Nghiên cứu tình hình trẻ sơ sinh thừa cân tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ liên quan đến trẻ sơ

sinh thừa cân.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có

phân tích. Đối tượng nghiên cứu gồm 351 trường hợp đơn thai, tuổi thai

từ 37 tuần trở lên. Đến theo dõi chuyển dạ tại khoa Phụ sản, bệnh viện

Trung ương Huế có trọng lượng trẻ sơ sinh sau sinh ≥ 4000gram. Thời

gian nghiên cứu từ 6/2016 đến 5/2017.

Kết quả nghiên cứu: Trẻ sơ sinh có trọng lượng ≥ 4000 gram chiếm tỷ

lệ 5,7%. Một số yếu tố trong nhóm trẻ sơ sinh thừa cân gồm: tuổi mẹ từ

31-40 chiếm 30,2%, nghề nghiệp là nội trợ chiếm 40,7%, các sản phụ

ở thành phố chiếm 60,7%, trình độ phổ thông trung học chiếm 39,9%,

chiều cao sản phụ từ 151-160cm chiếm 53,6%, các sản phụ có cân

nặng khi sinh từ 61-70 kg chiếm 58,7% và mang thai từ 3 lần trở lên có

tỷ lệ 40,1%. Tăng cân thai kỳ >20 kg chiếm tỷ lệ 34,2%, tiền sử sinh

con to chiếm 53,6%, số trẻ sơ sinh nam chiếm 69,4%, tỷ lệ mổ lấy thai

chiếm 89,7% và bệnh lý đái tháo đường kèm theo chiếm 2,6%.

Kết luận: Trẻ sơ sinh thừa cân chiếm tỷ lệ khá cao và trẻ thừa cân có

nhiều yếu tố nguy cơ bất lợi cho cả mẹ và trẻ sơ sinh

pdf 5 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tình hình trẻ sơ sinh thừa cân tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tình hình trẻ sơ sinh thừa cân tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế

Nghiên cứu tình hình trẻ sơ sinh thừa cân tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế
TRẦN THỊ HOÀN, HOÀNG LIÊN CHÂU, HOÀNG THỊ BÍCH NGỌC, NGUYỄN THỊ HẬU, NGUYỄN THỊ DIỆP LÊ
114
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Trần Thị Hoàn, Hoàng Liên Châu, Hoàng Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Hậu, Nguyễn Thị Diệp Lê 
Bệnh viện Trung ương Huế
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH TRẺ SƠ SINH THỪA CÂN
TẠI KHOA PHỤ SẢN BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trần Thị Hoàn, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Từ khóa: Sơ sinh thừa cân, thai 
to, macrosomia.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ liên quan đến trẻ sơ 
sinh thừa cân.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có 
phân tích. Đối tượng nghiên cứu gồm 351 trường hợp đơn thai, tuổi thai 
từ 37 tuần trở lên. Đến theo dõi chuyển dạ tại khoa Phụ sản, bệnh viện 
Trung ương Huế có trọng lượng trẻ sơ sinh sau sinh ≥ 4000gram. Thời 
gian nghiên cứu từ 6/2016 đến 5/2017.
Kết quả nghiên cứu: Trẻ sơ sinh có trọng lượng ≥ 4000 gram chiếm tỷ 
lệ 5,7%. Một số yếu tố trong nhóm trẻ sơ sinh thừa cân gồm: tuổi mẹ từ 
31-40 chiếm 30,2%, nghề nghiệp là nội trợ chiếm 40,7%, các sản phụ 
ở thành phố chiếm 60,7%, trình độ phổ thông trung học chiếm 39,9%, 
chiều cao sản phụ từ 151-160cm chiếm 53,6%, các sản phụ có cân 
nặng khi sinh từ 61-70 kg chiếm 58,7% và mang thai từ 3 lần trở lên có 
tỷ lệ 40,1%. Tăng cân thai kỳ >20 kg chiếm tỷ lệ 34,2%, tiền sử sinh 
con to chiếm 53,6%, số trẻ sơ sinh nam chiếm 69,4%, tỷ lệ mổ lấy thai 
chiếm 89,7% và bệnh lý đái tháo đường kèm theo chiếm 2,6%.
Kết luận: Trẻ sơ sinh thừa cân chiếm tỷ lệ khá cao và trẻ thừa cân có 
nhiều yếu tố nguy cơ bất lợi cho cả mẹ và trẻ sơ sinh.
Từ khoá: Sơ sinh thừa cân, thai to, macrosomia.
Abstract 
FETAL MACROSOMIA AT HUE CENTRAL HOSPITAL 
Objective: To estimate the rate and factors related to fetal macrosomia.
Materials and Methods: A cross-sectional descriptive study on 351 
singletons pregnant more than 37 weeks gestational intrapartum care, 
delivered or Cesarean section, at Hue Central Hospital, from June 2016 
to May 2017. Fetal macrosomia was defined in fetal has birth weight 
greater than 4000 grams.
Result: The rate of fetal macrosomia were 5.7%. Some finding factors 
in fetal macrosomia group: There were 30.2% maternal age from 31-
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 114 - 118, 2017
115
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
40 years old, 40,7% were housework, 60.7% living at town, 39.9% have education at high school 
level, maternal height from 151-160cm were 53.6%, weight at delivery from 61-70kgs were 58.7%. 
Weight gain during pregnancy more than 20kg were 34.2% and the woman with previous macrosomia 
pregnancy were 53.6%. The rate of cesarean section in fetal macrosomia group were 89.8%.
Conclusion: The rate of fetal macrosomia increased and there are a lot of risk factors for both 
mother and fetus.
1. Đặt vấn đề
Cân nặng của trẻ khi sinh thể hiện sự phát triển 
của thai nhi trong thai kỳ. Trước đây, ở nước ta, 
phần lớn trẻ sơ sinh có trọng lượng khi sinh thường 
không cao, thậm chí là thấp so với tuổi thai. Trong 
những năm gần đây, tình hình kinh tế ngày càng 
được nâng cao cũng như số con ở mỗi gia đình 
xu hướng ít lại, dẫn đến cân nặng của trẻ sơ sinh 
lúc sinh tăng dần. Từ đó kéo theo số trẻ sơ sinh có 
cân nặng cao so với mức trung bình ngày càng 
nhiều. Trọng lượng trung bình của trẻ sơ sinh Việt 
Nam khoảng 3000 ± 200 gram. Thai to là thai có 
trọng lượng trên 4000 gram (ở Châu Âu), hay trên 
3500 gram (ở Việt nam) [1]. Trẻ sơ sinh thừa cân 
có nhiều yếu tố nguy cơ cho cả mẹ và thai/trẻ sơ 
sinh như tăng tỷ lệ mổ lấy thai hay sinh thủ thuật, 
nguy cơ đờ tử cung, chấn thương sinh dục, sang 
chấn trong cuộc sinh, ngạt, hạ đường máu Tuy 
nhiên, vấn đề trẻ sơ sinh thừa cân chưa được quan 
tâm đúng mức, cũng như chưa có nhiều nghiên cứu 
về vấn đề này tại đơn vị chúng tôi, khoa Phụ sản, 
bệnh viện Trung ương Huế.
Xuất phát từ tình hình thực đó cũng như tầm 
quan trọng của vấn đề sơ sinh thừa cân, nhằm 
mục tiêu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho bà mẹ 
và trẻ sơ sinh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề 
tài: “Nghiên cứu tình hình trẻ sơ sinh thừa cân 
tại khoa Phụ sản, bệnh viện Trung ương Huế” với 
mục tiêu sau: 
1. Xác định tỷ lệ trẻ sơ sinh thừa cân.
2. Khảo sát một số yếu tố nguy cơ liên quan 
đến sơ sinh thừa cân tại khoa Phụ sản, Bệnh viện 
Trung ương Huế.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 351 trường hợp đơn thai, có tuổi thai từ 
37 tuần trở lên, đến sinh đường âm đạo/mổ lấy 
thai tại khoa Phụ sản, Bệnh viện Trung ương Huế, 
được chẩn đoán sơ sinh thừa cân trong thời gian từ 
tháng 6/2016 đến tháng 5/2017.
Tiêu chuẩn chọn trẻ sơ sinh thừa cân trong nghiên 
cứu khi trẻ có cân nặng sau sinh ≥ 4000 gram.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang có phân tích.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Tỷ lệ trẻ sơ sinh thừa cân
Trong thời gian từ tháng 6/2016 đến tháng 
5/2017 có 6117 trẻ sơ sinh đủ tháng, đơn thai, 
không có dị tật bẩm sinh đến theo dõi kết thúc thai 
kỳ tại khoa Phụ sản, bệnh viện Trung ương Huế.
Trẻ sơ sinh thừa cân (trọng lượng ≥ 4000 gram) 
chiếm tỷ lệ 5,7% (351/6117). Có 1814/6117 trẻ sơ 
sinh có trọng lượng ≥ 3700 gram, chiếm tỷ lệ 29,6%.
3.2. Các yếu tố liên quan đến trẻ thừa cân
3.2.1. Đặc điểm chung của mẫu sơ sinh thừa cân
Các sản phụ có độ tuổi từ 31- 40 tuổi chiếm 
tỷ lệ 30,2% (106/351) trong nhóm sơ sinh thừa 
cân và 42,3% (2439/5755) trong nhóm không 
Trọng lượng trẻ Số lượng Tỷ lệ (%)
Trẻ sơ sinh có trọng lượng ≥ 4000 gram 351 5,7
Trẻ sơ sinh có trọng lượng ≥ 3700 gram 1814 29,7
Trẻ có trọng lượng trung bình 4303 70,3
Bảng 1. Tỷ lệ trẻ sơ sinh thừa cân.
Số trẻ thừa cân được mổ lấy thai chiếm tỷ lệ rất 
cao 89,7%, trong khi tỷ lệ mổ lấy thai ở các trẻ có 
trọng lượng trung bình là 61,9%. 
Tỷ lệ chung ở cả hai nhóm là 63,5%.
Tỷ lệ trẻ nam trong nhóm sơ sinh thừa cân 
chiếm là 69,2% (243/351) và số trẻ nữ chiếm tỷ 
lệ 40,8% (108/351).
Trong 351 trẻ sơ sinh thừa cân có 68 trẻ, chiếm 
tỷ lệ 19,3%, có tình trạng hạ đường máu sau sinh.
TRẦN THỊ HOÀN, HOÀNG LIÊN CHÂU, HOÀNG THỊ BÍCH NGỌC, NGUYỄN THỊ HẬU, NGUYỄN THỊ DIỆP LÊ
116
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Các đặc điểm mẹ Sơ sinh thừa cân(n/%)
Sơ sinh có trọng 
lượng trung bình
(n/%)
Tuổi mẹ
<20 66 (18,8) 979 (17,0)
20-30 98 (27,9) 1256 (21,8)
31-40 106 (30,2) 2439 (42,3)
>40 81 (23,1) 1092 (18,9)
Nơi cư trú
Thành phố 213 (60,7) 3961 (68,7)
Nông thôn, miền núi 138 (39,3) 1805 (31,3)
Nghề nghiệp
Cán bộ - Công nhân viên 105 (29,9) 2098 (36,4)
Nội trợ 143 (40,7) 2516 (43,6)
Nông dân 36 (10,3) 389 (6,7)
Khác 67 (19,1) 763 (13,3)
Trình độ văn hóa
Tiểu học 50 (14,2) 673 (11,7)
Trung học cơ sở 95 (27,0) 1535 (26,6)
Trung học phổ thông 140 (39,9) 2750 (47,7)
Sau trung học phổ thông 66 (18,9) 808 (14,0)
Bảng 2. Đặc điểm chung của mẫu và tỷ lệ trẻ sơ sinh thừa cân.
có trẻ sơ sinh thừa cân. Tương tự, những sản phụ 
sống ở thành phố chiếm tỷ lệ 60,7% (231/351) và 
68,7% (3961/5766), nhóm sản phụ nội trợ chiếm 
tỷ lệ 40,7% (143/351) và 43,6% (2517/5766) 
và trình độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 39,9% 
(140/351) và 47,7% (2750/5766).
3.2.2. Tiền sử sản khoa
Trong nhóm sơ sinh thừa cân, các sản phụ sinh 
lần thứ 3 trở lên có tỷ lệ sinh con to chiếm tỷ lệ 
40,1% (141/351). Có 188/351 sản phụ đã từng 
có tiền sử sinh con to, chiếm tỷ lệ 53,6%.
3.2.3. Yếu tố nguy cơ của trẻ sơ sinh và thai kỳ
Các sản phụ có chiều cao từ 151-160 cm 
chiếm tỷ lệ 53,7% (188/351) trong nhóm có trẻ 
sơ sinh thừa cân, trong khi đó, nhóm sản phụ có 
trẻ sơ sinh trung bình là 46,8% (2697/5766). 
Cũng trong nhóm này, các thai phụ có trọng 
lượng từ 61-70kg chiếm tỷ lệ 58,7% (206/351), 
chỉ số khối cơ thể > 23 chiếm tỷ lệ 50,4% 
(177/351) và tăng cân trong thai kỳ từ >20 kg 
chiếm tỷ lệ 34,2% (120/351).
Có 9/351 sản phụ sinh con thừa cân có 
bệnh lý đái tháo đường khi mang thai, chiếm 
tỷ lệ 2,6%.
Các đặc điểm mẹ Sơ sinh thừa cân(n/%)
Sơ sinh có trọng 
lượng trung bình
(n/%)
Số lần mang thai
Lần thứ nhất 98 (28,0) 2107 (36,5) 
Lần thứ hai 112 (31,9) 2064 (35,8)
Lần thứ ba trở lên 141 (40,1) 1595 (27,7) 
Tiền sử sinh con to
Có 188 (53,6) 1745 (30,3)
Không 163 (46,4) 4021( 69,7)
Bảng 3. Tiền sử sản khoa và tỷ lệ trẻ sơ sinh thừa cân.
Đặc điểm mẹ Sơ sinh thừa cân(n/%)
Sơ sinh có trọng 
lượng trung bình
(n/%)
Chiều cao (cm)
150 39 (11,1) 722 (12,5)
151-160 188 (53,7) 2697 (46,8)
>160 124 ( 35,3) 2347 (40,7)
Cân nặng khi sinh
(kg)
≤ 50 4 (1,2) 462 (8,0)
51-60 87 (24,7) 2954 (51,2)
61-70 206 (58,7) 1227 (21,3)
>70 54 (15,4) 1123 (19,5)
Chỉ số khối cơ thể 
(kg/m²)
<18,5 48 (13,7) 685(11,9)
18,5-23 126 (35,9) 3182 (55,2)
>23 177 (50,4) 1899 (32,9)
Tăng cân trong thai 
kỳ (kg)
<13 81 (23,1) 693 (12,0)
13-20 150 (42,7) 3919 (68,0)
>20 120 (34,2) 1154 (20,0)
Bảng 4. Đặc điểm thai kỳ và tỷ lệ trẻ sơ sinh thừa cân.
Bệnh đái tháo đường
Sơ sinh thừa cân
Số lượng Tỷ lệ %
Có 9 2,6
Không 342 97,4
Tổng 351 100,0
Bảng 5. Tỷ lệ trẻ sơ sinh thừa cân và bệnh đái tháo đường mẹ.
Phương pháp sinh
Sơ sinh thừa cân Sơ sinh có trọng lượng trung bình Tổng
Số lượng % Số lượng % Số lượng %
Sinh thường 36 10,3 2194 38,1 2230 36,5
Mổ lấy thai 315 89,7 3572 61,9 3887 63,5
Tổng 351 100,0 5766 100,0 6117 100,0
Bảng 6. Phương pháp sinh và tỷ lệ trẻ sơ sinh thừa cân.
Giới tính trẻ
Sơ sinh thừa cân Sơ sinh có trọng lượng trung bình
Số lượng % Số lượng %
Nữ 108 40,8 2395 41,5
Nam 243 69,2 3371 58,5
Tổng 351 100,0 5766 100,0
Bảng 7. Mối liên quan giữa trẻ sơ sinh thừa cân và giới tính của trẻ
Hạ đường máu
Sơ sinh thừa cân
Số lượng Tỷ lệ %
Có 68 19,3
Không 283 80,7
Tổng 351 100,0
Bảng 8. Tỷ lệ hạ đường máu ở trẻ sơ sinh thừa cân
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 114 - 118, 2017
117
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
4. Bàn luận
4.1. Tỷ lệ trẻ sơ sinh thừa cân
Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi cho thấy có 
351/6117 trẻ sơ sinh có cân nặng ≥ 4000 g, chiếm 
tỷ lệ 5,7%. Kết quả này phù hợp với định nghĩa thai 
to trên thế giới là ghi nhận trên bách phân vị thứ 
90, tương ứng 4000 g. Với trọng lượng ≥ 4000 g 
kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cao hơn của 
Phạm Thị Quỳnh Hoa (2007) là 3,92% [6], Phạm 
Thị Mai Nhung (2009) 2,03% [5]. Kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi gần tương đương với Srofenyoh 
khi nghiên cứu ở Ghana là 4% [10].
Ngoài ra, chúng tôi cũng phát hiện có 1814/6117 
trẻ sơ sinh có cân nặng ≥ 3700 g chiếm tỷ lệ 29,6%. 
Tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế, khi các 
trẻ sơ sinh khi sinh có trọng lượng ≥ 3700 g thì được 
xem như trẻ sơ sinh thừa cân, do đó chúng tôi phân 
tích thêm nhóm này trong nghiên cứu và nhận thấy 
các trẻ có cân nặng ≥ 3700 g trong nghiên cứu của 
chúng tôi cao hơn kết quả của một số tác giả khác 
như Lâm Đức Tâm (2015) tại Cần thơ là 23,25% [3], 
Ngô Thị Uyên (2008) tại Hải phòng là 15,7% [4], Lê 
Lam Hương (2014) là 18,5% [2], khi thai ≥ 3500 g. 
Như vậy cùng với sự phát triển kinh tế của xã hội, 
điều kiện sống của người dân ngày càng cao hơn, 
cũng như ý thức chăm sóc sức khỏe trong thai kỳ tốt 
hơn nên trọng lượng trẻ sơ sinh ngày càng cao.
4.2. Các yếu tố liên quan đến trẻ sơ 
sinh thừa cân
4.2.1. Đặc điểm chung của mẫu sơ sinh thừa cân
Tuổi mẹ: Ở bảng 2 cho thấy tỷ lệ các sản phụ 
có độ tuổi từ 31-40 chiếm đa số tỷ lệ cao nhất trong 
các nhóm tuổi, 30,2%. Tỷ lệ này trong nghiên cứu 
của Phạm Thị Mai Nhung lên đến 77,7% [5]. Theo 
tác giả Mahin Najafian có 60% sản phụ sinh con 
thừa cân ≥ 35 tuổi [9]. Điều này phù hợp với tình 
trạng hiện nay là phụ nữ có xu hướng lập gia đình 
muộn, nên trường hợp lớn tuổi mang thai cũng tăng 
lên, góp phần làm tăng tỷ lệ thai to.
Nơi cu trú: Có 60,7% các sản phụ sinh sống ở 
thành phố sinh con thừa cân, kết quả này phù hợp 
với nghiên cứu của Phạm Thị Mai Nhung là 59,2% 
[5]. Điều này cho thấy yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến 
tỷ lệ sinh con thừa cân. Trong nghiên cứu của tác giả 
Phạm Thị Quỳnh Hoa cũng cho thấy tỷ lệ sơ sinh thừa 
cân ở nhóm các sản phụ sống ở thành phố cao hơn 
nhóm sống ở nông thôn (17,15% so với 11,4%) [6].
Nghề nghiệp: trong nghiên cứu của chúng tôi 
nhóm các sản phụ là nội trợ sinh con thừa cân chiếm 
tỷ lệ cao nhất 40,7% tiếp đến là nhóm cán bộ công 
nhân viên chức 29,9%. Kết quả này phù hợp với 
Phạm Thị Mai Nhung 42,7% [5]. Các sản phụ nội 
trợ có nhiều thời gian để chăm lo cho sức khỏe khi 
mang thai cũng như không chịu áp lực ngoài xã hội 
nên góp phần nâng cao tỷ lệ sinh con thừa cân hơn.
Trình độ văn hóa: có 140 sản phụ có trình độ 
học vấn là trung học phổ thông sinh con thừa cân 
chiếm tỷ lệ 39,9%. Kết quả này phù hợp với kết quả 
của Phạm Thị Mai Nhung là 36,9% [5]. 
 4.2.2. Tiền sử sản khoa và tình trạng sơ sinh 
thừa cân
Số lần mang thai: Ở bảng 3 cho thấy các sản 
phụ mang thai lần thứ 3 trở lên có tỷ lệ sinh con 
thừa cân cao nhất 40,1%. Kết quả này phù hợp với 
nghiên cứu của Phạm Thị Mai Nhung 36,9% [5]. 
Theo Phạm Thị Quỳnh Hoa tỷ lệ sơ sinh thừa cân 
theo tuổi thai liên quan đến số lần sinh [6].
Tiền sử sinh con to: Có 188 sản phụ (53,6%) có 
tiền sử sinh con thừa cân. Theo Lâm Đức Tâm cũng 
cho rằng các sản phụ có tiền sử sinh con to nguy cơ 
sinh con to ở lần mang thai sau tăng lên 6 lần [3]. 
Do đó các sản phụ này nên theo dõi và quản lý thai 
chặt chẻ cho lần mang thai sau, tránh các nguy cơ 
có thể xảy ra lúc sinh nếu thai thừa cân.
 4.2.3. Yếu tố nguy cơ của trẻ sơ sinh và mẹ
Chiều cao, cân nặng: Ở bảng 4 cho thấy có 
53,7% trường hợp có chiều cao từ 151-160 cm và 
có 58,7% các sản phụ có cân nặng khi sinh là từ 61-
70 kg. Các kết quả này phù hợp với của Phạm Thị 
Mai Nhung [5] và của M. Najafian [9]. Tác giả M. 
Najafian cũng cho rằng có mối liên hệ giữa chiều cao 
sản phụ và trọng lượng sơ sinh của trẻ [9]. Điều này 
có thể được lý giải là do yếu tố di truyền. Tuy nhiên 
yếu tố chiều cao không thể thay đổi, do đó để quản 
lý cân nặng của trẻ khi sinh chúng ta cần quản lý tốt 
cân nặng của các thai phụ trong quá trình mang thai.
Chỉ số khối cơ thể (BMI): đây là vấn đề được 
đề cập nhiều nhất ở lĩnh vực sản khoa trong những 
năm gần đây. Thai phụ có BMI càng cao nguy cơ 
sinh con thừa cân càng tăng. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi nhóm các sản phụ có BMI > 23 chiếm 
tỷ lệ cao nhất 50,4%. Kết quả này phù hợp với 
Phạm Thị Mai Nhung 37,86% [5] và Lâm Đức Tâm 
TRẦN THỊ HOÀN, HOÀNG LIÊN CHÂU, HOÀNG THỊ BÍCH NGỌC, NGUYỄN THỊ HẬU, NGUYỄN THỊ DIỆP LÊ
118
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
cũng cho rằng khi BMI > 23 tỷ lệ sinh con to tăng 
1,64 lần so BMI trung bình [3]. Theo M.C. Jolly thai 
phụ có BMI từ 25-30 có tỷ lệ sinh con thừa cân là 
13,8%, khi BMI ≥ 30 tỷ lệ này là 19,2% [8].
Tăng cân trong thai kỳ: trong suốt quá trình 
mang thai, số cân nặng của thai phụ tăng trung 
bình 10-12 kg. Sự tăng cân quá mức trong thai kỳ 
cũng dẫn đến tình trạng sinh con thừa cân. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi có 42,7% các sản phụ 
sinh con thừa cân tăng từ 12-20 kg trong thai kỳ. 
Kết quả của chúng tôi phù hợp với Lâm Đức Tâm là 
52,44% [3], và Phạm Thị Mai Nhung là 43,7% [5].
Ở bảng 5 cho thấy có 9/351 (2,6%) các thai 
phụ có bệnh lý tiểu đường trong khi mang thai. 
Mặc dù tỷ lệ không cao nhưng cũng cho thấy bệnh 
lý này cũng ảnh hưởng lên trọng lượng trẻ khi sinh. 
Tác giả Lâm Đức Tâm cũng cho rằng có mối liên 
quan giữa tiểu đường và tỷ lệ sinh con thừa cân [3].
Như vậy các yếu tố tăng cân khi sinh phối hợp 
với chỉ số BMI, mẹ béo phì hay tiểu đường kết hợp 
làm tăng nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh thừa cân. Do 
đó cần khuyến cáo các thai phụ khi mang thai phải 
theo dõi thai kỳ chặt chẻ, kiểm soát cân nặng trong 
quá trình mang thai và kiểm tra chỉ số đường máu 
để kiểm soát được cân nặng của trẻ khi sinh ra.
Trong những năm gần đây tỷ lệ mổ lấy thai ngày 
càng tăng với nhiều lý do khác nhau. Trong đó tỷ lệ mổ 
lấy thai do thai to cũng chiếm một phần không nhỏ. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 89,7% (bảng 6) các 
sản phụ mổ lấy thai vì thai to, phù hợp với kết quả của 
Phạm Thị Quỳnh Hoa là 65,36% [6] và của Phạm Thị 
Mai Nhung là 73,8% [5]. Nghiên cứu của Jolly M.C 
cũng cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai ở trẻ thừa cân cao hơn 
trẻ có trọng lượng trung bình (11,8% so với 7,6%) [8]. 
Tình trạng thai to khi lựa chọn sinh đường âm đạo đã 
được chứng minh làm tăng nguy cơ các tai biến cho 
mẹ và thai. Do đó ngày này để giảm thiểu các nguy cơ 
này các nhà chuyên môn có xu hướng chỉ định mổ lấy 
thai khi chẩn đoán xác định là thai to (dựa vào khám 
lâm sàng, kết quả siêu âm). Điều này giải thích cho 
tỷ lệ mổ lấy thai cao trong nhóm các trẻ thừa cân.
Bảng 7 cho thấy có 243/351 (69,2%) trẻ sơ 
sinh thừa cân, và 3371/5766 (58,5%) ở nhóm trẻ 
có trọng lượng trung bình là bé trai. Tỷ lệ này hoàn 
toàn phù hợp với tình trạng mất cân bằng giới tính 
của xã hội trong những năm gần đây.
Ở khoa Phụ sản bệnh viện Trung ương Huế, 
tất cả các bé khi sinh ra có trọng lượng ≥ 4000g 
đều được làm xét nghiệm đường máu ngay sau 
sinh. Kết quả trong 351 trẻ sơ sinh có trọng lượng 
≥ 4000g có 68 trẻ chiếm tỷ lệ 19,3% hạ đường 
máu sau sinh (bảng 8). Kết quả của chúng tôi phù 
hợp với Phạm Thị Mai Nhung là 18,45% [5], của 
Araz.N. là 16,7% [7]. Như vậy các trẻ thừa cân 
thường có nguy cơ béo phì và tiểu đường sau này. 
Do đó đối với nhóm trẻ thừa cân cần phải có chế 
độ theo dõi và chăm sóc đặc biệt về sau.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu tình hình trẻ sơ sinh thừa cân 
tại khoa Phụ sản bệnh viện Trung ương Huế ghi 
nhận trẻ có trọng lượng ≥ 4000g chiếm tỷ lệ 5,7%. 
Các yếu tố tìm thấy liên quan đến trẻ thừa cân gồm 
tuổi mẹ từ 31-40 tuổi, trình độ học vấn, mang thai 
lần thứ 3 trở lên, tiền sử sinh con to, tăng cân nhiều 
trong thai kỳ cũng như BMI > 23. Tỷ lệ mổ lấy thai 
tăng khi mang thai to.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ môn Phụ sản, Đại họcY Dược thành phố Hồ Chí Minh (2011),Sản phụ 
khoa tập I, Nhà xuất bản Y học chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, tr.251-254.
2. Lê Lam Hương, Hoàng Thanh Hà (2014), “ Nghiên cứu giá trị dự đoán 
trọng lượng thai của thai đủ tháng qua lâm sàng và siêu âm”, Tạp chí Phụ 
sản, 12/1, tr.58-63.
3. Lưu Đức Tâm, Lưu Thị Trâm Anh, Nguyễn Vũ Quốc Huy (2016),” Nghiên cứu 
tỷ lệ và các yếu tố liên quan thai to tại bệnh viện Phụ sản thành phố Cần thơ 
năm 2015”, Tạp chí Phụ sản14(03), tháng 7/2016, tr.31-37.
4. Ngô Thị Uyên, Lê Thùy Hưu (2011),” Tình hình chẩn đoán xử trí thai to tại bệnh viện 
Phụ sản Hải phòng từ tháng 3-4 năm 2008”, Y học Thực hành( 774), số 7, tr.54-57.
5. Phạm Thị Mai Nhung (2009),” Nghiên cứu tình hình trẻ sơ sinh thừa cân tại bệnh 
viên Trung ương Huế”, Luận văn tốt nghiệp nội trú, trường Đại học Y dược Huế.
6. Phạm Thị Quỳnh Hoa,( 2008), “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sơ 
sinh quá cân theo tuổi thai ở những sản phụ đẻ tại bệnh viện”, Y học thực hành, 
606-607, tr.372-377.
7. Araz N, Araz M. (2006), “ Frecency of neonatal hypoglycemia in large of 
gestational age infants of non-diabetic mothers in a community maternity hospital”, 
Acta medica (Hradec Králové), 49(4), pp.237-239.
8. Jolly M.C.,Sebire N.J., Harris J.P., Regan L., Robinson S.,( 2003), “ Risk factors for 
macrosomia and its clinical consequences: a study of 350,311 pregnancies” European 
Journal of Obstetrics & Gynecology and Reproductive Biology, 113(1), pp.100-104.
9. Mahin Najafian and Maria Cheraghi (2012),” Occurrence of Fetal macrosomia 
Rate and Its Maternal and Neonatal Complication: A 5-year Cohort Study”, Article, 
ISRN Obstetrics and Gynecology, pp.353-791.
10. Srofenyoh E.K.,Seffah J.D. (2006), Prenatal, labor and delivery characteristics 
of mothers with macrosomic babies”, International Journal of Gynecology and 
Obstertrics, 93,pp. 49-50.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tinh_hinh_tre_so_sinh_thua_can_tai_khoa_phu_san_b.pdf