Nghiên cứu tổ hợp chất chỉ điểm sinh học: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu não cấp
Mục tiêu: Khảo sát nồng độ, đánh giá giá
trị chẩn đoán và tiên lượng của tổ hợp chất
chỉ điểm sinh học vWF, VCAM-1, MCP-1,
D-Dimer ở bệnh nhân nhồi máu não cấp. Đối
tương và phương pháp: Một nghiên cứu mô
tả cắt ngang, có so sánh và đối chiếu nhóm
chứng của 50 bệnh nhân NMN và 40 người
chứng khỏe mạnh.
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tổ hợp chất chỉ điểm sinh học: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu não cấp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tổ hợp chất chỉ điểm sinh học: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu não cấp
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 32 NGHIÊN CỨU TỔ HỢP CHẤT CHỈ ĐIỂM SINH HỌC: vWF, VCAM-1, MCP-1, D- DIMER TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ TIÊN LƯỢNG NHỒI MÁU NÃO CẤP Phan Long Nhơn1,Hoàng Khánh2, Huỳnh Văn Minh2 1. Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn, Bình Định 2. Bộ môn Nội,Trường Đại học Y Dược Huế DOI: 10.47122/vjde.2020.43.5 ABSTRACT Assessement of biomarker complex: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer in the diagnosis and prognosis of acute ischemic stroke Objective:To survey the concentration of vWF VCAM-1, MCP-1, D-Dimer in serum and evaluate the diagnosis and the prognosis of biomarker complex: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer in acute ischemic stroke. Subjects and methods: A cross-sectional descriptive study, which compares between 50 patients of acute ischemic stroke and 40 healthy controls. Results: 1. The average concentration of vWF, VCAM-1, MCP-1, D- Dimer of acute ischemic stroke and controlled groups were: vWF 176.03±18.11 Mu/ml patient; 148.98±19.04 Mu/ml control; VCAM-1 53.87±3.35 ng/ml patient; 43.64±4.36 ng/ml control; MCP-1 357.47±111.07 pg/ml patient; 190.88±51,66 pg/ml control and D-Dimer 1016.72±524.06 ng/ml patient; 329.40±90.17 ng/ml control, P<0,001.2. The vWF, VCAM-1, MCP-1, D- Dimer biomarker complex had a high value in diagnosis. Sensitivity: 95.38% and specificity: 91.52%, positive predictive value: 93% and negative predictive: 94.37%.3. The vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer biomarker complex had a high value in prediction of clinical severity level and clinical severity progression after 48 hours of symptom onset of acute ischemic stroke. The prognostic value of clinical severity progression after 48 hours was the highest with 78.05% sensitivity, 76.27% specificity, 76.19% positive predictive value, 76.72% negative predictive value, p> 0.001, OR = 10.84. The value of clinical severity prognosis of symptom onset was lower with 70.33% sensitivity, 81.65% specificity, 69.57% positive predictive value, 83.33% negative predictive value, OR = 11.42, p < 0.001. Conclusion: Concentrations of vWF, VCAM- 1, MCP-1, D-Dimer increased in acute ischemic stroke and the biomarker complex: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer were very valuable in diagnosis and prognosis. Key words: Biomarker, biomarker complex, von Willebrand factor (vWF), vascular cell adhesion molecule-1 (VCAM-1), monocyte chemotactic protein 1 (MCP-1), D- Dimer TÓM TẮT Mục tiêu: Khảo sát nồng độ, đánh giá giá trị chẩn đoán và tiên lượng của tổ hợp chất chỉ điểm sinh học vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer ở bệnh nhân nhồi máu não cấp. Đối tương và phương pháp: Một nghiên cứu mô tả cắt ngang, có so sánh và đối chiếu nhóm chứng của 50 bệnh nhân NMN và 40 người chứng khỏe mạnh. Kết quả: 1. Nồng độ trung bình vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer của bệnh nhân NMN giai đoạn cấp và nhóm chứng lần lượt là: vWF bệnh 177,80±6,90 Mu/ml, chứng 148,98±19,04 Mu/ml; của VCAM-1 bệnh 53,79±3,33 ng/ml, chứng 43,38±4,56 ng/ml; của MCP-1 bệnh 357,37±111,03 pg/ml, chứng 190,80±51,65 pg/ml và của D-Dimer bệnh 1016,72±524,06 ng/ml, chứng 329,40±90,16 ng/ml, P<0,001. 2. Tổ hợp chất chỉ điểm sinh học vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer có giá trị cao trong chẩn đoán nhồi máu não cấp với độ nhạy 95,38%, độ đặc hiệu 91,52%, giá trị dự báo dương tính 93%, giá trị dự báo âm tính 94,37%. 3. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer có giá trị cao trong dự báo tiên lượng mức độ nặng lâm sàng khi vào viện và diễn tiến nặng lâm sàng sau 48 giờ của nhồi máu não cấp. Gía trị dự báo tiên lượng diễn Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 33 tiến nặng lâm sàng là cao nhất với độ nhạy 78,05%, độ đặc hiệu 76,27%, giá trị dự báo dương tính 69,57%, giá trị dự báo âm tính 83,33%, p<0,001, OR=11,42. giá trị dự báo tiên lượng mức độ nặng lâm sàng lúc vào viện thấp hơn, với độ nhạy 70,33%, độ đặc hiệu 81,65%, giá trị dự báo dương tính 76,19%, giá trị dự báo âm tính 76,72%, OR=10,84, p<0,001. Kết luận: Nồng độ các chất vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer tăng cao ở bệnh nhân NMN giai cấp và tổ hợp chất chỉ điểm sinh học: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer rất có giá trị trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu não cấp. Từ khóa: Chất chỉ điểm sinh học, tổ hợp chất chỉ điểm sinh học, vWF, VCAM-1, MCP- 1, D-Dimer. Chịu trách nhiệm chính: Phan Long Nhơn Ngày nhận bài: 25/10/2020 Ngày phản biện khoa học: 08/11/2020 Ngày duyệt bài: 12/12/2020 Email:[email protected] Điện thoại: 0914152385 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não gồm xuất huyết não và nhồi máu não là một bệnh nặng, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong còn rất cao, chi phí điều trị lớn, người còn sống thì mang di chứng nặng nề, là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Ở các nước đang phát trỉển tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau bệnh ung thư và các bệnh tim mạch. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm có trên 5 triệu người chết vì tai biến mạch máu não và ít nhất 20% bệnh nhân sống sót bị tái phát tai biến trong vòng 5 năm. Tại Việt Nam hiện nay đã có một số số liệu thống kê về tình hình tai biến mạch máu não tại nhiều vùng miền và đều cho thấy tỷ lệ này tăng rất cao so với những năm trước đây. Với tai biến mạch máu não, hiện có rất nhiều yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, béo phì, thiếu hoạt động thể lực, uống nhiều rượu, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, rối loạn nhịp tim. Đây là những yếu tố nguy cơ truyền thống và có thể cải biến được. Nhóm yếu tố nguy cơ phi truyền thống, không cải biến được như tuổi, giới, dân tộc, di truyền. Cho dù là nhóm yếu tố nguy cơ nào thì trong lĩnh vực điều trị đều phải quan tâm và phải ngăn ngừa. Trong lĩnh vực hẩn đoán nhồi máu não giai đoạn cấp, hiện tại chủ yếu dựa vào hình ảnh học và đây được xem là tiêu chuẩn vàng. Chụp cắt lớp vi tính độ nhạy không cao, ngay cả 24 giờ đầu một số trường hợp cũng không chẩn đoán được. Cộng hưởng từ thì ít khi được chỉ định trong giai đoạn cấp của bệnh do kỹ thuật mất nhiều thời gian, có nhiều chống chỉ định và máy chỉ có ở các trung tâm lớn. Do đó, việc tìm một phương pháp cận lâm sàng đáp ứng được chẩn đoán nhanh, chính xác, dễ thực hiện để chẩn đoán sớm vào những giờ đầu là vô cùng cấp thiết. Các chất chỉ điểm sinh học (biomarker) là một hướng mới trong chẩn đoán sớm, theo dõi diễn tiến và đánh giá tiên lượng nặng. Đã có gần 60 chất chỉ điểm sinh học được phát hiện và nghiên cứu trong nhồi máu não cấp. Ví dụ như phân tử bám dính tế bào mạch máu 1 (VCAM-1), một seletin hòa tan thuộc nhóm những phân tử globulin miễn dịch bám vào tế bào thành mạch. Von Willebrand (vWF) chất chỉ điểm sinh học liên quan đông cầm máu. Hoặc protein có ái lực hóa học với bạch cầu đơn nhân (MCP1/ monocyte chemotactic protein 1). D-Dimer, một chất chỉ điểm sinh học của sự tiêu hủy fibrin, thể hiện hoạt tính sinh học của plasmin. Ngòai ra còn nhiều chất chỉ điểm sinh học khác. Mặc dù vậy cho đến nay vẫn chưa có một chất chỉ điểm sinh học riêng lẻ nào được thừa nhận là đặc trưng cho chẩn đoán nhồi máu não cấp mà chỉ là những yếu tố góp thêm cho chẩn đoán. Một hướng nghiên cứu mới có nhiều kết quả hứa hẹn hơn đó là phối hợp nhiều chất chỉ điểm sinh học thành một tổ hợp để chẩn đoán nhồi máu não cấp. Nhiều nghiên cứu nước ngoài, bước đầu cho thấy giá trị chẩn đoán dương tính nhồi máu não với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Thậm chí một vài nghiên cứu phối hợp thành một tổ hợp chất chỉ điểm sinh học còn giúp chẩn đoán được phân nhóm nhồi máu não. Hiện tại Việt Nam mới có một vài nghiên cứu về 1,2 chất chỉ điểm sinh học, chưa có nghiên cứu nào về sự kết hợp của một tổ hợp gồm nhiều chất chỉ điểm sinh học để góp phần chẩn Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 34 đoán và nhất là dự báo tiên lượng nhồi máu não giai đoạn cấp. Xuất phát từ lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tổ hợp chất chỉ điểm sinh học: vWF, VCAM-1, MCP- 1, D-Dimer trong dự báo tiên lượng nhồi máu não cấp” với mục tiêu: 1. Khảo sát nồng độ huyết tương của 4 chất chỉ điểm sinh học vWF, VCAM-1, MCP- 1, D-Dimer ở bệnh nhân nhồi máu não cấp. 2. Tìm hiểu giá trị chẩn đoán và tiên lượng của tổ họp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer ở bệnh nhân nhồi máu não cấp. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nhiên cứu Nhóm bệnh: Là những bệnh nhân NMN giai đoạn cấp. Tuổi từ 18 tuổi trở lên bị NMN lần đầu tiên, được điều trị tại khoa Nội Tổng hợp Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn Bình Định 2015-2016. Nhóm chứng: Là những người khỏe mạnh, chưa lần nào bị TBMMN đến thời điểm nghiên cứu. Không dùng thuốc kháng viêm, ức chế miễn dịch, kháng đông, chống kết tập tiểu cầu. Loại trừ: Bệnh nhân XHN, bệnh nhân có bệnh kèm ảnh hưởng đến tăng nồng độ vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer như: Các bệnh nhiễm trùng, luput ban đỏ, ĐTĐ, suy thận, suy gan, ghép tạng. 2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có so sánh và đối chiếu nhóm chứng. 2.3. Các bước tiến hành:Chọn bệnh nhân NMN chụp cắt lớp vi tính sọ não có tổn thương.Tiến hành lấy máu lúc đói vào ngày đầu tiên. Làm các xét nghiệm vWF, VCAM- 1, MCP-1 và D-Dimer tại Khoa Sinh hóa và Huyết học bệnh viện Trung ương Huế và một số xét nghiệm hổ trợ. 2.4. Phương pháp xử lý số liệu: Theo phần mềm SPSS kết hợp với Medcalc version 11.0. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Có 90 bệnh nhân gồm 50 bệnh (29 nam, 21 nữ) và 40 chứng (22 nam, 18 nữ). Tuổi trung bình nhóm bệnh 69,7±14, tuổi trung bình nhóm chứng 69,3±14, có các kết quả sau: 3.1. Nồng độ TB của vWF, VCAM-1, MCP-1 và D-Dimer ở nhóm bệnh và nhóm chứng Bảng 3.1.Nồng độ trung bình của vWF, VCAM-1, MCP-1 và D-Dimer ở nhóm bệnh và chứng Nhóm Chất CĐSH Nhóm bệnh X±SD Nhóm chứng X±SD p vWF (Mu/ml) 176,03±18,11 148,98±19,04 <0,001 VCAM-1 (ng/ml) 53,87±3,35 43,64±4,36 <0,001 MCP-1 (pg/ml) 357,47±111,07 190,88±51,66 <0,001 D-Dimer (ng/ml) 1016,72±524,06 329,40±90,17 <0,001 + Nhận xét: Nồng độ trung bình của 2 nhóm bệnh và chứng đều khác biệt có ý nghĩa p<0,001. 3.2. Giá trị chẩn đoán của tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer ở BN NMN cấp 3.2.1. Tỷ lệ BN nhóm bệnh, chứng trên điểm cắt chẩn đoán vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer Bảng 3.2. Tỷ lệ BN nhóm bệnh, chứng trên điểm cắt chẩn đoán Số bệnh nhân Chất CĐSH (Điểm cắt) Nhóm bệnh (n=50) Nhóm chứng (n=40) n % p n % p vWF (>169 Mu/ml) 47 94 >0,05 4 10.0 >0,05 VCAM-1 (>49,6 ng/ml) 49 98 1 2,5 MCP-1 (>247,62pg/ml) 42 84 1 2,5 D-Dimer (>425ng/ml) 48 96 3 7,5 Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 35 +Nhận xét: Tại điểm cắt chẩn đoán, nhóm bệnh có tỷ lệ vượt trên điểm cắt cao hơn nhóm chứng. 3.2.2. Độ nhạy, độ đặc hiệu của tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer ở BN NMN cấp Bảng 3.3. Độ nhạy, độ đặc hiệu của tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer ở BN NMNcấp Tổ hợp Se (%) 95% CI Sp (%) 95% CI PPV (%) NPV (%) vWF VCAM-1 MCP-1 D-Dimer 95,38 91,42 - 97,87 91,52 86,17 - 95,28 93,00 94,37 + Nhận xét: Khi kết hợp thành một tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer, giá trị chẩn đoán có độ nhạy 95,38%, độ đặc hiệu là 91,52%. Gía trị dự báo (+) 93% và dự báo âm tính 94,37%. 3.3. Tiên lượng mức độ nặng lâm sàng và diễn tiến nặng lâm sàng của tổ họp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer ở bệnh nhân NMN cấp. 3.3.1 Giá trị tiên lượng mức độ nặng lâm sàng 3.3.1.1. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong tiên lượng mức độ nặng lâm sàng. Bảng 3.4. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong tiên lượng mức độ nặng lâm sàng lúc vào viện của NMN cấp, đánh giá dựa theo thang điểm NIHSS Điểm cắt OR P Se (%) Sp (%) PPV NPV Điểm cắt vWF >179 Mu/ml 4,44 <0,05 55 74,07 61,11 68,97 Điểm cắt VCAM-1 >54,7 ng/ml 3,48 <0,05 62,50 67,65 47,62 79,31 Điểm cắt MCP-1 >369,18pg/ml 47,30 <0,001 100 91,30 100 93,31 Điểm cắt D-Dimer >727ng/ml 18,05 <0,001 65,92 84,62 90,48 53,38 Tổ hợp 10,84 <0,001 70,33 81,65 76,19 76,72 + Nhận xét: Khi phối hợp thành 1 tổ hợp. Tổ hợp chất chỉ điểm sinh học vWF, VCAM- 1, MCP-1, D-Dimer có giá trị tiên lượng mức độ nặng lâm sàng lúc vào viện của bệnh nhân NMN giai đoạn cấp với độ nhạy 70,33%, độ đặc hiệu 81,65%, giá trị dự báo dương tính 76,19%, giá trị dự báo âm tính 76,72%, và OR=10,84, p<0,001. 3.3.1.2. Phương trình dự báo mức độ nặng lâm sàng lúc vào viện Kết quả phân tích hồi qui tuyến tính đơn các yếu tố có tiềm năng dự báo mức độ nặng lâm sàng lúc vào viện đánh giá theo thang điểm NIHSS và phân tích hồi qui đa biến các yếu tố, có tiềm năng dự báo mức độ nặng lâm sàng lúc vào viện, cho kết quả giátrị nồng độ MCP-1, D-Dimer huyết tương và thang điểm Glasgow lúc vào viện là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến mức độ nặng lâm sàng với r lần lược là 0,6625 (MCP-1) p<0,001; 0,5150 (D-Dimer) p<0,001; và -0,3113 (Glasgow) p<0,05. Phương trình mức độ nặng lâm sàng lúc vào viện Mức độ nặng lâm sàng = - 0,4573 + 0,0024 x MCP-1 + 0,0003 x D-Dimer - 0,0566 x Điểm Glasgow lúc vào. 3.3.2. Giá trị tiên lượng diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ Theo dõi sau 48 giờ đầu có 46% bệnh nhân NMN diễn tiến nặng và 54% bệnh nhân không diễn tiến nặng, không có sự khác biệt p>0,05. 3.3.2.1. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D- Dimer đánh giá diễn tiến nặng lâm sàng sau 48 giờ Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 36 Bảng 3.5. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1 và D-Dimer trong đánh giá diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ của bệnh nhân NMN cấp Điểm cắt OR P Se (%) Sp (%) PPV NPV vWF>179 Mu/ml 6,52 <0,05 65,57 74,07 69,57 74,07 VCAM-1 >56,2 ng/ml 9,17 <0,05 85,71 65 39,13 96,30 MCP-1 >369,18 pg/ml 2585 <0,001 100 100 100 100 D-Dimer >761 ng/ml 8,07 <0,05 65,52 80,95 82,61 62,96 Tổ hợp 171,42 <0,001 78,05 76,27 69,57 83,33 + Nhận xét: Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong tiên lượng diễn tiến nặng có độ nhạy 78,05%, độ đặc hiệu 76,27%, giá trị dự báo dương tính 69,57%, giá trị dự báo âm tính 83,33%. Với p<0,001, OR=11,42. 3.3.2.2. Phương trình dự báo diễn tiến nặng lâm sàng sau 48 giờ Kết quả phân tích hồi qui tuyến tính đơn các yếu tố có tiềm năng dự báo diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ: Gía trị nồng độ MCP-1, D-Dimer, thang điểm Glasgow lúc vào viện và là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ. Tiến hành phân tích hồi qui đa biến các yếu tố có ảnh hưởng này có kết quả sau: Diễn tiến nặng lâm sàng= - 0,2264 + 0,0024 x MCP-1 + 0,002 x D-Dimer - 0,0524 x Điểm Glasgow lúc vào 4. BÀN LUẬN 4.1. Nồng độ vWF, VCAM-1, MCP-1 và D-Dimer huyết tương nhóm bệnh và nhóm chứng. Bảng 3.1 cho kết quả giá trị trung bình của 4 chất chỉ điểm sinh học: - Với vWF bệnh 176,03 ± 18,11 Mu/ml, chứng 148,98 ± 19,04 Mu/ml, có sự khác biệt với p<0,001. Về giới kết quả nghiên cứu này cũng cho ... , IL6, ICAM, VCAM-1 đã kết luận các chất chỉ điểm sinh học tăng trong giai đoạn sớm là yếu tố tiên lượng diễn tiến nặng của tổn thương NMN với độ nhạy 96% và độ đặc hiệu 98%. Lynch và cs nghiên cứu 26 chất chỉ điểm sinh học trên 44 bệnh nhân nhồi máu não. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 chất S100, vWF, MMP9, VCAM khi phối hợp với nhau cho chẩn đoán chính xác nhồi máu não với độ nhạy 90% và độ đặc hiệu 90% và có giá trị tiên lượng cao. Cũng nhóm tác giả này nghiên cứu phối hợp 5 chất chỉ điểm sinh học S100b, vWF, MMP9, B type neurotrophic growth factor, và MCP-1 cho thấy nhồi máu não được chẩn đoán chính xác với độ nhạy 92% và độ đặc hiệu 93% và cũng có giá trị tiên lượng tốt [8]. Tác giả Raynold và cs trong một nghiên cứu sử dụng tập hợp 5 CCDSH S100, B type neurotrophic growth factor, vWF, MMP9 và MCP-1 cho thấy sự kết hợp này có dự báo diễn tiến nặng theo dõi sau 48 giờ với độ nhạy là 86,2% và độ đặc hiệu là 93% [10]. Một nghiên cứu khác phối hợp D- dimer, CRP, BNP, MMP-9 và S100β của tác giả Laskowitz được thực hiện trên bệnh nhân nghi NMN trong thời gian 6 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng. Kết quả cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu của dự báo với tỷ lệ lần lượt là 81% và 70% [7]. Và một tổ hợp 4 chất: MMP-9, S100B, VCAM-1, vWF nghiên cứu 222 bệnh nhân (cả bệnh và chứng), cho kết quả tương tự với độ nhạy 90% và độ đặc hiệu 90%. Để xác định phương trình hồi qui đa biến diễn tiến nặng lâm sàng, chúng tôi tiến hành phân tích hồi qui đơn biến và đa biến các yếu tố liên quan có khác biệt, kết quả cho thấy gía trị nồng độ MCP-1, D-Dimer và thang điểm Glasgow lúc vào viện là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ. Tiếp tục phân tích hồi qui đa biến thì thang điểm Glasgow, nồng độ MCP-1 và D-Dimer huyết tương có giá trị dự báo tiên lượng diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ và phương trình hồi qui đa biến là: Diễn tiến nặng lâm sàng = - 0,2264 + 0,0024 x MCP-1 + 0,002 x D-Dimer - 0,0524 x Điểm Glasgow lúc vào viện. Kết quả phương trình hồi qui đa biến diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ vẫn có sự hiện diện của 3 thành tố là thang điểm Glasgow và 2 chất CĐSH MCP-1 và D- Dimer. Phương trình dự báo tiên lượng diễn tiến nặng lâm sàng của chúng tôi cũng có thành tố thang điểm Glasgow lúc vào viện giống như một số tác giả khác. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Toàn với 2 chất PAI- 1 và TNF alpha, tác giả xác định được phương trình hồi qui đa biến tiên lương diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ cũng có thành tố thang điểm Glasgow: [3] Diễn tiến nặng = - 21,915 – 0,677 x Điểm Glasgow lúc vào viện + 2,194 x Thể tích tổn thương + 0,009 x TNF alpha + 0,013 x PAI-1. Trong phương trình hồi qui đa biến diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ của Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 41 nghiên cứu chúng tôi không có thành tố thể tích tổn thương não, điều này có lẽ cũng phù hợp vì thời gian theo dõi còn quá ngắn. 5. KẾT LUẬN 1. Nồng độ trung bình vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer huyết tương của bệnh nhân nhồi máu não cấp và nhóm chứng lần lược là: vWF nhóm bệnh 176,03 ± 18,11 Mu/ml, nhóm chứng 148,98 ± 19,04 Mu/ml, của VCAM-1 nhóm bệnh 53,87 ± 3,35 ng/ml, nhóm chứng 43,64 ± 4,36 ng/ml, của MCP-1 nhóm bệnh 357,47 ± 111,07 pg/ml, nhóm chứng 190,88 ± 51,66 pg/ml, và của D-Dimer nhóm bệnh 1016,72 ± 524,06 ng/ml, nhóm chứng 329,40 ± 90,17 ng/ml. 2. Tổ hợp chất chỉ điểm sinh học vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer có giá trị cao trong chẩn đoán nhồi máu não cấp với độ nhạy 95,38%, độ đặc hiệu 91,52%, giá trị dự báo dương tính 93%, giá trị dự báo âm tính 94,37%. 3. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D- Dimer có giá trị cao trong dự báo tiên lượng mức độ nặng lâm sàng lúc vào viện của bệnh nhân nhồi máu não cấp, với độ nhạy 70,33%, độ đặc hiệu 81,65%, giá trị dự báo dương tính 76,19%, giá trị dự báo âm tính 76,72%, OR=10,84, p<0,001 và cũng có giá trị cao trong dự báo tiên lượng diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ với độ nhạy 78,05%, độ đặc hiệu 76,27%, giá trị dự báo dương tính 69,57%, giá trị dự báo âm tính 83,33%, p<0,001, OR=11,42. - Phương trình hồi qui đa biến dự báo:Mức độ nặng lâm sàng = - 0,4573 + 0,0024 x MCP-1 + 0,0003 x D-Dimer - 0,0566 x Điểm Glasgow lúc vào - Phương trình hồi qui đa biến dự báo: Diễn tiến nặng lâm sàng = - 0,2264 + 0,0024 x MCP-1 + 0,002 x D-Dimer - 0,0524 x Điểm Glasgow lúc vào TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hồ Thị Thúy Hằng, Hoàng Khánh, Phan Thị Phương, Tôn Thất trí Dũng (2012), “Nghiên cứu nồng độ D-Dimer huyết tương ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp”, Tạp chí Y học thực hành số 811-812, Tr.100-104. 2. Hoàng Khánh (2009), “Các yếu tố nguy cơ gây tai biến mạch máu não”, Tai biến mạch máu não - Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí, Nxb Y học, tr 85-107. 3. Nguyễn Đình Toàn (2012), Nghiên cứu nồng độ PAI-1, TNF-Anpha huyết tương ở bệnh nhânnhồi máu não giai đọan cấp, Luận án tiến sĩ y học Đại học Y Dược Huế. 4. A. Arakelyan, J. Petrkova, Z. Hermanova, A. Boyajyan,J. Lukl, and M. Petrek (2005), “Serum Levels of the MCP-1 Chemokine in Patients With Ischemic Stroke and Myocardial Infarction” Mediators of Inflammation Volume, Issue 3, Pages 175-179. 5. Blann, A.; Kumar, P.; Krupins, McCollum, C.; Beevers, D. G (1999),"Soluble intercellular adhesion molecule-1, E-selectin, vascular cell adhesion molecule-1 and von Willebrand factor in stroke”, Blood Coagulation & Fibrinolysis, July 1999. 6. Catto AJ , Carter AM , Barrett JH , Bamford J , Rice PJ , Grant PJ(1997), “Von Willebrand factor and factor VIII: C in acute cerebrovascular disease. Relationship to stroke subtype and mortality”,Thrombosis and Haemostasis 77(6):1104-1108. 7. Laskowitz T Daniel (2009),"Clinical Usefulness of a Biomarker-Based Diagnostic Test for Acute Stroke:The Biomarker Rapid Assessment in Ischemic Injury "(BRAIN) Study, Stroke, 40; 77- 85. 8. Lynch R John (2004), "Novel Diagnostic Test for Acute Stroke", Stroke, 35; 57-63. 9. Renske G. Wieberdink, Marianne C. van Schie, Peter J (2010), “High von Willebrand Factor Levels Increase the Risk of Stroke”, Stroke. 2010;41:2151- 2156 10. Reynolds A Mark (2003), "Early Biomarkers of Stroke", Clinical Chemistry, 49:10, 1733- Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 42 NGHIÊN CỨU MẬT ĐỘ KHOÁNG XƯƠNG VÀ LOÃNG XƯƠNG Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 Ngô Đức Kỷ Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An DOI: 10.47122/vjde.2020.43.6 ABSTRACT Study on bone mineral density and osteoporosis in patients with type 2 diabetes Objectives: Study on bone mineral density and osteoporosis in patients with type 2 diabetes. Methods: Cross – sectional study. All 151 patients were diagnosed with type 2 diabetes aged 36-81 years old and treated at the Nghe An General Hospital. All patients underwent intravenous glucose testing, insulin, HbA1c on COBAS 6000 and of Roche, and bone density measurements using the Hologram Discovery QDR series 4500A / SL, US DELPHI. Analysis of data by SPSS 16.0 software. Results: The average age is 62,12 ± 8,99 years old. Average BMI 22,96 ± 2,98 kg / m2. The difference between the sexes in age indexes, BMI, HOMA2-IR, and HbA1c is not statistically significant with p > 0,05. The bone mineral density, neck of the femur and lumbar spine from L1 - L4 in women was significantly lower than that of men with p < 0,001. The prevalence of osteoporosis was 31,1%, of which men were 8,6% and women 22,5%. The risk of osteoporosis of women is 2,96 times higher than that of men and this difference is statistically significant with p < 0,01. There was a correlation between bone mineral density and HbA1c in type 2 diabetes patients (p < 0,01) and no negative correlation between bone mineral density with BMI and HOMA2 -IR. Conclusion: In patients with type 2 diabetes who control good blood glucose levels increase bone mineral density. Keywords: Bone mineral density, type 2 diabetes mellitus, osteoporosis. TÓM TẮT Mục tiêu: Khảo sát mật độ khoáng xương và tỷ lệ loãng xương và mối liên quan của chúng với một số đặc điểm ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. Tất cả 151 bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường type 2 có độ tuổi từ 36 – 81 khám và điều trị tại Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An. Các xét nghiệm glucose, HbA1c, insulin, c – peptid được làm tại Khoa Hóa sinh bằng hệ thống tự động máy Cobas 6000 và Cobas e 601 của hãng Roche. Glucose máu huyết tương lúc đói bằng phương tham chiếu sử dụng men hexokinase, HbA1c dựa trên xét nghiệm miễn dịch ức chế đo độ đục (TINIA) cho máu toàn phần ly giải, insulin và c – peptide đo bằng phương pháp miễn dịch hóa phát quang (electro- chemiluminescence immunoassay: điện hóa phát quang). Đo mật độ xương toàn thân bằng máy Hologic Discovery QDR series 4500A/SL, DELPHI của Mỹ. Tính các chỉ số HOMA2-IR và HOMA2-%Beta theo phiên bản phần mềm HOMA Calculator v2.2.3 của Đại học Oxford – Anh. Xử lý số liệu bằng phần mền SPSS 16.0. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu 62,12 ± 8,99 tuổi. Trung bình BMI 22,96 ± 2,98 kg/m2. Sự khác biệt của hai giới về các chỉ số tuổi, BMI, HOMA2-IR, và HbA1c không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Mật độ khoáng xương toàn thân, cổ xương đùi và xương cột sống thắt lưng từ L1 – L4 ở nữ giảm hơn so nam có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Tỷ lệ loãng xương chung là 31,1%, trong đó nam là 8,6% và nữ 22,5%. Nguy cơ loãng xương của phụ nữ cao gấp 2,96 lần so với nam giới và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Có mối liên quan giữa mật độ khoáng của xương với chỉ số HbA1c ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 (p < 0,01) và ngược lại không có mối tương quan giữa mật độ khoáng xương với BMI và chỉ số đề khoáng insulin HOMA2-IR. Kết luận: Ở những bệnh nhân Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 43 đái tháo đường týp 2 kiểm soát glucose máu tốt thì làm tăng mật độ khoáng của xương. Từ khóa: Mật độ khoáng xương, đái tháo đường týp 2, Loãng xương. Chịu trách nhiệm chính: Ngô Đức Kỷ Ngày nhận bài: 25/10/2020 Ngày phản biện khoa học: 08/11/2020 Ngày duyệt bài: 12/12/2020 Email: [email protected] Điện thoại: 0936758595 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến sự liên quan giữa loãng xương và đái tháo đường. Loãng xương cũng là một rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường type 2 như là một yếu tố nguy cơ mất xương và gãy xương ở người và động vật thí nghiệm [1,2,3]. Mặt khác xương cũng được nghiên cứu như là một cơ quan nội tiết có liên quan đến chuyển hóa một số hormon và liên quan đến đề kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường [3,4]. Các nghiên cứu về mật độ khoáng của xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có các kết quả khác nhau. Nghiên cứu cho thấy có thay đổi theo chiều hướng tăng hoặc không thay đổi mật độ khoáng của xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 [3,5]. Những kết quả trái ngược về mật độ khoáng của xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 này có thể giải thích do sự khác biệt về chủng tộc, về các nước khác nhau hay thiết kế nghiên cứu khác nhau. Kiểm soát cân nặng là một mục tiêu rất cần thiết trong điều trị bệnh đái tháo đường type 2 mặc dù BMI thấp, thừa cân và béo phì thường xãy ra ở một số bệnh nhân. Ở Việt Nam đã có nghiên cứu về mật độ khoáng của xương cũng như loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 nhưng tại Nghệ An chưa có nghiên cứu nào được thực hiện. Vì vậy chúng tối tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích: - Khảo sát mật độ khoáng xương và tỷ lệ loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2.. - Tìm hiểu mối liên quan giữa mật độ khoáng xương với một số đặc điểm ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Chọn 151 bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường type 2 và điều trị tại Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An.Thời gian từ năm 07/2015 – 02/2017. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang có phân tích. Áp dụng cỡ mẫu thuận tiện không xác suất. 2.3. Đo mật độ khoáng của xương bằng phương pháp hấp phụ tia X năng lượng kép - DEXA (Dual - Energy X – ray Absorptiometry - DEXA). Tất cả các bệnh nhân đều được đo mật độ xương vùng cột sống thắt lưng từ L1 – L4, đo mật độ xương toàn thân và cổ xương đùi tại khoa Thăm dò chức năng, Bệnh Viện Hữu Nghị Đa Khoa Nghệ An. - Đặc điểm của máy: Loại Máy: đo mật độ xương bằng máy Hologic Discovery QDR series 4500A/SL, DELPHI của Mỹ. - Các xét nghiệm HbA1c, insulin, glucose, c – peptide thực hiện trên máy Cobas 6000 của hãng Roche. Phân tích số liệu bằng phần mền thống kê SPSS 16.0. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu Bảng 1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu Đặc điểm Nam Nữ Chung P Tuổi (năm) 61,71 ± 9,59 62,53 ± 8,38 62,12 ± 8,99 p >0,05 Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 44 Giới 50,3% 49,7% p >0,05 BMI( kg/m²) 23,06 ± 2,90 22,86± 3,07 22,96 ± 2,98 p >0,05 HbA1c (%) 7,61 ± 2,01 8,26 ± 2,08 7,93 ± 2,06 p > 0,05 HOMA2-IR 7,09 ± 5,08 6,86 ± 6,27 6,97 ± 5,69 p > 0,05 Nhận xét: Tất cả có 151 bệnh nhân đái tháo đường type 2 tham gia nghiên cứu, nam chiếm 50,3% và nữ là 49,7%.Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu 62,132 ± 8,99 tuổi. Trung bình BMI 22,96 ± 2,98 kg/m². Trung bình HbA1c là 7,93 ± 2,06% và chỉ số đề kháng insulin HOMA2-IR là 6,97 ± 5,69. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi, giới, chỉ số BMI, HbA1c và HOMA2-IR ở nam và nữ. 3.2. Đặc điểm mật độ khoáng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 Bảng 2. Đặc điểm mật độ khoáng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 Đặc điểm Tứ phân vị 25 Trung vị Tứ phân vị 75 p* BMD (g/cm²) Chung (n = 151) 0,91 1,02 1,11 Nam (n = 76) 1,04 1,09 1,15 < 0,001 Nữ (n = 75) 0,88 0,92 0,99 BMD L1-L4 (g/cm²) Chung (n = 151) 0,81 0,92 1,04 Nam (n = 76) 0,89 0,98 1,08 < 0,001 Nữ (n = 75) 0,76 0,84 0,93 BMD xương chậu hông (g/cm²) Chung (n = 151) 0,87 0,97 1,07 Nam (n = 76) 0,93 1,01 1,13 < 0,001 Nữ (n = 75) 0,83 0,89 1,02 Nhận xét: Mật độ khoáng xương toàn thân, mật độ khoáng xương từ L1-L4 và xương chậu ở nam đều cao hơn ở nữ. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Bảng 3. Tỷ lệ loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 Đặc điểm Loãng xương p N % Chung (n = 151) 47 31,1 Nam (n = 76) 13 8,6 < 0,001 Nữ (n = 75) 34 22,5 Nhận xét: Tỷ lệ loãng xương chung là 31,1%, trong đó nam là 8,6% và nữ 22,5%. Nguy cơ loãng xương của phụ nữ cao gấp 2,96 lần so với nam giới và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
File đính kèm:
nghien_cuu_to_hop_chat_chi_diem_sinh_hoc_vwf_vcam_1_mcp_1_d.pdf

