Nghiên cứu tình trạng viêm nhiễm sinh dục thấp ở thai phụ trên 35 tuần tuổi thai

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm nhiễm

đường sinh dục thấp ở sản phụ đơn thai trên 35 tuần tuổi và khảo sát

một số yếu tố liên quan đến tình trạng viêm nhiễm đường sinh dục thấp

ở những sản phụ này.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 48 trường hợp thai phụ

đến khám tại phòng khám Sản phụ khoa trường Đại học Y Dược Huế từ

tháng 2/2016 đến tháng 5/2016, qua khám lâm sàng, xét nghiệm dịch

âm đạo bằng soi tươi, nhộm gram, nuôi cấy vi sinh, xét nghiệm nước

tiểu để tìm ra tác nhân gây viêm nhiễm, đồng thời tìm hiểu một số yếu

tố nguy cơ liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục thấp ở sản phụ

mang thai trên 35 tuần tuổi thai.

Kết quả: Tỷ lệ nhiễm trùng đường sinh dục thấp 41,7%. Không có triệu

chứng 72,9 %, khí hư trắng bột 27,1%. Các nguyên nhân gồm Candida

Albicans 23%, Gardnerella vaginalis 10,4%, tụ cầu 14,6%. Một số yếu

tố liên quan gồm tuổi mẹ dưới 29 so với nhóm trên 29 (51,4% vs 15,4%);

nông thôn, miền núi với thành thị (57,1% vs 29,6%); lao động chân tay

với trí thức ( 48,1% vs 33,3%); có tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục

(50% vs 40,9%); có bạch cầu niệu (60% vs 21,7%); có tiền sử nạo hút

thai ( 50% vs 40,5%). Đặc điểm kiến thức vệ sinh của sản phụ tỷ lệ viêm

nhiễm gặp nhiều ở nhóm vệ sinh 1 lần/ ngày ( 54,8% vs 17,6%); thụt rửa

bên trong âm đạo (100% vs 40,4%),không vệ sinh sau giao hợp ( 62,5%

vs 31,3%); không dùng dung dịch rửa (57,1% vs 39%).

Kết luận: Viêm nhiễm sinh dục thấp chiếm tỷ lệ cao ở sản phụ mang

thai trên 35 tuần tuổi thai. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là ngứa

rát âm hộ. Các nguyên nhân thường gặp theo thứ tự là nấm Candida

Albicans, tụ cầu, liên cầu, gồm các tác nhân đơn thuần và phối hợp.

Cần có cỡ mẫu lớn hơn để xác định các yếu tố liên quan.

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tình trạng viêm nhiễm sinh dục thấp ở thai phụ trên 35 tuần tuổi thai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tình trạng viêm nhiễm sinh dục thấp ở thai phụ trên 35 tuần tuổi thai

Nghiên cứu tình trạng viêm nhiễm sinh dục thấp ở thai phụ trên 35 tuần tuổi thai
LÊ THỊ LY LY, LÊ MINH TÂM
44
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Lê Thị Ly Ly, Lê Minh Tâm 
Trường Đại học Y Dược Huế
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG
VIÊM NHIỄM SINH DỤC THẤP 
Ở THAI PHỤ TRÊN 35 TUẦN TUỔI THAI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Thị Ly Ly,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/06/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
24/06/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/06/2016
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm nhiễm 
đường sinh dục thấp ở sản phụ đơn thai trên 35 tuần tuổi và khảo sát 
một số yếu tố liên quan đến tình trạng viêm nhiễm đường sinh dục thấp 
ở những sản phụ này.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 48 trường hợp thai phụ 
đến khám tại phòng khám Sản phụ khoa trường Đại học Y Dược Huế từ 
tháng 2/2016 đến tháng 5/2016, qua khám lâm sàng, xét nghiệm dịch 
âm đạo bằng soi tươi, nhộm gram, nuôi cấy vi sinh, xét nghiệm nước 
tiểu để tìm ra tác nhân gây viêm nhiễm, đồng thời tìm hiểu một số yếu 
tố nguy cơ liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục thấp ở sản phụ 
mang thai trên 35 tuần tuổi thai.
Kết quả: Tỷ lệ nhiễm trùng đường sinh dục thấp 41,7%. Không có triệu 
chứng 72,9 %, khí hư trắng bột 27,1%. Các nguyên nhân gồm Candida 
Albicans 23%, Gardnerella vaginalis 10,4%, tụ cầu 14,6%. Một số yếu 
tố liên quan gồm tuổi mẹ dưới 29 so với nhóm trên 29 (51,4% vs 15,4%); 
nông thôn, miền núi với thành thị (57,1% vs 29,6%); lao động chân tay 
với trí thức ( 48,1% vs 33,3%); có tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục 
(50% vs 40,9%); có bạch cầu niệu (60% vs 21,7%); có tiền sử nạo hút 
thai ( 50% vs 40,5%). Đặc điểm kiến thức vệ sinh của sản phụ tỷ lệ viêm 
nhiễm gặp nhiều ở nhóm vệ sinh 1 lần/ ngày ( 54,8% vs 17,6%); thụt rửa 
bên trong âm đạo (100% vs 40,4%),không vệ sinh sau giao hợp ( 62,5% 
vs 31,3%); không dùng dung dịch rửa (57,1% vs 39%).
Kết luận: Viêm nhiễm sinh dục thấp chiếm tỷ lệ cao ở sản phụ mang 
thai trên 35 tuần tuổi thai. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là ngứa 
rát âm hộ. Các nguyên nhân thường gặp theo thứ tự là nấm Candida 
Albicans, tụ cầu, liên cầu, gồm các tác nhân đơn thuần và phối hợp. 
Cần có cỡ mẫu lớn hơn để xác định các yếu tố liên quan.
Abstract 
Objectives: Described clinical characteristics, clinical approach of 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 44 - 48, 2016
45
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
lower genital tract infections in pregnant women over 35 weeks of gestation and examined a number 
of factors relating to the lower genital tract infection.
Materials and methods: Cross-sectional description on 48 cases of pregnant women attending to 
Obstetrics and Gynecology Out-patient Section, Hue University Hospital from January, 2016 to May, 
2016, gynecologic examination with wet-mount, gram stain, microbiology culture, urine test in order 
to identify the cause(s) of lower gentinal infection in pregnant women over 35 weeks of gestation and 
study on risk factors.
Results: The incidence of lower genital tract was 41,7%. no symptoms 72,9%, leukorrhea white 
powder 27.1%. The causes include Candida albicans 23%, Gardnerella vaginalis 10.4%, staphylococcus 
14,6%. Several factors may be related include under 29 age (51,4% vs 15,4%); rural, mountainous 
and urban (57,1 vs 29,6%); manual workers to intellectuals (48,1% vs 33,3%); with a history of genital 
tract infections (50% vs 40,9%); with urinary leukocytes (60% vs 27,1%); history of abortion (50% 
vs 40,5%). Features hygiene knowledge of pregnant women the high rate of infection in the group 
hygiene 1 times / day (54,8% vs 17,6%); vaginal douching inside (100% vs 40,4%), not hygiening after 
intercourse (62,5% vs 31,3%); not using cleaning solution (57,1% vs 39%).
Conclusion: Lower genital tract infections are quite popular in pregnant women over 35 weeks 
gestation. Clinical symptoms are the most common vaginal irritation. The most common causes: 
Candida albicans, staphylococcus, streptococcus, both the only and in combination pathogens. More 
researchs are needed with larger sample sizes to determine the associated factors.
1. Đặt vấn đề 
Bệnh viêm nhiễm đường sinh dục thấp là một 
bệnh rất phổ biến ở phụ nữ trên toàn thế giới, nhất 
là ở các nước đang phát triển. Theo Tổ chức Y tế 
Thế giới, viêm nhiễm sinh dục thấp bao gồm viêm 
âm hộ, viêm âm đạo và viêm cổ tử cung , biểu hiện 
chủ yếu bằng hội chứng tiết dịch âm đạo. Viêm 
nhiễm sinh dục thấp không phải là một bệnh cấp 
cứu, nhưng lại ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng 
cuộc sống và tốn kém về chi phí khám chữa bệnh.
Ở phụ nữ có thai, do yếu tố nội tiết thai kỳ, sự 
thay đổi môi trường âm đạo và sức đề kháng giảm 
nên nguy cơ viêm nhiễm đường sinh dục thấp cao 
hơn, bệnh có thể gây viêm màng ối làm ối vỡ non, ối 
vỡ sớm, sẩy thai, thai chết lưu, đẻ non, nhiễm khuẩn 
sơ sinh, nhiễm khuẩn hậu sản, nhiễm trùng huyết, dị 
tật sơ sinh,[4],[8],[10]. Đặc biệt ở phụ nữ mang 
thai trong tháng cuối thai kỳ việc chẩn đoán và điều 
trị dứt điểm viêm nhiễm đường sinh dục thấp là điều 
hết sức cần thiết để hạn chế các tai biến sản khoa.
Thực hiện khám thai, làm các xét nghiệm thường 
quy để chẩn đoán và điều trị kịp thời viêm nhiễm 
đường sinh dục thấp ở phụ nữ mang thai là đáp ứng 
yêu cầu chăm sóc sản khoa hiệu quả và chất lượng. 
Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu 
và công bố kết quả về viêm nhiễm đường sinh dục 
thấp, nhưng ở thai phụ trên 35 tuần tuổi thai vẫn chưa 
nhiều. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu 
tình trạng viêm nhiễm đường sinh dục thấp ở thai phụ 
trên 35 tuần tuổi thai”, với mục tiêu (1) mô tả đặc điểm 
lâm sàng, cận lâm sàng của viêm nhiễm đường sinh 
dục thấp ở sản phụ trên 35 tuần tuổi thai và (2) khảo 
sát một số yếu tố liên quan đến tình trạng viêm nhiễm 
đường sinh dục thấp ở những thai phụ này.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sản phụ mang đơn thai 
trên 35 tuần đến khám và quản lý thai nghén tại bệnh 
viện Trường Đại Học Y Dược Huế, có hoặc không có 
triệu chứng của viêm âm đạo, âm hộ, không mắc 
các bệnh toàn thân: đái tháo đường, basedow, và 
đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiến hành thu thập số 
liệu từ tháng 2/2016 đến tháng 5/2016.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, 
tất cả các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn, 
khám toàn thân, khám sản khoa, khám phụ khoa 
quan sát âm hộ âm đạo, cổ tử cung, lấy bệnh 
phẩm dịch âm đạo để soi tươi, nhộm gram và nuôi 
cấy, xét nghiệm 10 thông số nước tiểu, nhằm xác 
định tình trạng tổn thương lâm sàng, cận lâm sàng 
và các yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh 
dục thấp. Các trường hợp có kết quả chẩn đoán 
viêm nhiễm sẽ được điều trị phù hợp.
Số liệu được nhập và xử lý theo phương pháp 
thống kê y học bằng phần mềm SPSS 16.0, sự 
khác biệt có ý nghĩa khi giá trị p<0,05.
3. Kết quả nghiên cứu
Trong 48 trường hợp đến khám có 20 trường 
hợp có xét nghiệm dịch âm đạo dương tính, chiếm 
tỉ lệ 41,7%.
Có 35 sản phụ tới khám thai không có triệu 
chứng, chiếm tỉ lệ 72,9%, triệu chứng gặp nhiều 
nhất là ngứa rát âm hộ với tỉ lệ 27,1%.
Khí hư trắng bột chiếm tỷ lệ cao nhất 27,1%. 
Không có trường hợp nào có khí hư vàng xanh, 
có bọt.
LÊ THỊ LY LY, LÊ MINH TÂM
46
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Số lượng(n) Tỷ lệ (%)
Bị bệnh 20 41,7
Không bệnh 28 58,3
Tổng 48 100
Bảng 1. Tỷ lệ mắc viêm nhiễm đường sinh dục thấp
Triệu chứng Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Ngứa rát âm hộ 13 27,1
Tiểu buốt 1 2,1
Giao hợp đau 1 2,1
Không triệu chứng 35 72,9
Bảng 2: Triệu chứng cơ năng
Các tác nhân Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Candida đơn thuần 3 6,3
Candida + Gardnerella 5 10,4
Candida + Liên cầu 1 2,1
Candida + tụ cầu 2 4,2
Tụ cầu 5 10,4
Liên cầu 4 8,3
Âm tính 28 58,3
Tổng 48 100
Bảng 4: Cận lâm sàng
Triệu chứng thực thể Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Khí hư
Trắng đục 6 12,5
Trắng bột 13 27,1
Vàng xanh, có bọt 0 0
Bảng 3: Triệu chứng thực thể
Nhiễm trùng sinh dục thấp do Candida albicans 
chiếm tỷ lệ cao nhất 23%,không tìm ra tác nhân 
chiếm 58,3%.
4. Bàn luận
Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có 48 
sản phụ mang thai trên 35 tuần ghi nhận được 
20 trường hợp nhiễm trùng đường sinh dục thấp, 
chiếm 41,7%. Các sản phụ đến khám không phải 
vì khám phụ khoa mà là khám thai định kỳ và 
được sự tư vấn của nhân viên y tế để kiểm tra phụ 
khoa. Do đó tỷ lệ viêm nhiễm cao cho thấy một 
tình trạng đáng báo động về nhận thức chăm 
sóc sức khỏe sản khoa, các sản phụ đa số quan 
tâm đến tình trạng thai nhi mà bỏ qua các triệu 
chứng ở mẹ, điều này dẫn đến nhiều nguy cơ 
cho mẹ và thai như ối vỡ non, ối vỡ sớm, dọa 
sinh non, nhiễm trùng sơ sinh, Điều này cho 
thấy việc tầm soát tình trạng viêm nhiễm đường 
sinh dục thấp ở phụ nữ mang thai là rất cần thiết, 
nhất là ở những tháng cuối thai kỳ. Tìm hiểu các 
nghiên cứu trong nước chúng tôi không có số liệu 
của thiết kế nghiên cứu của cùng độ tuổi thai kỳ, 
do đó chưa có sự so sánh sát đáng.Khi so sánh 
với các tác giả khác, tỷ lệ mắc bệnh của nghiên 
Đặc điểm chung
Có viêm Không viêm
Tổng P
n % N %
Tuổi
≤ 29 18 51,4 17 48,6 35
p>0,05
> 29 2 15,4 11 84,6 13
Địa dư
Thành thị 8 29,6 19 71,4 27
p>0,05
Nông thôn, miền núi 12 57,1 9 42,9 21
Nghề nghiệp
Trí thức 7 33,3 14 66,7 21
p>0,05
Lao động chân tay 13 48,1 14 51,9 27
Tiền sử nạo 
hút thai
Có 3 50 3 50 6
p>0,05
Không 17 40,5 25 59,5 42
Tiền sử viêm 
nhiễm ĐSDT
Có 2 50 2 50 4
p>0,05
Không 18 40,9 26 59,1 44
Bạch cầu 
niệu
Dương tính 15 60 10 40 25
p>0,05
Âm tính 5 21,7 18 78,3 23
Bảng 5: Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu và liên quan viêm nhiễm sinh dục
Kiến thức vệ sinh
Có viêm Không viêm
Tổng P
n % N %
Số lần vệ sinh/
ngày
1 17 54,8 14 45,2 31
p>0,05
>1 3 17,6 14 82,4 17
Cách vệ sinh
Thụt rửa 1 100 0 0 1
p>0,05
Rửa bên ngoài 19 40,4 28 59,6 47
Vệ sinh sau giao 
hợp
Có 10 31,3 22 68,7 32
p>0,05
Không 10 62,5 6 37,5 16
Dùng dung dịch 
vệ sinh rửa
Có 16 39 25 61 41
p>0,05
Không 4 57,1 3 42,9 7
Bảng 6: Kiến thức vệ sinh cá nhân của sản phụ và liên quan viêm nhiễm đường sinh dục thấp
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 44 - 48, 2016
47
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
cứu chúng tôi có sự chênh lệch đáng kể. So với 
kết quả của Lê Lam Hương[2] tỷ lệ viêm nhiễm 
đường sinh dục thấp ở phụ nữ mang thai tất cả 
tuổi thai là 78,5% cao hơn nhiều đối với nghiên 
cứu của chúng tôi, có lẽ do tác giả nghiên cứu 
cách đây 13 năm, khi đó các điều kiện chăm sóc 
sức khỏe còn ít, sản phụ chưa quan tâm nhiều đến 
tình hình sức khỏe mẹ và con. Thấp hơn nghiên 
cứu của Lê Minh Tâm[5] tỷ lệ viêm nhiễm đường 
sinh dục thấp ở các trường hợp dọa sinh non là 
69,5% ; nghiên cứu của Phạm Thu Xanh[7] là 
60,8% cao hơn nghiên cứu của chúng tôi.
Có đến 35 trường hợp đến khám không có triệu 
chứng chiếm 72,9%, cao hơn với tác giả Nguyễn 
Thị Minh Thanh[6] 41,7% ; điều này một phần có 
thể do các sản phụ không lưu tâm đến các triệu 
chứng phụ khoa nên bỏ qua, mặc khác có thể do 
các tác nhân gây viêm nhiễm có thể không gây 
triệu chứng đặc hiệu nào. Triệu chứng ngứa rát âm 
hộ chiếm nhiều nhất 27,1%, có sự tương quan với 
nguyên nhân gây viêm nhiễm là Candida, ngoài ra 
còn có các triệu chứng khác như giao hợp đau, tiểu 
khó. Qua đây cho thấy các triệu chứng của viêm 
đường sinh dục thấp rất đa dạng, không thể chủ 
quan bỏ qua các triệu chứng liên quan.
Về tính chất, màu sắc khí hư phần nào gợi 
ý nguyên nhân gây bệnh, khí hư trắng bột gợi 
ý nhiễm nấm Candida chiếm tỷ lệ 27,1% cao 
hơn so với một số nghiên cứu khác, của Thạch 
Thùy Linh[3] là 12,9%, của Lê Lam Hương[2] là 
5,14%. Tuy nhiên sự khác nhau này không có 
nghĩa là sự nhiễm nấm khác nhau mà để chẩn 
đoán nhiễm nấm Candida albicans cần thêm các 
yếu tố khác như triệu chứng ngứa, và xét nghiệm 
có nấm Candida albicans trong dịch âm đạo. 
Khí hư nhiều, mùi hôi, màu vàng xanh hay có bọt 
gợi ý nhiễm Trichomonas vaginalis, trong nghiên 
cứu của chúng tôi chưa ghi nhận trường hợp nào 
có khí hư như vậy.
Trong các nguyên nhân gây bệnh ở sản phụ, 
Candida Albicans chiếm tỷ lệ cao nhất 23% bao 
gồm đơn thuần hay phối hợp với sinh vật khác. Tỷ 
lệ của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của 
Lê Lam Hương[2] 59,38%,của Lê Hoài Chương[1] 
35,3% và lê Minh Tâm[5] 50%. Sự chênh lệch về 
tỷ lệ này có thể do cỡ mẫu của chúng tôi khá 
nhỏ và thời gian tiến hành lấy mẫu trong vòng 
tháng 2 đến tháng 5 đây là khoảng thời gian thời 
tiết ấm áp, nắng nhiều, khô ráo do đó nguy cơ 
nhiễm nấm sẽ thấp hơn. Tỷ lệ nhiễm Gardnerella 
vaginalis trong nghiên cứu là 10,4% và trong 5 
trường hợp nhiễm Gardnerella vaginalis này đều 
phối hợp với nhiễm nấm Candida Albicans, và 
triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, test Sniff 
chỉ dương tính trong 3 trường hợp và độ pH > 4,5 
cũng có 3 trường hợp, do đó việc chẩn đoán chỉ 
dựa vào nuôi cấy,nghiên cứu của McGregor[9] 
khẳng định phát hiện và điều trị sớm viêm âm đạo 
do Gardnerella giúp giảm ối vỡ non và sinh non. 
Nhiễm tụ cầu chiếm 14,6% là nguyên nhân gây 
viêm nhiễm đường sinh dục thứ hai sau Candida 
Albicans, kết quả của chúng tôi gần giống Lê 
Hoài Chương[1] 16,9%. Đây là một trong số các 
nguyên nhân gây lây truyền cho trẻ sơ sinh gây 
viêm phổi, nhiễm trùng sơ sinh sớm. Bên cạnh 
đó các tác nhân như liên cầu, E.coli,... cũng gây 
những ảnh hưởng đến mẹ và thai nhi như viêm 
màng ối, nhiễm trùng thai nhi thì lại không gây 
ra tình trạng viêm âm đạo đặc thù do đó việc xác 
định nguyên nhân chỉ dựa vào nuôi cấy. Điều này 
cho thấy việc tầm soát sàng lọc viêm đường sinh 
dục thấp ở phụ nữ nói chung và phụ nữ mang thai 
nói riêng rất quan trọng, nhất là những tháng cuối 
thai kỳ để có thái độ điều trị kịp thời nhằm giảm 
những tác hại đáng tiếc có thể xảy ra.
Phân tích các yếu tố liên quan nghiên cứu của 
chúng tôi bàn về hai khía cạnh đó là đặc điểm 
chung của sản phụ và kiến thức vệ sinh cá nhân 
liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục thấp.
Về đặc điểm chung theo nghiên cứu của Lê Lam 
Hương[2], Phạm Thu Xanh[7], Lê Minh Tâm[5] cho 
thấy có sự liên quan giữa tình trạng viêm nhiễm 
sinh dục thấp với tuổi mẹ, môi trường sống, nghề 
nghiệp, tiền sử viêm nhiễm cũng như tiền sử nạo 
hút thai. Trong nghiên cứu của chúng tôi thu được 
tỷ lệ viêm nhiễm cao hơn ở những nhóm đối tượng 
sau: tuổi mẹ dưới 29 so với nhóm trên 29 (51,4% vs 
15,4%); nông thôn, miền núi với thành thị (57,1% 
vs 29,6%); lao động chân tay với trí thức ( 48,1% 
vs 33,3%); có tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục 
(50% vs 40,9%); có bạch cầu niệu( 60% vs 21,7%); 
có tiền sử nạo hút thai ( 50% vs 40,5%).
Đặc điểm kiến thức vệ sinh của sản phụ tỷ lệ 
viêm nhiễm gặp nhiều ở nhóm vệ sinh 1 lần/ ngày 
LÊ THỊ LY LY, LÊ MINH TÂM
48
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
( 54,8% vs 17,6%); có một người thụt rửa bên trong 
âm đạo (100% vs 40,4%),không vệ sinh sau giao 
hợp ( 62,5% vs 31,3%); không dùng dung dịch rửa 
(57,1% vs 39%). Mặc dù so với một số nghiên cứu 
khác thì nghiên cứu của chúng tôi cũng có những 
điểm tương đồng, tuy nhiên do cỡ mẫu nghiên cứu 
của chúng tôi còn nhỏ (48 trường hợp) gây khó 
khăn cho việc tính toán thống kê, vì vậy khó đánh 
giá được chính xác các yếu tố liên quan. Vì vậy cần 
có những nghiên cứu ở cỡ mẫu lớn hơn trong độ 
tuổi thai này để đánh giá tất cả những đặc điểm 
bệnh và các yếu tố liên quan để kiểm soát tốt hơn 
trong việc tư vấn, dự phòng và điều trị. Nếu làm tốt 
được các khâu này sẽ giảm thiểu được những nguy 
cơ cho sản phụ và thai nhi
5. Kết luận
Viêm nhiễm sinh dục thấp chiếm tỷ lệ cao ở 
sản phụ mang thai trên 35 tuần tuổi thai. Triệu 
chứng lâm sàng thường gặp nhất là ngứa rát âm 
hộ, nhóm không triệu chứng cũng chiếm tỷ lệ cao 
nhất. Các nguyên nhân thường gặp theo thứ tự là 
nấm Candida Albicans, tụ cầu, liên cầu, gồm các 
tác nhân đơn thuần và phối hợp.
Cần có cỡ mẫu lớn hơn để xác định các yếu tố 
liên quan.
Tài liệu tham khảo
1. Lê Hoài Chương (2013), ”Khảo sát những nguyên nhân gây 
viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ đến khám phụ khoa 
tại bệnh viện phụ sản Trung ương”, Tạp chí Y học thực hành, số 
5(868), trang 66-69.
2. Lê Lam Hương (2003), “Tìm hiểu tình hình viêm nhiễm đường sinh 
dục dưới ở phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Trường Đại học Y khoa 
Huế và Bệnh viện Trung ương Huế”, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường 
Đại học Y khoa Huế.
3. Thạch Thùy Linh (2013), “Nghiên cứu nhiễm khuẩn đường sinh 
dục dưới ở phụ nữ có thai ba tháng đầu tại Bệnh viện phụ sản Trung 
ương”, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa, Trường Đại học Y Hà Nội.
4. Phạm Bá Nha (2006), “Nghiên cứu ảnh hưởng của viêm nhiễm 
đường sinh dục dưới đến đẻ non và phương pháp xử trí”, Luận án tiến 
sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
5. Lê Minh Tâm, Trần Minh Thắng, Nguyễn Minh Chánh (2014), 
“Nghiên cứu tình trạng nhiễm trùng sinh dục thấp trong dọa sinh non”, 
Tạp chí phụ sản, số 1, trang 68-71. 
6. Nguyễn Thị Minh Thanh (2013), ”Nghiên cứu thực trạng nhiễm khuẩn 
đường sinh dục dưới ở lứa tuổi thanh niên tới phá thai tại bệnh viện 
phụ sản Hà Nội”, luận văn Thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y hà Nội.
7. Phạm Thu Xanh (2014), “Thực trạng nhiễm khuẩn đường sinh dục 
dưới ở phụ nữ có chồng trong độ tuổi 18-49 tại khu vực biển, đảo 
thành phố Hải Phòng và hiệu quả một số giải pháp can thiệp”, Luận 
án tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Dược Thái Bình
8. Abhilasha Gupta, Priyanka Garg, Shipra Nigam (2013), “Bacterial 
Vaginosis in Pregnancy (<28 weeks) and its Effect on Pregnancy 
Outcome: A study from a Western UP City”, Indian Journal of Clinical 
practice, 23(11), pp 740-744.
9. McGregor, J.A. and J.I. French (1997),” Pathogenesis to 
treatment: preventing preterm birth mediated by infection”. Infect Dis 
Obstet Gynecol 5(2): 106-114.
10. Olugbenga Adekunle Olowe, Olufunmilola Bamidele Makanjuola, 
Rita Olowe and Daniel A. Adekanle (2014), “Prevalence of vulvovaginal 
candidiasis, trichomoniasis and bacterial vaginosis among pregnant 
women receiving antenatal care in Southwestern Nigeria”, European 
Journal of Microbiology and Immunology, 4, pp 193-197.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tinh_trang_viem_nhiem_sinh_duc_thap_o_thai_phu_tr.pdf