quả nghiêm 
trọng là tử vong mẹ. Theo Santana và cộng sự thì tỷ lệ 
băng huyết sau sinh trong song thai chiếm 3,4% nguy 
cơ cao 2,77 lần so với đơn thai [12], thì nghiên cứu 
của chúng tôi cho kết quả cao hơn là 5,5%. Kết quả 
chúng tôi thấp hơn tác giả Lê Thị Bích Ngọc (9,9%) và 
Hoàng Ngọc Tú (10,52%). Điều này có thể do nghiên 
cứu của chúng tôi khâu dự phòng chảy máu sau sinh 
trong song thai đã được thực hiện tốt, các sản phụ 
được xử lý tích cực giai đoạn III, xoa đáy tử cung liên 
tục, tăng go tử cung ngay sau sổ thai..
Các biến chứng về phía mẹ trong nghiên cứu 
thường ở mức độ nhẹ và không có trường hợp nào 
mẹ tử vong, phản ánh tình trạng công tác quản lý 
thai nghén tuyến cơ sở đã tiến hành tốt hơn, các cơ 
sở y tế có chẩn đoán và xử trí kịp thời.
5. Kết luận
- Tỷ lệ sinh song thai là 0,9%. Song thai ở sản 
phụ có tiền sử gia đình sinh song thai 11,9%, bản 
thân sản phụ là con song thai 2,1% và sản phụ có 
dùng thuốc kích thích noãn và biện pháp hỗ trợ 
sinh sản điều trị vô sinh chiếm 7,7%.
- Sản phụ sinh thường chiếm 21,7%, mổ lấy thai 
71,5% và sinh thủ thuật là 6,8% tổng số sản phụ 
sinh song thai.Phương pháp sinh trong song thai có 
liên quan vào các yếu tố: Tuổi thai, bệnh lý mẹ kèm 
theo, ngôi thai, trọng lượng thai, sự khác biệt có ý 
nghĩa với p <0,05. Phương pháp sinh không liên 
quan các yếu tố tuổi mẹ và số lần mang thai, sự 
khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Các biến chứng đối với mẹ: Thiếu máu chiếm 
28,9%, tiền sản giật chiếm 18,3%, băng huyết 
sau sinh chiếm 5,5%, sót rau chiếm 8,1%, đờ tử 
cung chiếm 6,0%.Biến chứng đối với trẻ: Sinh non 
31,5%, trẻ nhẹ cân < 2500gr chiếm tỷ lệ 60,2%, 
nhiễm trùng sau sinh chiếm 10,6%, suy hô hấp 
chiếm 6%, vàng da chiếm 2,6% và tử vong sơ sinh 
chiếm tỷ lệ 0,9%.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thị Hạnh (2004), Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của 
đẻ non trong song thai và cách xử trí song thai khi chuyển dạ tại Bệnh viện 
Phụ sản Trung ương từ 1/2003 - 6/2004, Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Chuyên 
khoa cấp II, Đại học Y Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Lan Hương và Nguyễn Thanh Phong (2016), “Nhận xét tình 
hình đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong sáu tháng cuối 
năm 2015”, Tạp chí Phụ Sản. tập 14 (01), tr. 80-85.
3. Lê Thị Bích Ngọc (2003), Nghiên cứu tình hình đa thai tại Khoa Phụ sản 
Bệnh viện Trung ương Huế, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược Huế.
4. Nguyễn Thị Kiều Oanh (2006), Tình hình song thai tại Bệnh viện Phụ 
sản Trung ương từ tháng 7/2004 đến tháng 6/2006, Luận văn Thạc sỹ Y 
học, Đại học Y Hà Nội.
5. Hoàng Ngọc Tú và Nguyễn Vũ Quốc Huy (2008), “Nghiên cứu đặc điểm 
lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả xử trí kết thúc chuyển dạ ở các trường 
hợp sinh đa thai”, Tạp chí Phụ Sản. 7(2), tr. 22-26.
6. Antsaklis A., Malamas F.M., Sindos M. (2013), “Trends in twin pregnancies 
and mode of delivery during the last 30 years: inconsistency between guidelines 
and clinical practice”, J Perinat Med. 41(4), pp. 355-64.
7. Bamberg C., Fotopoulou C., Neissner P., Slowinski T., Dudenhausen J.W., 
Proquitte H., et al (2012), “Maternal characteristics and twin gestation outcomes 
over 10 years: impact of conception methods”, Fertil Steril. 98(1), pp. 95-101.
8. Chauhan S.P., Scardo J.A., Hayes E., Abuhamad A.Z., Berghella V. (2010), 
“Twins: prevalence, problems, and preterm births”, Am J Obstet Gynecol. 
203(4), pp. 305-15.
9. Martin J.A., Hamilton B.E., Osterman M.J., Curtin S.C., Matthews T.J. 
(2015), “Births: final data for 2013”, Natl Vital Stat Rep. 64(1), pp. 1-65.
10. Rothman K.J. (1977), “Fetal loss, twinning and birth weight after oral-
contraceptive use”, The New England journal of medicine. 297(9), tr. 468-471.
11. Salvi A., Saini L., Mital P., Shekhawat U., Battar A., Gupta D. (2015), 
“Maternal and foetal outcome in twin pregnancy - A study at tertiary care teaching 
hospital”, International Journal of Sciences & Applied Research. 2(1), pp. 19-26.
12. Santana D.S., Cecatti J.G., Surita F.G., Silveira C., Costa M.L., Souza 
J.P., et al (2016), “Twin Pregnancy and Severe Maternal Outcomes: The World 
Health Organization Multicountry Survey on Maternal and Newborn Health”, 
Obstet Gynecol. 127(4), pp. 631-41.
13. Smits J., Monden C. (2011), “Twinning across the Developing World”, 
PLoS ONE. 6(9), pp. e25239.
14. White C., Wyshak G. (1964), “Inheritance in human dizygotic twinning”, N 
Engl J Med. 271, pp. 1003-5.
15. Yalcin H.R., Zorlu C.G., Lembet A., Ozden S., Gokmen O. (1998), 
“The significance of birth weight difference in discordant twins: a level to 
standardize?”, Acta Obstet Gynecol Scand. 77(1), pp. 28-31.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ty_le_mot_so_yeu_to_lien_quan_va_ket_qua_ket_thuc.pdf