Nghiên cứu trị số siêu âm Doppler động mạch rốn và động mạch não giữa thai nhi bình thường từ 38 đến 41 tuần

Mục tiêu: Xác lập các trị số bình thường của Doppler động mạch rốn

và động mạch não giữa của thai nhi từ 38 đến 41 tuần (chỉ số xung PI,

chỉ số trở kháng RI, tỉ lệ tâm thu/ tâm trương S/D).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành theo

phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 280 sản phụ có tuổi thai

từ 38 đến 41 tuần được chẩn đoán thai đủ tháng chuyển dạ bình thường

đến khám, sinh tại khoa sản Bệnh Viện Trường Đại Học Y Dược Huế từ

tháng 06/2015 đến tháng 07/2017.

Kết quả nghiên cứu: trong 280 sản phụ được đưa vào nghiên cứu. Kết

quả cho thấy rằng các trị số siêu âm Doppler động mạch rốn và động mạch

não giữa của thai nhi bình thường giảm dần về cuối thai kỳ hay giảm tỷ lệ

nghịch với tuổi thai. Đối với động mạch rốn : chỉ số S/D ở 38 tuần 2,47 ±

0,39 giảm còn 2,14 ± 0,18 ở thai 41 tuần, chỉ số RI ở 38 tuần 0,59 ± 0,07

giảm còn 0,52 ± 0,06 ở thai 41 tuần, chỉ số PI ở 38 tuần 0,94 ± 0,15 giảm

còn 0,78 ± 0,11 ở thai 41 tuần. Đối với động mạch não giữa : chỉ số S/D ở

38 tuần 4,44 ± 0,88 giảm còn 3,93 ± 0,44 ở thai 41 tuần, chỉ số RI ở 38 tuần

0,78 ± 0,05 giảm còn 0,73 ± 0,04 ở thai 41 tuần, chỉ số PI ở 38 tuần 1,72 ±

0,24 giảm còn 1,49 ± 0,14 ở thai 41 tuần.

Kết luận: Trị số siêu âm Doppler động mạch rốn và động mạch não giữa

của thai nhi bình thường giảm dần về cuối thai kỳ hay giảm tỷ lệ nghịch với

tuổi thai. Chỉ số Doppler (chỉ số xung PI, Chỉ số trở kháng RI, tỷ lệ S/D) của

động mạch não giữa cao hơn chỉ số Doppler của động mạch rốn cho thấy

rằng động mạch não giữa có độ trở kháng cao hơn động mạch rốn.

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu trị số siêu âm Doppler động mạch rốn và động mạch não giữa thai nhi bình thường từ 38 đến 41 tuần", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu trị số siêu âm Doppler động mạch rốn và động mạch não giữa thai nhi bình thường từ 38 đến 41 tuần

Nghiên cứu trị số siêu âm Doppler động mạch rốn và động mạch não giữa thai nhi bình thường từ 38 đến 41 tuần
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 71 - 77, 2017
71
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Trần Nguyên Tuấn, Lê Lam Hương 
Trường Đại Học Y Dược Huế
NGHIÊN CỨU TRỊ SỐ SIÊU ÂM DOPPLER
ĐỘNG MẠCH RỐN VÀ ĐỘNG MẠCH NÃO GIỮA
THAI NHI BÌNH THƯỜNG TỪ 38 ĐẾN 41 TUẦN
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trần Nguyên Tuấn, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác lập các trị số bình thường của Doppler động mạch rốn 
và động mạch não giữa của thai nhi từ 38 đến 41 tuần (chỉ số xung PI, 
chỉ số trở kháng RI, tỉ lệ tâm thu/ tâm trương S/D).
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành theo 
phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 280 sản phụ có tuổi thai 
từ 38 đến 41 tuần được chẩn đoán thai đủ tháng chuyển dạ bình thường 
đến khám, sinh tại khoa sản Bệnh Viện Trường Đại Học Y Dược Huế từ 
tháng 06/2015 đến tháng 07/2017.
Kết quả nghiên cứu: trong 280 sản phụ được đưa vào nghiên cứu. Kết 
quả cho thấy rằng các trị số siêu âm Doppler động mạch rốn và động mạch 
não giữa của thai nhi bình thường giảm dần về cuối thai kỳ hay giảm tỷ lệ 
nghịch với tuổi thai. Đối với động mạch rốn : chỉ số S/D ở 38 tuần 2,47 ± 
0,39 giảm còn 2,14 ± 0,18 ở thai 41 tuần, chỉ số RI ở 38 tuần 0,59 ± 0,07 
giảm còn 0,52 ± 0,06 ở thai 41 tuần, chỉ số PI ở 38 tuần 0,94 ± 0,15 giảm 
còn 0,78 ± 0,11 ở thai 41 tuần. Đối với động mạch não giữa : chỉ số S/D ở 
38 tuần 4,44 ± 0,88 giảm còn 3,93 ± 0,44 ở thai 41 tuần, chỉ số RI ở 38 tuần 
0,78 ± 0,05 giảm còn 0,73 ± 0,04 ở thai 41 tuần, chỉ số PI ở 38 tuần 1,72 ± 
0,24 giảm còn 1,49 ± 0,14 ở thai 41 tuần.
Kết luận: Trị số siêu âm Doppler động mạch rốn và động mạch não giữa 
của thai nhi bình thường giảm dần về cuối thai kỳ hay giảm tỷ lệ nghịch với 
tuổi thai. Chỉ số Doppler (chỉ số xung PI, Chỉ số trở kháng RI, tỷ lệ S/D) của 
động mạch não giữa cao hơn chỉ số Doppler của động mạch rốn cho thấy 
rằng động mạch não giữa có độ trở kháng cao hơn động mạch rốn.
Abstract 
UMBILICAL AND MIDDLE CEREBRAL ARTERIES 
DOPPLER IN NORMAL TERM PREGNANCY 
Objective: To indentify the value of fetal Umbilical and Cerebral ateries 
doppler by ultrasound in normal term pregnancy. (Pulsility Index, Resistant 
Index, S/D ratio).
TRẦN NGUYÊN TUẤN, LÊ LAM HƯƠNG
72
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Object and Methods of study: The cross- sectional study included 280 normal pregnancies between 
38 and 41 weeks of gestation without maternal and fetal complications in Obstretics and Gynecology 
Department, Hue University Hospital from 06/2015 to 07/2017. 
Results: There were 280 pregnancies in the study. We found that: a decrease of fetal umbilical and 
middle cerebral arteries Doppler during gestational ages. For Umbilical artery: S/D ratio decrease from 
2.47 ± 0.39 to 2.14 ± 0.18 at 38 and 41 weeks respectively, Resistant Index decrease from 0.59 ± 0.07 
to 0.52 ± 0.06 at 38 and 41 weeks respectively, Pulsility Index decrease from 0.94 ± 0.15 to 0.78 ± 
0.11 at 38 and 41 weeks respectively. For middle cerebral artery: S/D ratio decrease from 4.44 ± 0.88 
to 3.93 ± 0.44 at 38 and 41 weeks respectively, Resistant Index decrease from 0.78 ± 0.05 to 0.73 ± 
0.04 at 38 and 41 weeks respectively, Pulsility Index decrease from 1.72 ± 0.24 to 1.49 ± 0.14 at 38 
and 41 weeks respectively.
Conclusions: There was a decrease of fetal umbilical and middle cerebral arteries Doppler during 
gestational ages. The PI, RI, S/D ratio of middle cerebral artery Doppler was higher than PI, RI, S/D ratio 
of umbilical artery Doppler, so the middle cerebral atery have higher impedance than umbilical artery. 
1. Đặt vấn đề
Sự sinh trưởng và phát triển của thai nhi trong tử 
cung hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống tuần hoàn 
tử cung – rau – thai bao gồm động mạch tử cung 
người mẹ, tuần hoàn trong bánh rau, tuần hoàn 
động mạch rốn và hệ tuần hoàn của thai nhi. Bánh 
nhau là cơ quan trao đổi giữa mẹ và thai, trong 
phần lớn các trường hợp tử vong của thai nhi có thể 
do các nguyên nhân rối loạn ở mẹ (cao huyết áp, 
tiểu đường), bệnh lý bào thai (bất thường bẩm 
sinh, thai kém phát triển..), bệnh lý nhau thai hoặc 
biến chứng trong đẻ [1]. Bất kỳ tổn thương nào của 
tuần hoàn tử cung – thai - rau làm độ trở kháng 
tăng đều ảnh hưởng đến sự phát triển của thai, là 
nguyên nhân của thai chết lưu trong tử cung, là một 
yếu tố góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong, tỷ lệ bệnh 
tật, tỷ lệ các di chứng thần kinh, vận động và trí tuệ 
cho trẻ sơ sinh [2], [3], [4], [5].
Các phương pháp thăm dò thai bao gồm một 
số phương pháp phải can thiệp vào mẹ hoặc can 
thiệp vào thai như phương pháp chọc hút nước ối 
và phương pháp sinh thiết gai rau. Một số phương 
pháp không cần can thiệp như phương pháp siêu 
âm thai, phương pháp biểu đồ nhịp tim thai – cơn 
co tử cung, phương pháp định lượng các nội tiết 
và chuyển hóa của thai. Trong số đó phương pháp 
thăm dò không can thiệp cho thấy có nhiều lơi ích 
hơn do tính an toàn cho mẹ và thai [6], [7], [8].Tuy 
nhiên sử dụng những phương pháp trên để chẩn 
đoán suy thai thì đã muộn. Nhiều phương pháp 
thăm dò thai được áp dung để phát hiện sớm tình 
trạng thiếu oxy thai nhi, trong đó phương pháp 
siêu âm Doppler động mạch rốn kết hợp Doppler 
động mạch não giữa đóng vai trò quan trọng 
không chỉ để tiên đoán tình trạng thai mà còn đưa 
ra những quyết định thái độ xử trí đối với thai [2], 
[4], [8], [9].
Chính nhưng yếu tố đặc trưng mỗi dân tộc nên 
không thể lấy biểu đồ về chỉ số Doppler của nước 
này dùng cho nước khác. Chính vì yếu tố đặc trưng 
về thời điểm nên sau mỗi khoảng thời gian các 
nước phải làm lại biểu đồ của mình [10]. Mặt khác 
phổ Doppler thay đổi theo tuổi thai, vì thế từ giá trị 
về Doppler động mạch rốn, động mạch não giữa 
và tuổi thai sẽ xác lập được biểu đồ tương quan 
giữa doppler và tuổi thai bằng siêu âm để ứng 
dụng trong lâm sàng. Khi sử dụng siêu âm đo chỉ 
số Doppler sẽ đối chiếu lên biểu đồ để phát hiện 
sớm những trường hợp thai nghén nguy cơ cao giai 
đoạn sớm [9].
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 71 - 77, 2017
73
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Ở khu vực miền trung Việt Nam, các nghiên cứu 
về lĩnh vực này chưa nhiều, để có được các giá trị của 
các thông số Doppler trong thăm dò hệ thống tuần 
hoàn tử cung – rau - thai ở thai nghén bình thường 
phục vụ cho thực hành lâm sàng, vì vậy chúng tôi 
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu trị số siêu 
âm Dopller động mạch rốn và động mạch não giữa 
thai nhi bình thường từ 38 đến 41 tuần”.
2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành 
theo phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Tiêu chuẩn chọn bệnh: 
- Sản phụ đến khám thai và sinh tại Bệnh Viện 
Trường Đại Học Y Dược Huế tuổi thai từ 38 đến 
41 tuần dựa vào ngày đầu của kỳ kinh cuối (kinh 
nguyệt đều) hoặc tính tuổi thai dựa vào siêu âm 
trong ba tháng đầu (nếu không nhớ chính xác 
ngày đầu kỳ kinh cuối) .
- Không mắc bệnh lý mạn tính hay bệnh lý do 
thai nghén gây ra .
- Đơn thai sống.
- Sản phụ đồng ý tham gia vào nghiên cứu và 
thông tin được ghi đầy đủ trong hồ sơ bệnh án.
Phương pháp tiến hành: 
Tiến hành khám lâm sàng và cận lâm sàng để 
chẩn đoán thai bình thường dựa vào tuổi thai (từ 
38 đến 41 tuần), đo bề cao tử cung vòng bụng, 
siêu âm thại đánh giá các thông số về sinh trắc 
học của thai nhi trong giới hạn bình thường (đường 
kính lưỡng đỉnh, chu vi vòng đầu, chu vi vòng 
bụng, chiều dài xương đùi, chỉ số ối, tình trạng 
bánh nhau và ước lượng cân nặng của thai nhi). 
Nếu các chỉ số bình thường và cân nặng thai nhi 
nằm giữa đường bách phân vị thứ 10 đến thứ 90 
thì tiến hành siêu âm Doppler. 
Những thai phụ sau khi đủ các tiêu chuẩn trên 
sẽ được chọn vào nghiên cứu tiến hành siêu âm 
Doppler các động mạch rốn và động mạch não 
giữa của thai nhi đo các chỉ số xung (PI), chỉ số 
trở kháng (RI), chỉ số S/D bằng máy siêu âm hiệu 
Siemens Acuson X300 premium edition với đầu dò 
rẽ quạt 3,5 MHz.
Đánh giá kết quả kết thúc thai kỳ: theo dõi tình 
trạng mẹ và thai cho đến lúc sinh, đánh giá tình 
trạng thai ngay sau đẻ (cân nặng sơ sinh, tuổi 
chấm dứt thai kỳ,phương pháp chấm dứt thai kỳ, 
chỉ số Apgar trẻ sơ sinh phút thứ 1 và phút thứ 5, 
giới tính thai nhi, tình trạng phần phụ thai).
Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0, 
các chỉ số Doppler thu thập sẽ được xử lý theo các 
thuật toán: Phép tính trị số trung bình ± độ lệch 
chuẩn của các chỉ số xung (PI), chỉ số trở kháng 
(RI), tỉ lệ S/D của động mạch rốn và động mạch 
não giữa của thai nhi. Từ các giá trị bách phân vị 
nói trên sẽ thiết lập biểu đồ tổng hợp các trị số của 
các chỉ số Doppler thay đổi theo tuổi thai để ứng 
dụng trong lâm sàng.
3. Kết quả
3.1 Đặc điểm của thai phụ và trẻ sơ 
sinh trong nhóm nghiên cứu
Tuổi mẹ chủ yếu nằm trong khoảng 20- 35 tuổi, 
chiếm 88,9% các trường hợp độ tuổi trung bình 
trong nhóm nghiên cứu 28,09 ± 4,73.
Chủ yếu là đẻ con so chiếm 48,9 %, con rạ đẻ lần 
1 chiếm 37,5 % và tỷ lệ con rạ đẻ lần 2 chiếm 13,6%.
Các đối tượng trong nhóm nghiên cứu sinh 
đường âm đạo chiếm 45,7%. Trong đó, mổ lấy thai 
chiếm 54,3 %. Tuy nhiên, các chỉ định mổ lấy thai 
chủ yếu do các nguyên nhân về giải phẫu người 
mẹ hoặc bất lợi trong quá trình theo dõi chuyển dạ. 
Tất cả các trường hợp phẫu thuật lấy thai đều có 
chỉ số Apgar của trẻ sơ sinh sau sinh bình thường.
Nhóm tuổi n %
< 20 10 3,6
20 – 35 249 88,9
> 35 21 7,5
 X ± SD 28,09 ± 4,73
Tổng 280 100
Bảng 1: phân bố thai phụ theo nhóm tuổi
Số lần sinh n %
Con so 137 48,9
Con rạ đẻ 1 lần 105 37,5
Con rạ đẻ ≥ 2 lần 38 13,6
Tổng 280 100
Bảng 2: Số lần sinh
Phương pháp sinh n %
Mổ lấy thai 152 54,3
Sinh đường âm đạo 128 45,7
Tổng 280 100
Bảng 3: Phương pháp đẻ
Trị số trở kháng (RI) của động mạch rốn giảm dần 
về cuối của thai kỳ hay giảm tỷ lệ nghịch với tuổi thai. 
Chỉ số trở kháng RI : 0,59 – 0,52 ở 38 – 41 tuần.
Đa số các giá trị nghiên cứu của CSTK (RI) nằm 
trong khoảng bách phân vị 5% và 95%. 
3.2.3 Chỉ số xung PI của động mạch rốn 
Trị số xung (PI) của động mạch rốn giảm dần 
về cuối của thai kỳ hay giảm tỷ lệ nghịch với tuổi 
thai. Chỉ số xung PI : 0,94 – 0,78 ở 38 – 41 tuần.
Đa số các giá trị nghiên cứu của CSX (PI) nằm 
trong khoảng bách phân vị 5% và 95%. 
3.3 Các chỉ số Doppler động mạch 
não giữa 
3.3.1 Tỷ số S/D của động mạch não giữa
Tỷ số S/D của động mạch não giữa giảm dần 
về cuối thai kỳ hay tỷ lệ nghịch với tuổi thai. Chỉ số 
S/D : 4,44 – 3,93 ở 38 – 41 tuần.
TRẦN NGUYÊN TUẤN, LÊ LAM HƯƠNG
74
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Trọng lượng trẻ sơ sinh chủ yếu từ 2500 đến 
3500 gram chiếm 77,9%. Không có trường hợp 
nào trẻ sơ sinh có trọng lượng dưới 2500 gram.
Toàn bộ các trường hợp sinh thường hay mổ 
lấy thai thì trẻ sơ sinh đều có chỉ số Apgar ở phút 
thứ nhất trên 7 điểm và ở phút thứ 5 trên 8 điểm. 
Không có trường hợp nào bị ngạt (chỉ số Apgar 
phút thứ nhất dưới 7 điểm).
3.2 Các chỉ số Doppler động mạch rốn 
3.2.1 Tỷ số S/D của động mạch rốn 
Tỷ số S/D của động mạch rốn giảm dần về cuối 
thai kỳ hay tỷ lệ nghịch với tuổi thai. Chỉ số S/D: 
2,47 - 2,14 ở 38-41 tuần.
Đa số các giá trị nghiên cứu về tỷ số S/D nằm 
trong khoảng đường bách phân vị 5% và 95%.
3.2.2 Chỉ số trở kháng RI của động mạch rốn 
Trọng lượng trẻ sơ sinh n %
< 2500 gram 0 0
2500 gram – 3500 gram 218 77,9
> 3500 gram 62 22,1
Tổng 280 100
Bảng 4: Cân nặng trẻ sơ sinh sau sinh
Chỉ số Apgar n %
Phút thứ 1 ≥ 7 điểm 280 100
Phút thứ 5 ≥ 8 điểm 280 100
Bảng 5: Chỉ số Apgar
Tuổi thai
(tuần) n
X SD Bách phân vị trung bình TSSD
5% 25% 75% 95%
38 70 2,47 0,39 1,83 2,24 2,77 2,92
39 70 2,28 0,30 1,79 2,06 2,46 2,94
40 70 2,22 0,26 1,97 2,01 2,46 2,51
41 70 2,14 0,18 1,73 2,05 2,23 2,35
Bảng 6: Tỷ số S/D của động mạch rốn theo tuổi thai
Biểu Đồ 1: Biểu đồ phân bố tỷ số S/D của động mạch rốn theo tuổi thai
Tuổi thai
(tuần) n
X SD Bách phân vị trung bình CSTK (RI)
5% 25% 75% 95%
38 70 0,59 0,07 0,45 0,55 0,64 0,66
39 70 0,55 0,05 0,45 0,52 0,59 0,66
40 70 0,55 0,05 0,49 0,52 0,59 0,65
41 70 0,52 0,06 0,42 0,49 0,55 0,64
Bảng 7: Chỉ số trở kháng RI của động mạch rốn theo tuổi thai
Tuổi thai
(tuần) n
X SD Bách phân vị trung bình CSX
5% 25% 75% 95%
38 70 0,94 0,15 0,70 0,80 1,04 1,15
39 70 0,87 0,12 0,68 0,76 0,96 1,11
40 70 0,81 0,13 0,72 0,75 0,91 0,94
41 70 0,78 0,11 0,57 0,71 0,85 0,94
Bảng 8: Chỉ số xung PI của động mạch rốn theo tuổi thai
Tuổi thai
(tuần) n
X SD Bách phân vị trung bình TSSD
5% 25% 75% 95%
38 70 4,44 0,88 3,37 3,62 4,79 5,95
39 70 4,16 0,41 3,37 3,91 4,35 4,81
40 70 4,07 0,45 3,41 3,83 4,31 4,62
41 70 3,93 0,44 3,02 3,58 4,20 4,51
Bảng 9: Tỷ số S/D của động mạch não giữa theo tuổi thai
Biểu Đồ 2: Biểu đồ phân bố chỉ số trở kháng RI của động mạch rốn theo tuổi thai
Biểu Đồ 3: Biểu đồ phân bố chỉ số xung PI của động mạch rốn theo tuổi thai
Đa số các giá trị nghiên cứu về tỷ số S/D nằm 
trong khoảng đường bách phân vị 5% và 95%.
3.3.2 Chỉ số trở kháng RI của động mạch não giữa 
Trị số trở kháng (RI) của động mạch não giữa 
giảm dần về cuối của thai kỳ hay giảm tỷ lệ nghịch 
với tuổi thai. Chỉ số trở kháng RI : 0,78 – 0,73 ở 
38 – 41 tuần.
Đa số các giá trị nghiên cứu của CSTK (RI) nằm 
trong khoảng bách phân vị 5% và 95%. 
3.3.3 Chỉ số xung PI của động mạch não giữa: 
Trị số xung (PI) của động mạch não giữa 
giảm dần về cuối của thai kỳ hay giảm tỷ lệ 
nghịch với tuổi thai. Chỉ số xung PI : 1,72 – 1,49 
ở 38 – 41 tuần.
Đa số các giá trị nghiên cứu của CSX (PI) nằm 
trong khoảng bách phân vị 5% và 95%.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 71 - 77, 2017
75
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Tuổi thai
(tuần) n
X SD Bách phân vị trung bình CSTK
5% 25% 75% 95%
38 70 0,78 0,05 0,69 0,74 0,80 0,87
39 70 0,76 0,04 0,67 0,75 0,79 0,81
40 70 0,73 0,04 0,68 0,71 0,76 0,79
41 70 0,73 0,04 0,67 0,72 0,76 0,78
Bảng 10: Chỉ số trở kháng RI của động mạch não giữa theo tuổi thai
Tuổi thai
(tuần) n
X SD Bách phân vị trung bình CSX
5% 25% 75% 95%
38 70 1,72 0,24 1,40 1,43 1,89 2,04
39 70 1,65 0,17 1,28 1,49 1,79 1,87
40 70 1,55 0,18 1,27 1,43 1,64 1,80
41 70 1,49 0,14 1,26 1,40 1,59 1,70
Bảng 11: Chỉ số xung PI của động mạch não giữa theo tuổi thai 
Biểu Đồ 4 : Biểu đồ phân bố tỷ số S/D của động mạch não giữa theo tuổi thai
Biểu Đồ 5: Biểu đồ phân bố CSTK RI của động mạch não giữa theo tuổi thai
Biểu Đồ 6: Biểu đồ phân bố chỉ số xung PI của động mạch não giữa theo tuổi thai
4. Bàn luận
Trong 280 trường hợp thai phụ bình thường 
được nghiên cứu này, từ tuổi thai 38 đến 41 
tuần cho thấy rằng các trị số Doppler của động 
mạch rốn được sử dụng ( CSTK RI, CSX PI, TSSD 
) giảm một cách đều đặn về cuối thai kỳ trong 
thai nghén bình thường. Kết quả nghiên cứu này 
phù hợp với kết quả nghiên cứu trong nước và 
trên thế giới. 
Tỷ lệ S/D động mạch rốn thay đổi theo tuổi 
thai, tuổi thai càng lớn thì tỷ lệ S/D càng giảm. 
Trong nghiên cứu này, tuổi thai từ 38 tuần đến 
41 tuần có tỷ lệ S/D giảm từ 2,47 xuống còn 
2,14. Theo Tạ Xuân Lan (2004), cho thấy tuổi 
thai càng tăng thì độ trở kháng càng giảm, tỷ lệ 
S/D giảm từ 2,43 xuống 1,95 ở tuổi thai 38 – 
41 tuần [4]. Trần Danh Cường (2007) chỉ số này 
cũng giảm dần về cuối thai kỳ từ 28 đến 41 tuần 
[2]. Chỉ số trở kháng của động mạch rốn trong 
nghiên cứu này cũng thay đổi theo tuổi thai. Tuổi 
thai càng tăng thì chỉ số trở kháng càng giảm, 
chỉ số RI giảm từ 0,59 xuống còn 0,52 ở tuổi thai 
38 – 41 tuần. Nghiên cứu này phù hợp với kết 
quả của nghiên cứu Tạ Xuân Lan (2004), Trần 
Danh Cường (2007) giảm dần về cuối thai kỳ 
từ 28 đến 41 tuần một cách có ý nghĩa [2], [4].
Chỉ số xung (PI) của động mạch rốn trong 
nghiên cứu này cũng thay đổi theo tuổi thai. Thai 
38 tuần là 0,94 và 41 tuần là 0,78. Phù hợp 
với nghiên cứu Tạ Xuân Lan ( 2004), Trần Danh 
Cường ( 2007) [2], [4].
Điều này phản ánh trở kháng tuần hoàn trong 
bánh rau giảm chứng tỏ tuần hoàn trong gai rau 
rất thuận lợi, dẫn đến sự trao đổi chất giữa mẹ 
và con trở nên dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi 
TRẦN NGUYÊN TUẤN, LÊ LAM HƯƠNG
76
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
cho sự phát triển của thai. Đây là hiện tượng sinh 
lý bình thường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển 
thai (sự tiêu thụ oxygen tăng dần theo tuổi thai).
Bano và cộng sự (2010) trên 90 trường hợp 
nghi ngờ thai CPTTTC thì nhóm có Doppler động 
mạch rốn bất thường tăng tỷ lệ tử vong chu sinh, 
tỷ lệ mổ lấy thai vì thai suy ở nhóm Doppler bất 
thường 66,7%, nhóm bình thường 33,6%. Giá trị 
chẩn đoán thai suy của Doppler động mạch rốn 
trong thai CPTTTC có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá 
trị tiên đoán âm tính và dương tính lần lượt là 
79,2%, 92,4%, 79,2% và 92,4% [11].
Najam và cộng sự (2016) nghiên cứu trên 150 
trường hợp thai kỳ nguy cơ cao thì giá trị chẩn 
đoán thai suy của Doppler động mạch rốn có 
độ nhạy 66,7%, độ đặc hiệu 78,0%, giá trị tiên 
đoán dương tính 74,9%, và giá trị tiên đoán âm 
tính 89,7%, tượng tự các giá trị chẩn đoán của 
động mạch não giữa là 72,7%, 78,1%, 54,6% và 
91,6%, của Doppler tỷ não rốn là 90,9%, 78,0%, 
52,6% và 97% [12].
Trong nghiên cứu này, kết quả trị số các chỉ 
số Doppler động mạch não giữa giảm từ từ về 
cuối của thai kỳ hay tỷ lệ nghịch với tuổi thai. Tuy 
nhiên, các chỉ số Doppler của động mạch não cao 
hơn động mạch rốn ở bất kỳ tuổi thai từ 38 đến 
41 tuần. Các kết quả nghiên cứu này phù hợp với 
sinh lý của hệ tuần hoàn não của thai nhi. Để đáp 
ứng nhu cầu cho sự phát triển và trưởng thành 
của não thì động mạch não phải giãn ra để tăng 
cường tưới máu cho não, chính vì vậy mà các chỉ 
số Doppler giảm dần về cuối thai kỳ nhưng sự 
giảm các chỉ số này diễn ra một cách từ từ và đều 
đặn. Sự giảm này không đột ngột, điều đó chứng 
tỏ huyết động của tuần hoàn động mạch não là 
rất ổn định. Vì nếu có hiện tượng giảm đột ngột 
đó chính là hậu quả của hiện tượng trung tâm hóa 
tuần hoàn do thiếu oxy gây ra. Theo nghiên cứu 
Tạ Xuân Lan(2004) và Trần Danh Cường ( 2007) 
thì trị số Doppler động mạch não giữa giảm đều 
đặn từ 28 đến 41 tuần [2], [4].
Các chỉ số Doppler của động mạch não cao 
hơn động mạch rốn. Kết quả này phù hợp với 
nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong đó, 
theo Trần Danh Cường (2007) kết luận rằng khi 
chỉ số não rốn (CSNR) nhỏ hơn 1 chứng tỏ có 
dấu hiệu giãn rộng động mạch não là kết quả 
của sự phân bố lại tuần hoàn của thai do thiếu 
oxy gây ra [2].
Theo Bahado (1999) nghiên cứu trên 203 
trường hợp thai CPTTTC nhận thấy có CSNR 
bất thường tăng nguy cơ mổ lấy thai vì suy thai 
41,7% so với nhóm bình thường 13,8%, tăng 
tỷ lệ Apgar 5 phút < 7 điểm (p< 0,001). Theo 
Cruz-Martinez và cộng sự (2011) nghiên cứu 
trên 210 trường hợp thai CPTTTC nhóm có CSNT 
bất thường tỷ lệ mổ lấy thai (67,7%), so với nhóm 
bình thường (32,4%)(p<0,001), nhóm có CSNR 
bất thường tăng nguy cơ thai suy [13], [14].
Tất cả trẻ sơ sinh trong nghiên cứu này đều có 
cân nặng trên 2500 gram, không có trẻ nhẹ cân. 
Tất cả trẻ sơ sinh trong nghiên cứu đều có chỉ số 
Apgar phút thứ 1 trên 7 điểm và phút trứ 5 trên 8 
điểm, không có trẻ biểu hiện suy thai.
5. Kết luận
Kết quả nghiên cứu này cho thấy trị số trung 
bình của các chỉ số và tỷ số đều giảm dần về 
cuối thai kỳ một cách đều đặn từ 38 tuần đến 41 
tuần. Trong đó: 
Doppler động mạch rốn: Tỷ số S/D trung 
bình giảm từ 2,47 ± 0,39 xuống 2,14 ± 0,18. 
Chỉ số trở kháng RI giảm từ 0,59 ± 0,07 xuống 
0,52 ± 0,06. Chỉ số xung PI giảm từ 0,94 ± 0,15 
xuống 0,78 ± 0,11.
Đối với Doppler động mạch não giữa :Tỷ số 
S/D trung bình giảm từ 4,44 ± 0,88 xuống 3,93 
± 0,44. Chỉ số trở kháng RI giảm từ 0,78 ± 0,05 
xuống 0,73 ± 0,04. Chỉ số xung PI giảm từ 1,72 
± 0,24 xuống 0,49 ± 0,14.
Các chỉ số Doppler của động mạch não giữa 
luôn luôn lớn hơn chỉ số Doppler của động mạch 
rốn ở cùng một tuổi thai. 
Về biểu đồ tương quan của các chỉ số và tỷ 
số theo tuổi thai: Trị số các chỉ số và tỷ số đều 
nằm trong khoảng đường bách phân vị thứ 5 đến 
đường bách phân vị thứ 95.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 71 - 77, 2017
77
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Tài liệu tham khảo
1. Alfirevic Z., Stampalija T., và Medley N. (2015). Fetal and umbilical 
Doppler ultrasound in normal pregnancy. Cochrane Database of 
Systematic Reviews. John Wiley & Sons, Ltd, Chichester, UK.
2. Trần Danh Cường (2017), Xác định một số thông số Doppler của 
động mạch tử cung người mẹ, động mạch rốn, động mạch não thai 
nhi bình thường (28 - 42 tuần ), luận văn tiến sỹ y học, Trường Đại 
Học Y Hà Nội.
3. Sách Sản Phụ Khoa tập 1, HCM.
4. Tạ Xuân Lan và Phan Trường Duyệt (2014). Chỉ số Doppler động 
mạch rốn và động mạch não giữa ở thai bình thường. Bệnh viện Phụ 
Sản Trung Ương.
5. Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh,Bệnh Viện Hùng Vương (2014), siêu 
âm sản phụ khoa thực hành, .
6. Trần Danh Cường Thực hành Mornitoning, .
7. Trần Danh Cường (2003), Hướng dẫn thực hành thăm dò về sản 
khoa, Nhà xuất bản Y học.
8. Phan Trường Duyệt (1999), Kỹ thuật siêu âm ứng dụng trong sản 
phụ khoa, Nhà xuất bản Y học.
9. Nguyễn Quang Trọng (2008), Doppler ứng dụng trong sản phụ khoa, 
Bệnh viện An Bình.
10. Hồ Thị Thu Hằng (2012), Nghiên cứu phương pháp ướng lượng 
cân nặng thai, tuổi thai bằng siêu âm hai chiều, ba chiều, Trường Đại 
Học Y Hà Nội.
11. Bano S., Chaudhary V., Pande S. và cộng sự. (2010). Color doppler 
evaluation of cerebral-umbilical pulsatility ratio and its usefulness in the 
diagnosis of intrauterine growth retardation and prediction of adverse 
perinatal outcome. Indian J Radiol Imaging, 20(1), 20.
12. Najam R., Gupta S., và Shalini (2016). Predictive Value of 
Cerebroplacental Ratio in Detection of Perinatal Outcome in High-Risk 
Pregnancies. J Obstet Gynecol India, 66(4), 244–247.
13. Bahado-Singh R.O., Kovanci E., Jeffres A. và cộng sự. (1999). 
The Doppler cerebroplacental ratio and perinatal outcome in intrauterine 
growth restriction. Am J Obstet Gynecol, 180(3), 750–756.
14. Cruz-Martínez R., Figueras F., Hernandez-Andrade E. và cộng 
sự. (2011). Fetal Brain Doppler to Predict Cesarean Delivery for 
Nonreassuring Fetal Status in Term Small-for-Gestational-Age Fetuses:. 
Obstet Gynecol, 117(3), 618–626.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tri_so_sieu_am_doppler_dong_mach_ron_va_dong_mach.pdf