Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của các chủng trực khuẩn gram âm gây bệnh thường gặp phân lập được tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ các chủng trực khuẩn Gram âm gây bệnh thường gặp tại Bệnh Viện đa khoa vùng Tây Nguyên và xác định tỷ lệ đề kháng kháng sinh của chủng trực khuẩn Gram âm thường gặp phân lập được. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 252 mẫu nghiệm là các chủng trực khuẩn Gram âm thường gặp từ tháng 10/2018 đến 3/2019. Kết quả: Tổng số mẫu phân lập được là 252 mẫu, trong đó Klebsiella chiếm tỷ lệ cao nhất (33,3%), tiếp đến là Escherichia coli (31,8%), Acinetobacter baumannii (23,4%) và Pseudomonas aeruginosa (11,5%). Klebsiella pneumoniae đề kháng >50% với tất cả các kháng sinh khảo sát, tỷ lệ sinh ESBL là 52%. Escherichia coli đề kháng từ 40-75% với nhiều loại kháng sinh nhưng nhạy cảm cao với amikacin và nhóm carbapenem, tỷ lệ sinh ESBL là 54%. Acinetobacter baumanii đề kháng trên 90% với hầu hết các kháng sinh khảo sát nhưng còn nhạy cảm 100% với colistin. Pseudomonas aeruginosa đề kháng 100% trimethoprim/sulfamethoxazole, trên 50% với các kháng sinh còn lại, nhạy cảm trên 80% với piperacilin/ tazobactam và nhạy cảm hoàn toàn với colistin

pdf 7 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của các chủng trực khuẩn gram âm gây bệnh thường gặp phân lập được tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của các chủng trực khuẩn gram âm gây bệnh thường gặp phân lập được tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên

Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của các chủng trực khuẩn gram âm gây bệnh thường gặp phân lập được tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn36
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ các chủng trực khuẩn Gram 
âm gây bệnh thường gặp tại Bệnh Viện đa khoa vùng 
Tây Nguyên và xác định tỷ lệ đề kháng kháng sinh của 
chủng trực khuẩn Gram âm thường gặp phân lập được. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu 
mô tả cắt ngang trên 252 mẫu nghiệm là các chủng trực 
khuẩn Gram âm thường gặp từ tháng 10/2018 đến 3/2019. 
Kết quả: Tổng số mẫu phân lập được là 252 mẫu, trong 
đó Klebsiella chiếm tỷ lệ cao nhất (33,3%), tiếp đến là 
Escherichia coli (31,8%), Acinetobacter baumannii 
(23,4%) và Pseudomonas aeruginosa (11,5%). Klebsiella 
pneumoniae đề kháng >50% với tất cả các kháng sinh 
khảo sát, tỷ lệ sinh ESBL là 52%. Escherichia coli đề 
kháng từ 40-75% với nhiều loại kháng sinh nhưng nhạy 
cảm cao với amikacin và nhóm carbapenem, tỷ lệ sinh 
ESBL là 54%. Acinetobacter baumanii đề kháng trên 90% 
với hầu hết các kháng sinh khảo sát nhưng còn nhạy cảm 
100% với colistin. Pseudomonas aeruginosa đề kháng 
100% trimethoprim/sulfamethoxazole, trên 50% với các 
kháng sinh còn lại, nhạy cảm trên 80% với piperacilin/
tazobactam và nhạy cảm hoàn toàn với colistin. Kết 
luận: Trong các chủng vi khuẩn Gram âm thường gặp, 
Acinetobacter baumanii có mức độ đề kháng kháng sinh 
cao nhất, trên 90% với hầu hết các kháng sinh khảo sát 
nhưng còn nhạy cảm 100% với colistin.
Từ khóa: Gram âm, kháng kháng sinh.
ABSTRACT:
STUDY ON ANTIBIOTIC RESISTANCE OF 
COMMON PATHOGENIC GRAM NEGATIVE 
BACTERIA AT TAY NGUYEN REGIONAL 
GENERAL HOSPITAL
Objective: To determine prevalence of common 
pathogenic Gram-negative bacteria in Tay Nguyen 
regional General Hopital and antibiotic resistance of 
isolated strains. Materials and method: Descriptive 
cross sectional study was conducted on 252 common 
pathogenic Gram-negative strains that are identified 
and detected antibiotic resistance from October 2018 
to March 2019. Results: In 252 isolated strains, the 
most common bacteria was Klebsiella pneumoniae 
(33,3%), the next ones were Escherichia coli (31,8%), 
Acinetobacter baumannii (23,4%) and Pseudomonas 
aeruginosa (11,5%). Klebsiella pneumoniae was resistant 
more than 50% to all examined antibiotics with ESBL 
producing rate was 52% . Escherichia coli was resistant 
from 40-75% to many antibiotics but highly susceptible 
to amikacin and carbapenem, with ESBL producing rate 
was 54%. Acinetorbacter baumannii was resistant more 
than 90% to all examined antibiotics but susceptible 
completely to colistin. Pseudomonas aeruginosa was 
resistant 100% to trimethoprim/sulfamethoxazole, more 
than 50% to remaining antibiotics, susceptible more than 
80% to piperacilin/tazobactam and colistin. Conclusion: 
Acinetobacter baumanii was the most resistant bacteria 
out of four examined bacteria.
Keywords: Gram negative, antibiotic resistance. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đầu năm 2017 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa 
ra danh sách 12 vi khuẩn kháng thuốc đáng báo động 
trong đó có 3 vi khuẩn có mức cảnh báo cao nhất: 
Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumannii và 
họ Enterobacteriaceae kháng carbapenem [11]. Sự xuất 
hiện của các chủng vi khuẩn đa kháng cùng với sự khan 
Ngày nhận bài: 03/01/2020 Ngày phản biện: 10/01/2020 Ngày duyệt đăng: 01/02/2020
NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC CHỦNG 
TRỰC KHUẨN GRAM ÂM GÂY BỆNH THƯỜNG GẶP PHÂN LẬP 
ĐƯỢC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN
Hoàng Thị Minh Hòa1, Nguyễn Thị Xuyên2, Nguyễn Huy Hoàng1,
Nguyễn Thị Đoan Trinh1, Lê Nguyễn Nguyên Hạ1
1. Đại học Kỹ thuật Y-Dược Đà Nẵng 
2. Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 37
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
hiếm các dòng kháng sinh mới dẫn đến việc điều trị các 
bệnh lý nhiễm khuẩn ngày càng khó khăn hơn, làm ảnh 
hưởng đến sức khoẻ người bệnh. Tại Việt Nam, đề kháng 
kháng sinh vẫn là vấn đề nổi trội khi ngày càng xuất hiện 
nhiều tác nhân gây nhiễm khuẩn có khả năng đề kháng với 
nhiều loại kháng sinh. Đó là các chủng Enterobacteriaceae 
sinh ESBL, sinh carbapenemase, các chủng Pseudomonas 
aeruginosa và Acinetobacter sp đa kháng [9]. Bệnh viện 
Đa khoa vùng Tây Nguyên là một bệnh viện lớn với nhiều 
chuyên khoa và thường xuyên phân lập được các chủng vi 
khuẩn kháng thuốc ở người bệnh, đặc biệt là vi khuẩn Gram 
âm, ngoài ra, tính đề kháng kháng sinh cũng thay đổi theo 
từng năm. Nhằm tăng hiệu quả của việc sử dụng kháng sinh 
tại bệnh viện, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tính 
đề kháng kháng sinh của các chủng trực khuẩn Gram âm 
gây bệnh thường gặp phân lập được tại Bệnh viện Đa khoa 
Vùng Tây Nguyên” với các mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ các chủng trực khuẩn Gram âm gây 
bệnh thường gặp phân lập được tại Bệnh viện đa khoa 
Vùng Tây Nguyên.
2. Xác định mức độ đề kháng kháng sinh của chủng 
trực khuẩn Gram âm thường gặp phân lập được.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các chủng trực khuẩn Gram âm gây bệnh thường gặp 
phân lập đuợc tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên: 
Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Acinetobacter 
baumannii, Pseudomonas aeruginosa.
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Vi khuẩn thuần chủng không nhiễm vi khuẩn khác.
+ Có kết quả kháng sinh đồ hợp lệ được áp dụng để 
điều trị trong lâm sàng.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm: Khoa xét nghiệm Bệnh viện đa khoa vùng 
Tây Nguyên.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu:
Thời gian: Từ 10/2018 đến 3/2019. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt 
ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu:
- Cỡ mẫu: Tất cả các chủng trực khuẩn Klebsiella 
pneumoniae, Escherichia coli, Acinetobacter baumannii, 
Pseudomonas aeruginosa phân lập được trong khoảng 
thời gian 10/2018 đến 3/2019.
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ.
2.3. Kỹ thuật nghiên cứu
- Nuôi cấy theo qui trình nuôi cấy và định danh vi 
khuẩn của Bộ Y tế 03/01/2014.
- Làm kháng sinh đồ bằng phương pháp khuếch tán 
đĩa kháng sinh trên thạch (Phương pháp Kirby Bauer) và 
đo đường kính dựa vào tiêu chuẩn CLSI 2018.
- Kỹ thuật phát hiện vi khuẩn sinh ESBL: Dùng 
phương pháp đĩa kết hợp với 2 cặp đĩa giấy kháng sinh là 
ceftazidime 30μg - ceftazidime/acid clavulanic 30/10μg 
và cefotaxime 30μg - cefotaxime/acid clavulanic 30/10μg. 
2.4. Xử lý số liệu: Số liệu được nhập và xử lý trên 
phần mềm WHONET5.6 và phương pháp thống kê y học.
2.5. Đạo đức nghiên cứu:
Các số liệu và thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục 
đích nghiên cứu, không vì mục đích nào khác.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tỷ lệ các chủng trực khuẩn Gram âm gây 
bệnh thường gặp 
Trong tổng số 252 chủng vi khuẩn Gram âm nghiên 
cứu thì Klebsiella pneumoniae chiếm tỷ lệ cao nhất với 
33,3%; kế đến là Escherichia coli (31,8%), Acinetobacter 
baumannii (23,4%) và Pseudomonas aeruginosa (11,5%).
3.2. Mức độ đề kháng kháng sinh của chủng trực 
khuẩn Gram âm phân lập được
3.2.1. Đề kháng kháng sinh của Klebsiella 
pneumoniae
Biểu đồ 1: Tỷ lệ sinh ESBL của Klebsiella pneumoniae
- Tỷ lệ sinh ESBL của các chủng K. pneumoniae là 52%.
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn38
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
Biểu đồ 2: Đề kháng kháng sinh của Klebsiella pneumoniae
Biểu đồ 3: Tỷ lệ sinh ESBL của Escherichia coli
Biểu đồ 4: Đề kháng kháng sinh của Escherichia coli
- K. pneumoniae có tỉ lệ đề kháng cao trên 80% với 
ceftazidime, cefotaxim, amoxicillin/clavulanate.
- K. pneumoniae kháng trên 60% với ceftriaxone, 
tobramycin, gentamycin, cefepime, ciprofloxacin, 
levofloxacin và kháng trên 50% với nhóm carbapenem, 
piperacillin/tazobactam, amikacin và trimethoprim/
sulfamethoxazole. 
3.2.2. Đề kháng kháng sinh của Escherichia coli
- Tỷ lệ sinh ESBL của các chủng E. coli là 54%.
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 39
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
- Acinetobacter baumannii đề kháng 100% với 
ceftriaxone và trên 90% với nhóm carbapenem, nhóm 
quinolones, cefepime, ceftazidime, piperacilin/tazobactam, 
nhóm aminoglycosides và ampicillin/sulbactam.
- Acinetobacter baumannii còn nhạy cảm hoàn toàn 
với colistin.
3.2.4. Đề kháng kháng sinh của Pseudomonas 
aeruginosa
- P. aeruginosa đề kháng 100% với trimethoprim/
sulfamethoxazole và trên 70% với imipenem, doripenem, 
meropenem, gentamicin, ciprofloxacin và levofloxacin.
- P. aeruginosa vẫn còn nhạy cảm trên 80% với 
piperacilin/tazobactam và nhạy cảm hoàn toàn với colistin.
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Tỷ lệ các chủng trực khuẩn Gram âm gây 
bệnh thường gặp
Trong số 252 chủng vi khuẩn phân lập được thì 
Klebsiella pneumoniae chiếm tỷ lệ cao nhất (33,3%), 
- E. coli đề kháng trên 70% với trimethoprim/
sulfamethosazole và trên 50% với cefotaxim, ciprofloxacin, 
levofloxacin.
- E. coli đề kháng từ 12 - 49% với gentamycin, 
tobramycin, augmentin, ceftriaxone, cefepime, ceftazidim 
và piperacillin/tazobactam.
- Các chủng E. coli phân lập được còn nhạy cảm cao 
với ertapenem, amikacin, meropenem và imipenem. 
3.2.3. Đề kháng kháng sinh của Acinetobacter 
baumannii
Biểu đồ 5: Đề kháng kháng sinh của Acinetobacter baumannii
Biểu đồ 6: Đề kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn40
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
tiếp đến là Escherichia coli (31,8%), Acinetobacter 
baumannii (23,4%) và Pseudomonas aeruginosa (11,5%). 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt so với 
nghiên cứu của tác giả Dương Hoàng Phúc cho thấy các 
loài vi khuẩn Gram âm gây bệnh thường gặp nhất là E. 
coli (33,03%), Enterococcus sp (17,72%) và Klebsiella 
peumoniae (6,3%) [7]. Ngoài ra theo tác giả Trần Thủy 
Trinh thì vi khuẩn thường gặp nhất là E. coli (21,2%), 
kế đến là Klebsiella sp (13,9%), P. aeruginosa (8,8%) và 
Acinetobacter sp (5,5%) [8]. Có sự khác biệt về tỷ lệ các 
chủng vi khuẩn Gram âm thường gặp có thể là do tính đặc 
trưng của mỗi bệnh viện.
4.2. Mức độ đề kháng kháng sinh của chủng trực 
khuẩn Gram âm phân lập được
4.2.1. Đề kháng kháng sinh của Klebsiella 
pneumoniae
K. pneumoniae có tỷ lệ đề kháng trên 49% với các 
loại kháng sinh khảo sát, từ 70-90% với các kháng sinh 
như ceftazidime (89%), cefotaxime (83%), amoxicillin/
clavulanic acid (87%), ceftriaxone (79%), tobramycin 
(78%), gentamycin (78%), cefepime (73%) và ciprofloxacin 
(70%). Nghiên cứu tại Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương 
cho thấy tỷ lệ kháng thuốc của K. pneumoniae thấp hơn so 
với nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ kháng từ 23-56% với 
các loại kháng sinh ceftazidime, augmentin, ceftriaxone, 
cefepime, imipenem và ertapenem [10]. Theo nghiên cứu 
của Phạm Thị Hoài An (2014) tại Viện Pasteur thành phố 
Hồ Chí Minh thì tỷ lệ K. pneumoniae kháng nhóm kháng 
sinh carbapenem trong nghiên cứu của chúng tôi cũng cao 
hơn nhiều (52% so với 2,86%) [1]. Theo nghiên cứu của 
tác giả Dương Hoàng Phúc tại Bệnh viện Đại học Y dược 
thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2010 thì K. pneumoniae 
đề kháng 100% với kháng sinh monopenicillin, đề 
kháng tương đối thấp (<23,1%) với kháng sinh nhóm 
aminoglycoside, cephalosporin thế hệ 1, trimethoprim/
sulfamethoxazole và levofloxacin, kháng thấp (<10%) 
với kháng sinh cephalosporin thế hệ 3. Đặc biệt, trong 
nghiên cứu này chưa phát hiện các chủng kháng với nhóm 
carbapenem và cephalosprin thế hệ 4 cũng như amikacin 
[7]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự gia tăng 
đề kháng kháng sinh của các chủng K. pneumoniae rất 
đáng lo ngại, vì vậy việc sử dụng kháng sinh khi điều trị 
phải rất cân nhắc, cũng như cần gia tăng quản lí và cách 
ly bệnh nhân tốt. 
Tỷ lệ sinh ESBL của K. pneumoniae tại Bệnh viện 
Đa khoa vùng Tây Nguyên là 52%, cao hơn so với Bệnh 
viện Cấp cứu Trưng Vương (30%) nhưng thấp hơn so với 
Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh (65,7%). Việc lạm 
dụng các kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin thế hệ thứ 
3 là một trong những lí do dẫn đến việc ngày càng xuất 
hiện nhiều chủng K. pneumoniae có khả năng sinh beta 
lactamase phổ rộng. 
4.2.2. Đề kháng kháng sinh của Echerichia coli
E. coli có tỷ lệ kháng thuốc cao với trimethoprim/
sunfamethoxazole (75%), đề kháng từ 35-55% với 
kháng sinh cefotaxim (55%), ciprofloxacin (50%), 
levofloxacin (50%), gentamycin (40%), tobramicin (42%) 
augmentin(46%) và cefepime (35%). Mức độ kháng thuốc 
của các chủng E. coli trong nghiên cứu của chúng tôi 
thấp hơn so với kết quả của tác giả Vũ Ngọc Hiếu (2017) 
tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy tỷ lệ đề kháng với các 
kháng sinh khảo sát là từ 46,3 – 88,2%; đặc biệt tỷ lệ 
kháng imipenem và ertapenem lần lượt là 3,2% và 8,5% 
cao hơn so với tỷ lệ 2% trong nghiên cứu của chúng tôi. 
Điều này có thể giải thích là do tỷ lệ E. coli sinh ESBL 
trong nghiên cứu của chúng tôi (54%) thấp hơn so với 
nghiên cứu của tác giả Vũ Ngọc Hiếu (56,6%) [3]. Sự 
khác biệt trong mức độ kháng thuốc của E. coli giữa hai 
nghiên cứu có thể được giải thích là do sự khác biệt trong 
nhóm đối tượng nghiên cứu: tác giả Vũ Ngọc Hiếu nghiên 
cứu trên các chủng vi khuẩn phân lập được từ bệnh nhân 
đái tháo đường - có nguy cơ mắc phải các vi khuẩn đa 
kháng do thời gian nằm viện kéo dài, còn chúng tôi nghiên 
cứu trên các chủng vi khuẩn Gram âm thường gặp phân 
lập được từ tất cả bệnh nhân nằm viện trong thời gian 
khảo sát.
4.2.3. Đề kháng kháng sinh của Acinetobacter 
baumannii
Tỷ lệ kháng kháng sinh của chủng A. baumannii 
là rất cao, trên 90% với hầu hết các kháng sinh kể cả 
nhóm carbapnemen nhưng còn nhạy cảm hoàn toàn với 
colistin. Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hồng 
Nhung (2018), tỷ lệ đề kháng kháng sinh của các chủng 
A. baumannii ở khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Bạch 
Mai thì A. baumannii chỉ còn nhạy cảm dưới 10% đối với 
nhiều kháng sinh, kể cả các kháng sinh carbapenem hay 
aminoglycoside [6], kết quả này tương đồng với nghiên 
cứu của chúng tôi. A. baumannii là chủng vi khuẩn đa 
kháng lưu hành chủ yếu ở khoa hồi sức và cũng là tác 
nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt so 
với tác giả Cao Minh Nga (2008), cho thấy tỷ lệ kháng 
kháng sinh của các chủng A. baumannii là từ 17-34% 
trong đó tỷ lệ kháng imipenem chỉ mới 17% [4]. Sự khác 
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 41
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
biệt này cho thấy hiện trạng đáng lo ngại và nguy cơ xuất 
hiện các chủng Acinetobacter đề kháng với tất cả kháng 
sinh là rất cao. Nguyên nhân sai lệch về mức độ đề kháng 
kháng sinh của Acinetobacter giữa kết quả nghiên cứu có 
thể là do khoảng cách thời gian, đặc tính bệnh nhân và địa 
điểm thu mẫu nghiên cứu. Ngoài ra, theo nghiên cứu của 
tác giả Cao Minh Nga trong 2 năm (2006 và 2007) [4] thì 
các chủng Acinetobacter phân lập được từ đàm có tỉ lệ 
kháng kháng sinh của năm sau cao hơn so với năm trước. 
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kháng sinh duy nhất 
mà A. baumannii còn nhạy cảm hoàn toàn là colistin, do 
đó cần thận trọng trong sử dụng colistin để điều trị nhiễm 
khuẩn nhằm góp phần hạn chế khả năng xuất hiện các 
chủng A.baumannii toàn kháng trong tương lai.
4.2.4. Đề kháng kháng sinh của Pseudomonas 
aeruginosa
Tỷ lệ kháng kháng sinh của P. aeruginosa là khá 
cao, đề kháng 100% với trimethoprim/sulfamethoxazole, 
kháng trên 70% với nhóm cabarpenem và nhạy cảm hoàn 
toàn với colistin. Mức độ kháng thuốc của P. aeruginosa 
trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với kết quả 
nghiên cứu của Phạm Hùng Vân, cho thấy tỷ lệ đề kháng 
meropenem và imipenem lần lượt là 15,4% và 20,7% 
[9]; nghiên cứu của Trần Thanh Nga (2013) với tỷ lệ 
kháng imipenem của P. aeruginosa là 38% [5]. Kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự gia tăng về tỷ 
lệ kháng kháng sinh imipenem, đây là điều đáng lưu ý 
vì imipenem và các kháng sinh nhóm cabarpenem là 
vũ khí hữu hiệu nhất để điều trị các nhiễm trùng do P. 
aeruginosa gây nên. Điều này cần phải được nghiên cứu 
sâu hơn vì nguy cơ lan truyền tính kháng thuốc sẽ rất 
cao nếu cơ chế của sự đề kháng là do vi khuẩn tiết được 
enzym carbapenemase vì gen đề kháng có thể nằm trên 
plasmid và có thể lan truyền được. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, các chủng P. aeruginosa được phân lập 
chủ yếu ở khoa hồi sức tích cực (20/29 chủng), điều này 
là phù hợp với kết quả về mức độ kháng thuốc của P. 
aeruginosa. Việc điều trị tác nhân này được khuyến cáo 
là không dùng kháng sinh đơn độc mà phải dùng kháng 
sinh phối hợp để tăng tác dụng diệt khuẩn và hạn chế 
kháng kháng sinh cũng như giảm tính độc của các kháng 
sinh nhóm carbapenem, aminoglycoside và đặc biệt là 
colistin [2].
V. KẾT LUẬN 
- Trong số 252 chủng vi khuẩn Gram âm nghiên cứu 
thì Klebsiella pneumoniae có tỷ lệ cao nhất (33,3%), kế 
đến là Escherichia coli (31,8%), Acinetobacter baumannii 
(23,4%) và Pseudomonas aeruginosa (11,5%).
- Các chủng Klebsiella pneumoniae đề kháng trên 
50% với tất cả các kháng sinh khảo sát, tỷ lệ sinh ESBL 
là 52%.
- Các chủng Escherichia coli đề kháng 40-75% với 
nhiều loại kháng sinh nhưng nhạy cảm cao với amikacin 
và nhóm carbapenem, tỷ lệ sinh ESBL là 54%. 
- Acinetobacter baumanii đề kháng trên 90% với hầu 
hết các kháng sinh khảo sát nhưng còn nhạy cảm 100% 
với colistin. 
- Pseudomonas aeruginosa đề kháng 100% với 
trimethoprim/sulfamethoxazole, trên 50% với các 
kháng sinh còn lại; nhạy cảm trên 80% với piperacilin/
tazobactam và nhạy cảm hoàn toàn với colistin.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Thị Hoài An, Vũ Lê Ngọc Lan và cộng sự (2014), “Khảo sát sự kháng kháng sinh của Klebsiella 
pneumoniae trên bệnh phẩm phân lập được tại Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP Hồ Chí 
Minh, 61, 146 – 153.
2. Bộ môn Vi sinh (2014), Vi khuẩn Y học, Khoa Y, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Y học. 
3. Vũ Ngọc Hiếu, Phạm Hồng Nhung, “Mức độ kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp gây nhiễm trùng 
da và mô mềm ở bệnh nhân đái tháo đường phân lập tại Bệnh viện Bạch Mai”, Tạp chí Nghiên cứu Y học, 109(4), 1-8.
4. Cao Minh Nga (2008), “Sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Thống Nhất trong năm 
2006”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 12, 194-200.
5. Trần Thanh Nga (2013), “Tác nhân gây viêm phổi và khuynh hướng đề kháng kháng sinh 2010 – 2012 tại Bệnh 
viện Chợ Rẫy”, Hội nghị đề kháng kháng sinh trong viêm phổi cộng đồng và viêm phổi bệnh viện.
6. Phạm Thị Hồng Nhung, Nguyễn Thị Tuyến và cộng sự (2018), “Tình hình đề kháng kháng sinh của Klebsiella 
pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa và Acinetobacter baumannii phân lập tại khoa Hồi sức tích cực và Trung tâm 
Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2012-2016”, Y học Lâm sàng, 43-51.
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn42
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
7. Dương Hoàng Phúc, Hoàng Tiến Mỹ (2010), “Sự đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được 
tại Bệnh viện Y Dược thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, 14(1), 481 – 486.
8. Trần Thị Thuỷ Trinh, Nguyễn Thanh Bảo (2014), “Tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh được 
phân lập tại Bệnh viện An Bình từ 01/10/2012 đến 31/5/2013”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 18(1), 297-303.
9. Phạm Hùng Vân, MIDAS và nhóm nghiên cứu (2010), “Nghiên cứu đa trung tâm về tình hình đề kháng 
imipenem và meropenem của trực khuẩn Gram âm dễ mọc kết quả trên 16 bệnh viện tại Việt Nam”, Tạp chí Y học TP 
Hồ Chí Minh, 14(2), 279-286.
10. Chu Thị Hải Yến, Phạm Thị Huỳnh Giao và cộng sự (2014), “Khảo sát tỉ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn 
phân lập được tại Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 18(5), 75-82.
11. World Health Organization (2017), “WHO publishes list of bacteria for which new antibiotccs are urgently 
needed”, Retrieved 20/8/2017, from 
needed/en/

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tinh_khang_khang_sinh_cua_cac_chung_truc_khuan_gr.pdf