Nghiên cứu tổ hợp chất chỉ điểm sinh học: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu não cấp

Mục tiêu: Khảo sát nồng độ, đánh giá giá

trị chẩn đoán và tiên lượng của tổ hợp chất

chỉ điểm sinh học vWF, VCAM-1, MCP-1,

D-Dimer ở bệnh nhân nhồi máu não cấp. Đối

tương và phương pháp: Một nghiên cứu mô

tả cắt ngang, có so sánh và đối chiếu nhóm

chứng của 50 bệnh nhân NMN và 40 người

chứng khỏe mạnh.

pdf 13 trang phuongnguyen 440
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tổ hợp chất chỉ điểm sinh học: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu não cấp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tổ hợp chất chỉ điểm sinh học: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu não cấp

Nghiên cứu tổ hợp chất chỉ điểm sinh học: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu não cấp
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
32 
NGHIÊN CỨU TỔ HỢP CHẤT CHỈ ĐIỂM SINH HỌC: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-
DIMER TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ TIÊN LƯỢNG NHỒI MÁU NÃO CẤP 
Phan Long Nhơn1,Hoàng Khánh2, Huỳnh Văn Minh2 
 1. Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn, Bình Định 
 2. Bộ môn Nội,Trường Đại học Y Dược Huế 
DOI: 10.47122/vjde.2020.43.5 
ABSTRACT 
Assessement of biomarker complex: vWF, 
VCAM-1, MCP-1, D-Dimer in the diagnosis 
and prognosis of acute ischemic stroke 
Objective:To survey the concentration of 
vWF VCAM-1, MCP-1, D-Dimer in serum 
and evaluate the diagnosis and the prognosis 
of biomarker complex: vWF, VCAM-1, 
MCP-1, D-Dimer in acute ischemic stroke. 
Subjects and methods: A cross-sectional 
descriptive study, which compares between 
50 patients of acute ischemic stroke and 40 
healthy controls. Results: 1. The average 
concentration of vWF, VCAM-1, MCP-1, D-
Dimer of acute ischemic stroke and controlled 
groups were: vWF 176.03±18.11 Mu/ml 
patient; 148.98±19.04 Mu/ml control; 
VCAM-1 53.87±3.35 ng/ml patient; 
43.64±4.36 ng/ml control; MCP-1 
357.47±111.07 pg/ml patient; 190.88±51,66 
pg/ml control and D-Dimer 1016.72±524.06 
ng/ml patient; 329.40±90.17 ng/ml control, 
P<0,001.2. The vWF, VCAM-1, MCP-1, D-
Dimer biomarker complex had a high value in 
diagnosis. Sensitivity: 95.38% and specificity: 
91.52%, positive predictive value: 93% and 
negative predictive: 94.37%.3. The vWF, 
VCAM-1, MCP-1, D-Dimer biomarker 
complex had a high value in prediction of 
clinical severity level and clinical severity 
progression after 48 hours of symptom onset 
of acute ischemic stroke. The prognostic 
value of clinical severity progression after 48 
hours was the highest with 78.05% 
sensitivity, 76.27% specificity, 76.19% 
positive predictive value, 76.72% negative 
predictive value, p> 0.001, OR = 10.84. The 
value of clinical severity prognosis of 
symptom onset was lower with 70.33% 
sensitivity, 81.65% specificity, 69.57% 
positive predictive value, 83.33% negative 
predictive value, OR = 11.42, p < 0.001. 
Conclusion: Concentrations of vWF, VCAM-
1, MCP-1, D-Dimer increased in acute 
ischemic stroke and the biomarker complex: 
vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer were very 
valuable in diagnosis and prognosis. 
Key words: Biomarker, biomarker 
complex, von Willebrand factor (vWF), 
vascular cell adhesion molecule-1 (VCAM-1), 
monocyte chemotactic protein 1 (MCP-1), D-
Dimer 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Khảo sát nồng độ, đánh giá giá 
trị chẩn đoán và tiên lượng của tổ hợp chất 
chỉ điểm sinh học vWF, VCAM-1, MCP-1, 
D-Dimer ở bệnh nhân nhồi máu não cấp. Đối 
tương và phương pháp: Một nghiên cứu mô 
tả cắt ngang, có so sánh và đối chiếu nhóm 
chứng của 50 bệnh nhân NMN và 40 người 
chứng khỏe mạnh. Kết quả: 1. Nồng độ trung 
bình vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer của 
bệnh nhân NMN giai đoạn cấp và nhóm 
chứng lần lượt là: vWF bệnh 177,80±6,90 
Mu/ml, chứng 148,98±19,04 Mu/ml; của 
VCAM-1 bệnh 53,79±3,33 ng/ml, chứng 
43,38±4,56 ng/ml; của MCP-1 bệnh 
357,37±111,03 pg/ml, chứng 190,80±51,65 
pg/ml và của D-Dimer bệnh 1016,72±524,06 
ng/ml, chứng 329,40±90,16 ng/ml, P<0,001. 
2. Tổ hợp chất chỉ điểm sinh học vWF, 
VCAM-1, MCP-1, D-Dimer có giá trị cao 
trong chẩn đoán nhồi máu não cấp với độ 
nhạy 95,38%, độ đặc hiệu 91,52%, giá trị dự 
báo dương tính 93%, giá trị dự báo âm tính 
94,37%. 3. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, 
D-Dimer có giá trị cao trong dự báo tiên 
lượng mức độ nặng lâm sàng khi vào viện và 
diễn tiến nặng lâm sàng sau 48 giờ của nhồi 
máu não cấp. Gía trị dự báo tiên lượng diễn 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
33 
tiến nặng lâm sàng là cao nhất với độ nhạy 
78,05%, độ đặc hiệu 76,27%, giá trị dự báo 
dương tính 69,57%, giá trị dự báo âm tính 
83,33%, p<0,001, OR=11,42. giá trị dự báo 
tiên lượng mức độ nặng lâm sàng lúc vào viện 
thấp hơn, với độ nhạy 70,33%, độ đặc hiệu 
81,65%, giá trị dự báo dương tính 76,19%, 
giá trị dự báo âm tính 76,72%, OR=10,84, 
p<0,001. Kết luận: Nồng độ các chất vWF, 
VCAM-1, MCP-1, D-Dimer tăng cao ở bệnh 
nhân NMN giai cấp và tổ hợp chất chỉ điểm 
sinh học: vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer 
rất có giá trị trong chẩn đoán và tiên lượng 
nhồi máu não cấp. 
Từ khóa: Chất chỉ điểm sinh học, tổ hợp 
chất chỉ điểm sinh học, vWF, VCAM-1, MCP-
1, D-Dimer. 
Chịu trách nhiệm chính: Phan Long Nhơn 
Ngày nhận bài: 25/10/2020 
Ngày phản biện khoa học: 08/11/2020 
Ngày duyệt bài: 12/12/2020 
Email:[email protected] 
Điện thoại: 0914152385 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tai biến mạch máu não gồm xuất huyết 
não và nhồi máu não là một bệnh nặng, tỷ lệ 
mắc và tỷ lệ tử vong còn rất cao, chi phí điều 
trị lớn, người còn sống thì mang di chứng 
nặng nề, là gánh nặng cho gia đình và xã hội. 
Ở các nước đang phát trỉển tai biến mạch 
máu não là nguyên nhân gây tử vong đứng 
hàng thứ 3 sau bệnh ung thư và các bệnh tim 
mạch. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế 
giới, mỗi năm có trên 5 triệu người chết vì tai 
biến mạch máu não và ít nhất 20% bệnh nhân 
sống sót bị tái phát tai biến trong vòng 5 năm. 
Tại Việt Nam hiện nay đã có một số số liệu 
thống kê về tình hình tai biến mạch máu não 
tại nhiều vùng miền và đều cho thấy tỷ lệ này 
tăng rất cao so với những năm trước đây. 
Với tai biến mạch máu não, hiện có rất 
nhiều yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, béo 
phì, thiếu hoạt động thể lực, uống nhiều rượu, 
đái tháo đường, rối loạn lipid máu, rối loạn 
nhịp tim. Đây là những yếu tố nguy cơ truyền 
thống và có thể cải biến được. Nhóm yếu tố 
nguy cơ phi truyền thống, không cải biến được 
như tuổi, giới, dân tộc, di truyền. Cho dù là 
nhóm yếu tố nguy cơ nào thì trong lĩnh vực 
điều trị đều phải quan tâm và phải ngăn ngừa. 
Trong lĩnh vực hẩn đoán nhồi máu não giai 
đoạn cấp, hiện tại chủ yếu dựa vào hình ảnh 
học và đây được xem là tiêu chuẩn vàng. Chụp 
cắt lớp vi tính độ nhạy không cao, ngay cả 24 
giờ đầu một số trường hợp cũng không chẩn 
đoán được. Cộng hưởng từ thì ít khi được chỉ 
định trong giai đoạn cấp của bệnh do kỹ thuật 
mất nhiều thời gian, có nhiều chống chỉ định 
và máy chỉ có ở các trung tâm lớn. Do đó, việc 
tìm một phương pháp cận lâm sàng đáp ứng 
được chẩn đoán nhanh, chính xác, dễ thực hiện 
để chẩn đoán sớm vào những giờ đầu là vô 
cùng cấp thiết. Các chất chỉ điểm sinh học 
(biomarker) là một hướng mới trong chẩn đoán 
sớm, theo dõi diễn tiến và đánh giá tiên lượng 
nặng. Đã có gần 60 chất chỉ điểm sinh học 
được phát hiện và nghiên cứu trong nhồi máu 
não cấp. Ví dụ như phân tử bám dính tế bào 
mạch máu 1 (VCAM-1), một seletin hòa tan 
thuộc nhóm những phân tử globulin miễn dịch 
bám vào tế bào thành mạch. Von Willebrand 
(vWF) chất chỉ điểm sinh học liên quan đông 
cầm máu. Hoặc protein có ái lực hóa học với 
bạch cầu đơn nhân (MCP1/ monocyte 
chemotactic protein 1). D-Dimer, một chất chỉ 
điểm sinh học của sự tiêu hủy fibrin, thể hiện 
hoạt tính sinh học của plasmin. Ngòai ra còn 
nhiều chất chỉ điểm sinh học khác. Mặc dù vậy 
cho đến nay vẫn chưa có một chất chỉ điểm 
sinh học riêng lẻ nào được thừa nhận là đặc 
trưng cho chẩn đoán nhồi máu não cấp mà chỉ 
là những yếu tố góp thêm cho chẩn đoán. 
Một hướng nghiên cứu mới có nhiều kết quả 
hứa hẹn hơn đó là phối hợp nhiều chất chỉ điểm 
sinh học thành một tổ hợp để chẩn đoán nhồi 
máu não cấp. Nhiều nghiên cứu nước ngoài, 
bước đầu cho thấy giá trị chẩn đoán dương tính 
nhồi máu não với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. 
Thậm chí một vài nghiên cứu phối hợp thành 
một tổ hợp chất chỉ điểm sinh học còn giúp 
chẩn đoán được phân nhóm nhồi máu não. 
Hiện tại Việt Nam mới có một vài nghiên cứu 
về 1,2 chất chỉ điểm sinh học, chưa có nghiên 
cứu nào về sự kết hợp của một tổ hợp gồm 
nhiều chất chỉ điểm sinh học để góp phần chẩn 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
34 
đoán và nhất là dự báo tiên lượng nhồi máu não 
giai đoạn cấp. Xuất phát từ lý do trên chúng tôi 
tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tổ hợp 
chất chỉ điểm sinh học: vWF, VCAM-1, MCP-
1, D-Dimer trong dự báo tiên lượng nhồi máu 
não cấp” với mục tiêu: 
1. Khảo sát nồng độ huyết tương của 4 
chất chỉ điểm sinh học vWF, VCAM-1, MCP-
1, D-Dimer ở bệnh nhân nhồi máu não cấp. 
2. Tìm hiểu giá trị chẩn đoán và tiên lượng 
của tổ họp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer 
ở bệnh nhân nhồi máu não cấp. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nhiên cứu 
Nhóm bệnh: Là những bệnh nhân NMN 
giai đoạn cấp. Tuổi từ 18 tuổi trở lên bị NMN 
lần đầu tiên, được điều trị tại khoa Nội Tổng 
hợp Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn Bình Định 
2015-2016. Nhóm chứng: Là những người 
khỏe mạnh, chưa lần nào bị TBMMN đến 
thời điểm nghiên cứu. Không dùng thuốc 
kháng viêm, ức chế miễn dịch, kháng đông, 
chống kết tập tiểu cầu. 
Loại trừ: Bệnh nhân XHN, bệnh nhân có 
bệnh kèm ảnh hưởng đến tăng nồng độ vWF, 
VCAM-1, MCP-1, D-Dimer như: Các bệnh 
nhiễm trùng, luput ban đỏ, ĐTĐ, suy thận, 
suy gan, ghép tạng. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt 
ngang có so sánh và đối chiếu nhóm chứng. 
2.3. Các bước tiến hành:Chọn bệnh nhân 
NMN chụp cắt lớp vi tính sọ não có tổn 
thương.Tiến hành lấy máu lúc đói vào ngày 
đầu tiên. Làm các xét nghiệm vWF, VCAM-
1, MCP-1 và D-Dimer tại Khoa Sinh hóa và 
Huyết học bệnh viện Trung ương Huế và một 
số xét nghiệm hổ trợ. 
2.4. Phương pháp xử lý số liệu: Theo 
phần mềm SPSS kết hợp với Medcalc version 
11.0. 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Có 90 bệnh nhân gồm 50 bệnh (29 nam, 21 nữ) và 40 chứng (22 nam, 18 nữ). Tuổi trung bình 
nhóm bệnh 69,7±14, tuổi trung bình nhóm chứng 69,3±14, có các kết quả sau: 
3.1. Nồng độ TB của vWF, VCAM-1, MCP-1 và D-Dimer ở nhóm bệnh và nhóm chứng 
Bảng 3.1.Nồng độ trung bình của vWF, VCAM-1, MCP-1 và D-Dimer ở nhóm bệnh và chứng 
 Nhóm 
Chất CĐSH 
Nhóm bệnh 
X±SD 
Nhóm chứng 
X±SD 
p 
vWF (Mu/ml) 176,03±18,11 148,98±19,04 <0,001 
VCAM-1 (ng/ml) 53,87±3,35 43,64±4,36 <0,001 
MCP-1 (pg/ml) 357,47±111,07 190,88±51,66 <0,001 
D-Dimer (ng/ml) 1016,72±524,06 329,40±90,17 <0,001 
+ Nhận xét: Nồng độ trung bình của 2 nhóm bệnh và chứng đều khác biệt có ý nghĩa 
p<0,001. 
3.2. Giá trị chẩn đoán của tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer ở BN NMN cấp 
3.2.1. Tỷ lệ BN nhóm bệnh, chứng trên điểm cắt chẩn đoán vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer 
Bảng 3.2. Tỷ lệ BN nhóm bệnh, chứng trên điểm cắt chẩn đoán 
Số bệnh nhân 
Chất CĐSH 
(Điểm cắt) 
Nhóm bệnh 
(n=50) 
Nhóm chứng 
(n=40) 
n % p n % p 
vWF (>169 Mu/ml) 47 94 
>0,05 
4 10.0 
>0,05 
VCAM-1 (>49,6 ng/ml) 49 98 1 2,5 
MCP-1 (>247,62pg/ml) 42 84 1 2,5 
D-Dimer (>425ng/ml) 48 96 3 7,5 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
35 
+Nhận xét: Tại điểm cắt chẩn đoán, nhóm bệnh có tỷ lệ vượt trên điểm cắt cao hơn nhóm 
chứng. 
3.2.2. Độ nhạy, độ đặc hiệu của tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer ở BN NMN cấp 
Bảng 3.3. Độ nhạy, độ đặc hiệu của tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer ở BN NMNcấp 
Tổ hợp Se (%) 95% CI Sp (%) 95% CI PPV (%) NPV (%) 
vWF 
VCAM-1 
MCP-1 
D-Dimer 
95,38 
91,42 - 
97,87 
91,52 
86,17 - 
95,28 
93,00 
94,37 
+ Nhận xét: Khi kết hợp thành một tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer, giá trị chẩn 
đoán có độ nhạy 95,38%, độ đặc hiệu là 91,52%. Gía trị dự báo (+) 93% và dự báo âm tính 
94,37%. 
3.3. Tiên lượng mức độ nặng lâm sàng và diễn tiến nặng lâm sàng của tổ họp vWF, 
VCAM-1, MCP-1, D-Dimer ở bệnh nhân NMN cấp. 
3.3.1 Giá trị tiên lượng mức độ nặng lâm sàng 
3.3.1.1. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong tiên lượng mức độ nặng lâm sàng. 
Bảng 3.4. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong tiên lượng mức độ nặng lâm sàng lúc 
vào viện của NMN cấp, đánh giá dựa theo thang điểm NIHSS 
Điểm cắt OR P Se (%) Sp (%) PPV NPV 
Điểm cắt vWF >179 Mu/ml 4,44 <0,05 55 74,07 61,11 68,97 
Điểm cắt VCAM-1 >54,7 ng/ml 3,48 <0,05 62,50 67,65 47,62 79,31 
Điểm cắt MCP-1 >369,18pg/ml 47,30 <0,001 100 91,30 100 93,31 
Điểm cắt D-Dimer >727ng/ml 18,05 <0,001 65,92 84,62 90,48 53,38 
Tổ hợp 10,84 <0,001 70,33 81,65 76,19 76,72 
+ Nhận xét: Khi phối hợp thành 1 tổ hợp. 
Tổ hợp chất chỉ điểm sinh học vWF, VCAM-
1, MCP-1, D-Dimer có giá trị tiên lượng mức 
độ nặng lâm sàng lúc vào viện của bệnh nhân 
NMN giai đoạn cấp với độ nhạy 70,33%, độ 
đặc hiệu 81,65%, giá trị dự báo dương tính 
76,19%, giá trị dự báo âm tính 76,72%, và 
OR=10,84, p<0,001. 
3.3.1.2. Phương trình dự báo mức độ nặng 
lâm sàng lúc vào viện 
Kết quả phân tích hồi qui tuyến tính đơn 
các yếu tố có tiềm năng dự báo mức độ nặng 
lâm sàng lúc vào viện đánh giá theo thang 
điểm NIHSS và phân tích hồi qui đa biến các 
yếu tố, có tiềm năng dự báo mức độ nặng lâm 
sàng lúc vào viện, cho kết quả giátrị nồng độ 
MCP-1, D-Dimer huyết tương và thang điểm 
Glasgow lúc vào viện là những yếu tố ảnh 
hưởng nhiều nhất đến mức độ nặng lâm sàng 
với r lần lược là 0,6625 (MCP-1) p<0,001; 
0,5150 (D-Dimer) p<0,001; và -0,3113 
(Glasgow) p<0,05. Phương trình mức độ nặng 
lâm sàng lúc vào viện 
Mức độ nặng lâm sàng = - 0,4573 + 
0,0024 x MCP-1 + 0,0003 x D-Dimer - 
0,0566 x Điểm Glasgow lúc vào. 
3.3.2. Giá trị tiên lượng diễn tiến nặng 
lâm sàng theo dõi sau 48 giờ 
Theo dõi sau 48 giờ đầu có 46% bệnh 
nhân NMN diễn tiến nặng và 54% bệnh nhân 
không diễn tiến nặng, không có sự khác biệt 
p>0,05. 
3.3.2.1. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-
Dimer đánh giá diễn tiến nặng lâm sàng sau 
48 giờ 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
36 
Bảng 3.5. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1 và D-Dimer trong đánh giá diễn tiến nặng lâm sàng 
theo dõi sau 48 giờ của bệnh nhân NMN cấp 
Điểm cắt OR P Se (%) Sp (%) PPV NPV 
vWF>179 Mu/ml 6,52 <0,05 65,57 74,07 69,57 74,07 
VCAM-1 >56,2 ng/ml 9,17 <0,05 85,71 65 39,13 96,30 
MCP-1 
>369,18 pg/ml 
2585 <0,001 100 100 100 100 
D-Dimer >761 ng/ml 8,07 <0,05 65,52 80,95 82,61 62,96 
Tổ hợp 171,42 <0,001 78,05 76,27 69,57 83,33 
+ Nhận xét: Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-Dimer trong tiên lượng diễn tiến nặng có độ 
nhạy 78,05%, độ đặc hiệu 76,27%, giá trị dự báo dương tính 69,57%, giá trị dự báo âm tính 
83,33%. Với p<0,001, OR=11,42. 
3.3.2.2. Phương trình dự báo diễn tiến nặng lâm sàng sau 48 giờ 
Kết quả phân tích hồi qui tuyến tính đơn các yếu tố có tiềm năng dự báo diễn tiến nặng lâm 
sàng theo dõi sau 48 giờ: Gía trị nồng độ MCP-1, D-Dimer, thang điểm Glasgow lúc vào viện và 
là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến diễn tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ. Tiến 
hành phân tích hồi qui đa biến các yếu tố có ảnh hưởng này có kết quả sau: 
Diễn tiến nặng lâm sàng= - 0,2264 + 0,0024 x MCP-1 + 0,002 x D-Dimer - 0,0524 x Điểm 
Glasgow lúc vào 
4. BÀN LUẬN 
4.1. Nồng độ vWF, VCAM-1, MCP-1 và 
D-Dimer huyết tương nhóm bệnh và nhóm 
chứng. 
Bảng 3.1 cho kết quả giá trị trung bình của 
4 chất chỉ điểm sinh học: 
- Với vWF bệnh 176,03 ± 18,11 Mu/ml, 
chứng 148,98 ± 19,04 Mu/ml, có sự khác biệt 
với p<0,001. Về giới kết quả nghiên cứu này 
cũng cho ... , IL6, 
ICAM, VCAM-1 đã kết luận các chất chỉ 
điểm sinh học tăng trong giai đoạn sớm là yếu 
tố tiên lượng diễn tiến nặng của tổn thương 
NMN với độ nhạy 96% và độ đặc hiệu 98%. 
Lynch và cs nghiên cứu 26 chất chỉ điểm 
sinh học trên 44 bệnh nhân nhồi máu não. Kết 
quả nghiên cứu cho thấy có 4 chất S100, 
vWF, MMP9, VCAM khi phối hợp với nhau 
cho chẩn đoán chính xác nhồi máu não với độ 
nhạy 90% và độ đặc hiệu 90% và có giá trị 
tiên lượng cao. Cũng nhóm tác giả này nghiên 
cứu phối hợp 5 chất chỉ điểm sinh học S100b, 
vWF, MMP9, B type neurotrophic growth 
factor, và MCP-1 cho thấy nhồi máu não 
được chẩn đoán chính xác với độ nhạy 92% 
và độ đặc hiệu 93% và cũng có giá trị tiên 
lượng tốt [8]. Tác giả Raynold và cs trong 
một nghiên cứu sử dụng tập hợp 5 CCDSH 
S100, B type neurotrophic growth factor, 
vWF, MMP9 và MCP-1 cho thấy sự kết hợp 
này có dự báo diễn tiến nặng theo dõi sau 48 
giờ với độ nhạy là 86,2% và độ đặc hiệu là 
93% [10]. Một nghiên cứu khác phối hợp D-
dimer, CRP, BNP, MMP-9 và S100β của tác 
giả Laskowitz được thực hiện trên bệnh nhân 
nghi NMN trong thời gian 6 giờ kể từ khi 
khởi phát triệu chứng. Kết quả cho thấy độ 
nhạy và độ đặc hiệu của dự báo với tỷ lệ lần 
lượt là 81% và 70% [7]. Và một tổ hợp 4 
chất: MMP-9, S100B, VCAM-1, vWF nghiên 
cứu 222 bệnh nhân (cả bệnh và chứng), cho 
kết quả tương tự với độ nhạy 90% và độ đặc 
hiệu 90%. Để xác định phương trình hồi qui 
đa biến diễn tiến nặng lâm sàng, chúng tôi 
tiến hành phân tích hồi qui đơn biến và đa 
biến các yếu tố liên quan có khác biệt, kết quả 
cho thấy gía trị nồng độ MCP-1, D-Dimer và 
thang điểm Glasgow lúc vào viện là những 
yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến diễn tiến 
nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ. Tiếp tục 
phân tích hồi qui đa biến thì thang điểm 
Glasgow, nồng độ MCP-1 và D-Dimer huyết 
tương có giá trị dự báo tiên lượng diễn tiến 
nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ và phương 
trình hồi qui đa biến là: 
Diễn tiến nặng lâm sàng = - 0,2264 + 
0,0024 x MCP-1 + 0,002 x D-Dimer - 0,0524 
x Điểm Glasgow lúc vào viện. 
Kết quả phương trình hồi qui đa biến diễn 
tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ vẫn có 
sự hiện diện của 3 thành tố là thang điểm 
Glasgow và 2 chất CĐSH MCP-1 và D-
Dimer. Phương trình dự báo tiên lượng diễn 
tiến nặng lâm sàng của chúng tôi cũng có 
thành tố thang điểm Glasgow lúc vào viện 
giống như một số tác giả khác. Nghiên cứu 
của tác giả Nguyễn Đình Toàn với 2 chất PAI-
1 và TNF alpha, tác giả xác định được 
phương trình hồi qui đa biến tiên lương diễn 
tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ cũng 
có thành tố thang điểm Glasgow: [3] 
Diễn tiến nặng = - 21,915 – 0,677 x Điểm 
Glasgow lúc vào viện + 2,194 x Thể tích tổn 
thương + 0,009 x TNF alpha + 0,013 x PAI-1. 
Trong phương trình hồi qui đa biến diễn 
tiến nặng lâm sàng theo dõi sau 48 giờ của 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
41 
nghiên cứu chúng tôi không có thành tố thể 
tích tổn thương não, điều này có lẽ cũng phù 
hợp vì thời gian theo dõi còn quá ngắn. 
5. KẾT LUẬN 
1. Nồng độ trung bình vWF, VCAM-1, 
MCP-1, D-Dimer huyết tương của bệnh nhân 
nhồi máu não cấp và nhóm chứng lần lược là: 
vWF nhóm bệnh 176,03 ± 18,11 Mu/ml, 
nhóm chứng 148,98 ± 19,04 Mu/ml, của 
VCAM-1 nhóm bệnh 53,87 ± 3,35 ng/ml, 
nhóm chứng 43,64 ± 4,36 ng/ml, của MCP-1 
nhóm bệnh 357,47 ± 111,07 pg/ml, nhóm 
chứng 190,88 ± 51,66 pg/ml, và của D-Dimer 
nhóm bệnh 1016,72 ± 524,06 ng/ml, nhóm 
chứng 329,40 ± 90,17 ng/ml. 
2. Tổ hợp chất chỉ điểm sinh học vWF, 
VCAM-1, MCP-1, D-Dimer có giá trị cao 
trong chẩn đoán nhồi máu não cấp với độ 
nhạy 95,38%, độ đặc hiệu 91,52%, giá trị dự 
báo dương tính 93%, giá trị dự báo âm tính 
94,37%. 
3. Tổ hợp vWF, VCAM-1, MCP-1, D-
Dimer có giá trị cao trong dự báo tiên lượng 
mức độ nặng lâm sàng lúc vào viện của bệnh 
nhân nhồi máu não cấp, với độ nhạy 70,33%, 
độ đặc hiệu 81,65%, giá trị dự báo dương tính 
76,19%, giá trị dự báo âm tính 76,72%, 
OR=10,84, p<0,001 và cũng có giá trị cao 
trong dự báo tiên lượng diễn tiến nặng lâm 
sàng theo dõi sau 48 giờ với độ nhạy 78,05%, 
độ đặc hiệu 76,27%, giá trị dự báo dương tính 
69,57%, giá trị dự báo âm tính 83,33%, 
p<0,001, OR=11,42. 
- Phương trình hồi qui đa biến dự báo:Mức 
độ nặng lâm sàng = - 0,4573 + 0,0024 x 
MCP-1 + 0,0003 x D-Dimer - 0,0566 x Điểm 
Glasgow lúc vào 
- Phương trình hồi qui đa biến dự báo: 
Diễn tiến nặng lâm sàng = - 0,2264 + 0,0024 
x MCP-1 + 0,002 x D-Dimer - 0,0524 x 
Điểm Glasgow lúc vào 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Hồ Thị Thúy Hằng, Hoàng Khánh, 
Phan Thị Phương, Tôn Thất trí Dũng 
(2012), “Nghiên cứu nồng độ D-Dimer 
huyết tương ở bệnh nhân nhồi máu não 
giai đoạn cấp”, Tạp chí Y học thực hành 
số 811-812, Tr.100-104. 
2. Hoàng Khánh (2009), “Các yếu tố nguy 
cơ gây tai biến mạch máu não”, Tai biến 
mạch máu não - Hướng dẫn chẩn đoán và 
xử trí, Nxb Y học, tr 85-107. 
3. Nguyễn Đình Toàn (2012), Nghiên cứu 
nồng độ PAI-1, TNF-Anpha huyết tương ở 
bệnh nhânnhồi máu não giai đọan cấp, 
Luận án tiến sĩ y học Đại học Y Dược Huế. 
4. A. Arakelyan, J. Petrkova, Z. 
Hermanova, A. Boyajyan,J. 
Lukl, and M. Petrek (2005), “Serum 
Levels of the MCP-1 Chemokine in 
Patients With Ischemic Stroke and 
Myocardial Infarction” Mediators of 
Inflammation Volume, Issue 3, Pages 
175-179. 
5. Blann, A.; Kumar, P.; Krupins, 
McCollum, C.; Beevers, D. G 
(1999),"Soluble intercellular adhesion 
molecule-1, E-selectin, vascular cell 
adhesion molecule-1 and von Willebrand 
factor in stroke”, Blood Coagulation & 
Fibrinolysis, July 1999. 
6. Catto AJ , Carter AM , Barrett 
JH , Bamford J , Rice PJ , Grant 
PJ(1997), “Von Willebrand factor and 
factor VIII: C in acute cerebrovascular 
disease. Relationship to stroke subtype 
and mortality”,Thrombosis and 
Haemostasis 77(6):1104-1108. 
7. Laskowitz T Daniel (2009),"Clinical 
Usefulness of a Biomarker-Based 
Diagnostic Test for Acute Stroke:The 
Biomarker Rapid Assessment in Ischemic 
Injury "(BRAIN) Study, Stroke, 40; 77- 
85. 
8. Lynch R John (2004), "Novel Diagnostic 
Test for Acute Stroke", Stroke, 35; 57-63. 
9. Renske G. Wieberdink, Marianne C. 
van Schie, Peter J (2010), “High von 
Willebrand Factor Levels Increase the 
Risk of Stroke”, Stroke. 2010;41:2151-
2156 
10. Reynolds A Mark (2003), "Early 
Biomarkers of Stroke", Clinical 
Chemistry, 49:10, 1733- 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
42 
NGHIÊN CỨU MẬT ĐỘ KHOÁNG XƯƠNG VÀ LOÃNG XƯƠNG 
Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 
Ngô Đức Kỷ 
 Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An 
DOI: 10.47122/vjde.2020.43.6 
ABSTRACT 
Study on bone mineral density and 
osteoporosis in patients with type 2 diabetes 
Objectives: Study on bone mineral density 
and osteoporosis in patients with type 2 
diabetes. Methods: Cross – sectional study. 
All 151 patients were diagnosed with type 2 
diabetes aged 36-81 years old and treated at 
the Nghe An General Hospital. All patients 
underwent intravenous glucose testing, 
insulin, HbA1c on COBAS 6000 and of 
Roche, and bone density measurements using 
the Hologram Discovery QDR series 4500A / 
SL, US DELPHI. Analysis of data by SPSS 
16.0 software. Results: The average age is 
62,12 ± 8,99 years old. Average BMI 22,96 ± 
2,98 kg / m2. The difference between the 
sexes in age indexes, BMI, HOMA2-IR, and 
HbA1c is not statistically significant with p > 
0,05. The bone mineral density, neck of the 
femur and lumbar spine from L1 - L4 in 
women was significantly lower than that of 
men with p < 0,001. The prevalence of 
osteoporosis was 31,1%, of which men were 
8,6% and women 22,5%. The risk of 
osteoporosis of women is 2,96 times higher 
than that of men and this difference is 
statistically significant with p < 0,01. There 
was a correlation between bone mineral 
density and HbA1c in type 2 diabetes patients 
(p < 0,01) and no negative correlation 
between bone mineral density with BMI and 
HOMA2 -IR. Conclusion: In patients with 
type 2 diabetes who control good blood 
glucose levels increase bone mineral density. 
Keywords: Bone mineral density, type 2 
diabetes mellitus, osteoporosis. 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Khảo sát mật độ khoáng xương 
và tỷ lệ loãng xương và mối liên quan của 
chúng với một số đặc điểm ở bệnh nhân đái 
tháo đường type 2. Phương pháp nghiên cứu 
và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 
cắt ngang có phân tích. Tất cả 151 bệnh nhân 
được chẩn đoán đái tháo đường type 2 có độ 
tuổi từ 36 – 81 khám và điều trị tại Bệnh viện 
hữu nghị đa khoa Nghệ An. Các xét nghiệm 
glucose, HbA1c, insulin, c – peptid được làm 
tại Khoa Hóa sinh bằng hệ thống tự động máy 
Cobas 6000 và Cobas e 601 của hãng Roche. 
Glucose máu huyết tương lúc đói bằng 
phương tham chiếu sử dụng men hexokinase, 
HbA1c dựa trên xét nghiệm miễn dịch ức chế 
đo độ đục (TINIA) cho máu toàn phần ly giải, 
insulin và c – peptide đo bằng phương pháp 
miễn dịch hóa phát quang (electro-
chemiluminescence immunoassay: điện hóa 
phát quang). Đo mật độ xương toàn thân bằng 
máy Hologic Discovery QDR series 
4500A/SL, DELPHI của Mỹ. Tính các chỉ số 
HOMA2-IR và HOMA2-%Beta theo phiên 
bản phần mềm HOMA Calculator v2.2.3 của 
Đại học Oxford – Anh. Xử lý số liệu bằng 
phần mền SPSS 16.0. Kết quả: Tuổi trung 
bình của nhóm nghiên cứu 62,12 ± 8,99 tuổi. 
Trung bình BMI 22,96 ± 2,98 kg/m2. Sự khác 
biệt của hai giới về các chỉ số tuổi, BMI, 
HOMA2-IR, và HbA1c không có ý nghĩa 
thống kê với p > 0,05. Mật độ khoáng xương 
toàn thân, cổ xương đùi và xương cột sống 
thắt lưng từ L1 – L4 ở nữ giảm hơn so nam có 
ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Tỷ lệ loãng 
xương chung là 31,1%, trong đó nam là 8,6% 
và nữ 22,5%. Nguy cơ loãng xương của phụ 
nữ cao gấp 2,96 lần so với nam giới và sự 
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 
0,01. Có mối liên quan giữa mật độ khoáng 
của xương với chỉ số HbA1c ở bệnh nhân 
ĐTĐ týp 2 (p < 0,01) và ngược lại không có 
mối tương quan giữa mật độ khoáng xương 
với BMI và chỉ số đề khoáng insulin 
HOMA2-IR. Kết luận: Ở những bệnh nhân 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
43 
đái tháo đường týp 2 kiểm soát glucose máu 
tốt thì làm tăng mật độ khoáng của xương. 
Từ khóa: Mật độ khoáng xương, đái tháo 
đường týp 2, Loãng xương. 
Chịu trách nhiệm chính: Ngô Đức Kỷ 
Ngày nhận bài: 25/10/2020 
Ngày phản biện khoa học: 08/11/2020 
Ngày duyệt bài: 12/12/2020 
Email: [email protected] 
Điện thoại: 0936758595 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Những năm gần đây nhiều nghiên cứu trên 
thế giới đã đề cập đến sự liên quan giữa loãng 
xương và đái tháo đường. Loãng xương cũng 
là một rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường 
type 2 như là một yếu tố nguy cơ mất xương 
và gãy xương ở người và động vật thí nghiệm 
[1,2,3]. Mặt khác xương cũng được nghiên cứu 
như là một cơ quan nội tiết có liên quan đến 
chuyển hóa một số hormon và liên quan đến đề 
kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường 
[3,4]. Các nghiên cứu về mật độ khoáng của 
xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có 
các kết quả khác nhau. Nghiên cứu cho thấy có 
thay đổi theo chiều hướng tăng hoặc không 
thay đổi mật độ khoáng của xương ở bệnh 
nhân đái tháo đường type 2 [3,5]. 
Những kết quả trái ngược về mật độ 
khoáng của xương ở bệnh nhân đái tháo 
đường type 2 này có thể giải thích do sự khác 
biệt về chủng tộc, về các nước khác nhau hay 
thiết kế nghiên cứu khác nhau. Kiểm soát cân 
nặng là một mục tiêu rất cần thiết trong điều 
trị bệnh đái tháo đường type 2 mặc dù BMI 
thấp, thừa cân và béo phì thường xãy ra ở một 
số bệnh nhân. 
Ở Việt Nam đã có nghiên cứu về mật độ 
khoáng của xương cũng như loãng xương ở 
bệnh nhân đái tháo đường type 2 nhưng tại 
Nghệ An chưa có nghiên cứu nào được thực 
hiện. Vì vậy chúng tối tiến hành nghiên cứu 
này nhằm mục đích: 
- Khảo sát mật độ khoáng xương và tỷ lệ 
loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường 
type 2.. 
- Tìm hiểu mối liên quan giữa mật độ 
khoáng xương với một số đặc điểm ở bệnh 
nhân đái tháo đường type 2. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
 Chọn 151 bệnh nhân được chẩn đoán đái 
tháo đường type 2 và điều trị tại Bệnh viện 
hữu nghị đa khoa Nghệ An.Thời gian từ năm 
07/2015 – 02/2017. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang 
có phân tích. 
Áp dụng cỡ mẫu thuận tiện không xác 
suất. 
2.3. Đo mật độ khoáng của xương bằng 
phương pháp hấp phụ tia X năng lượng 
kép - DEXA (Dual - Energy X – ray 
Absorptiometry - DEXA). 
Tất cả các bệnh nhân đều được đo mật độ 
xương vùng cột sống thắt lưng từ L1 – L4, đo 
mật độ xương toàn thân và cổ xương đùi tại 
khoa Thăm dò chức năng, Bệnh Viện Hữu 
Nghị Đa Khoa Nghệ An. 
- Đặc điểm của máy: Loại Máy: đo mật độ 
xương bằng máy Hologic Discovery QDR 
series 4500A/SL, DELPHI của Mỹ. 
- Các xét nghiệm HbA1c, insulin, glucose, 
c – peptide thực hiện trên máy Cobas 6000 
của hãng Roche. Phân tích số liệu bằng phần 
mền thống kê SPSS 16.0. 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu 
Bảng 1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu 
Đặc điểm Nam Nữ Chung P 
Tuổi (năm) 61,71 ± 9,59 62,53 ± 8,38 62,12 ± 8,99 p >0,05 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
44 
Giới 50,3% 49,7% p >0,05 
BMI( kg/m²) 23,06 ± 2,90 22,86± 3,07 22,96 ± 2,98 p >0,05 
HbA1c (%) 7,61 ± 2,01 8,26 ± 2,08 7,93 ± 2,06 p > 0,05 
HOMA2-IR 7,09 ± 5,08 6,86 ± 6,27 6,97 ± 5,69 p > 0,05 
Nhận xét: Tất cả có 151 bệnh nhân đái tháo đường type 2 tham gia nghiên cứu, nam chiếm 
50,3% và nữ là 49,7%.Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu 62,132 ± 8,99 tuổi. Trung bình BMI 
22,96 ± 2,98 kg/m². Trung bình HbA1c là 7,93 ± 2,06% và chỉ số đề kháng insulin HOMA2-IR 
là 6,97 ± 5,69. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi, giới, chỉ số BMI, HbA1c và 
HOMA2-IR ở nam và nữ. 
3.2. Đặc điểm mật độ khoáng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 
Bảng 2. Đặc điểm mật độ khoáng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 
Đặc điểm 
Tứ phân 
vị 25 
Trung vị 
Tứ phân 
vị 75 
p* 
BMD (g/cm²) 
Chung (n = 151) 0,91 1,02 1,11 
Nam (n = 76) 1,04 1,09 1,15 
< 0,001 
Nữ (n = 75) 0,88 0,92 0,99 
BMD L1-L4 
(g/cm²) 
Chung (n = 151) 0,81 0,92 1,04 
Nam (n = 76) 0,89 0,98 1,08 
< 0,001 
Nữ (n = 75) 0,76 0,84 0,93 
BMD xương 
chậu hông 
(g/cm²) 
Chung (n = 151) 0,87 0,97 1,07 
Nam (n = 76) 0,93 1,01 1,13 
< 0,001 
Nữ (n = 75) 0,83 0,89 1,02 
Nhận xét: Mật độ khoáng xương toàn thân, mật độ khoáng xương từ L1-L4 và xương chậu ở 
nam đều cao hơn ở nữ. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. 
Bảng 3. Tỷ lệ loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 
Đặc điểm 
Loãng xương 
p 
N % 
Chung (n = 151) 47 31,1 
Nam (n = 76) 13 8,6 
< 0,001 
Nữ (n = 75) 34 22,5 
Nhận xét: Tỷ lệ loãng xương chung là 31,1%, trong đó nam là 8,6% và nữ 22,5%. Nguy cơ 
loãng xương của phụ nữ cao gấp 2,96 lần so với nam giới và sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê với p < 0,01. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_to_hop_chat_chi_diem_sinh_hoc_vwf_vcam_1_mcp_1_d.pdf