Nghiên cứu thực trạng sinh đẻ tuổi vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2015
Mục tiêu: Đánh giá kết quả cuộc đẻ, tai biến của mẹ và thai nhi trong
và sau đẻ ở các sản phụ vị thành niên.
Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 468
sản phụ vị thành niên đến sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ
1/1/2015 đến 31/12/2015.
Kết quả: Tỷ lệ sản phụ vị thành niên vào đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản
Hải Phòng trong năm 2015 là 2,75%. 14,5% trẻ đẻ ra bị non tháng,
13,7% bị nhẹ cân và 2,6% có chỉ số Apgar phút đầu ≤ 7 điểm. Tỷ lệ con
non tháng, nhẹ cân và có chỉ số Apgar phút đầu ở nhóm 17 - 19 tuổi
thấp hơn so với nhóm dưới 17 tuổi. Cân nặng trung bình của trẻ sinh ra
từ bà mẹ vị thành niên là 2880,29 ± 575g, cao nhất là 4100g và thấp
nhất là 500g. Tỷ lệ tiền sản giật chiếm 2,3%, sản giật 0,2%, thiếu máu
14%. 1 ca có HIV dương tính, 13 ca nhiễm HBV, 2 ca nhiễm sùi mào gà
và 2 ca mắc rối loạn về tâm thần và trí tuệ. Không có ca nào chảy máu
sau đẻ hay chấn thương đường sinh dục.
Kết luận: Cần xem xét lại chương trình giáo dục giới tính cho lứa tuổi
vị thành niên để có thể mang đến cho các em những hiểu biết và kiến
thức cần thiết về giới tính và tình dục an toàn. Cần có sự kết hợp chặt
chẽ hơn giữa gia đình - nhà trường - xã hội để quan tâm nhiều hơn nữa
đến các nữ vị thành niên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu thực trạng sinh đẻ tuổi vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2015
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 107 - 111, 2017 107 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 Đỗ Thu Thủy(2), Nguyễn Hoàng Trang(1), Đào Thiên Hương(1), Trần Tú Anh(3) (1) Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, (2) Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng, (3) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SINH ĐẺ TUỔI VỊ THÀNH NIÊN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG NĂM 2015 Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Hoàng Trang, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 01/03/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/03/2017 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 28/04/2017 Từ khóa: sinh đẻ tuổi vị thành niên. Keywords: adolescent childbirth. Tóm tắt Mục tiêu: Đánh giá kết quả cuộc đẻ, tai biến của mẹ và thai nhi trong và sau đẻ ở các sản phụ vị thành niên. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 468 sản phụ vị thành niên đến sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ 1/1/2015 đến 31/12/2015. Kết quả: Tỷ lệ sản phụ vị thành niên vào đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng trong năm 2015 là 2,75%. 14,5% trẻ đẻ ra bị non tháng, 13,7% bị nhẹ cân và 2,6% có chỉ số Apgar phút đầu ≤ 7 điểm. Tỷ lệ con non tháng, nhẹ cân và có chỉ số Apgar phút đầu ở nhóm 17 - 19 tuổi thấp hơn so với nhóm dưới 17 tuổi. Cân nặng trung bình của trẻ sinh ra từ bà mẹ vị thành niên là 2880,29 ± 575g, cao nhất là 4100g và thấp nhất là 500g. Tỷ lệ tiền sản giật chiếm 2,3%, sản giật 0,2%, thiếu máu 14%. 1 ca có HIV dương tính, 13 ca nhiễm HBV, 2 ca nhiễm sùi mào gà và 2 ca mắc rối loạn về tâm thần và trí tuệ. Không có ca nào chảy máu sau đẻ hay chấn thương đường sinh dục. Kết luận: Cần xem xét lại chương trình giáo dục giới tính cho lứa tuổi vị thành niên để có thể mang đến cho các em những hiểu biết và kiến thức cần thiết về giới tính và tình dục an toàn. Cần có sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa gia đình - nhà trường - xã hội để quan tâm nhiều hơn nữa đến các nữ vị thành niên. Từ khóa: sinh đẻ tuổi vị thành niên. Abstract THE SITUATION OF ALDOLESCENT CHILDBIRTH AT HAIPHONG OBSTETRIC AND GYNECOLOGY HOSPITAL 2015 Background: Assessing the delivery outcomes, complications of maternal and fetal during and after childbirth. Subjects and Methods: A cross-sectional study of 468 adolescent women delivered at Hai Phong Obstetrics and Gynecology Hospital ĐỖ THU THỦY, NGUYỄN HOÀNG TRANG, ĐÀO THIÊN HƯƠNG, TRẦN TÚ ANH 108 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H from 1 January 2015 to 31 December 2015. Results: The prevalence of adolescent delivery at Hai Phong Obstetrics and Gynecology Hospital in 2015 was 2.75%. 14,5% were born prematurely, 13.7% were underweight and 2,6% had Apgar scores ≤ 7 points at first minute. The prevalence of preterm, low birth weight and early Apgar scores in the 17-19 age group was lower than that of the under 17 age group. The average birth weight of infants of aldolescent mothers was 2880.29 ± 575gr, the highest was 4100g and the lowest was 500gr. Prevalence of preeclampsia was 2.3%, eclampsia was 0.2%, and anemia was 14%. 1 mother had HIV-positive, 13 mothers had HBV infection, 2 mothers infected HPV and 2 mothers had mental and intellectual disorders. No cases of postpartum hemorrhage or genital trauma. Conclusion: It is important to review the sex education program for adolescents ages so that they can provide the necessary knowledge about gender and safe sexuality. There should be a closer association between family - school - society to pay more attention to the aldolescent women. Keywords: adolescent childbirth. 1. Đặt vấn đề Mỗi ngày trên thế giới có khoảng 20000 trẻ gái ở các nước đang phát triển sinh con trước 18 tuổi. Ở Việt Nam, cứ 1000 vị thành niên thì có đến 46 người đã sinh con. Việc mang thai ở tuổi vị thành niên (VTN) có thể để lại những hậu quả tức thời hoặc kéo dài đối với các bà mẹ trẻ và con mình. Tỷ lệ thai nghén nguy cơ cao, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dụcở lứa tuổi này cũng cao hơn so với những bà mẹ lớn tuổi hơn. Những đứa trẻ sinh ra từ mẹ VTN có tỷ lệ chết trước 1 tuổi, nhẹ cân, suy dinh dưỡng, bệnh tật cũng cao hơn nhiều so với con của các mẹ ở độ tuổi trưởng thành. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả cuộc đẻ, tai biến của mẹ và thai nhi trong và sau đẻ ở các sản phụ vị thành niên từ 1/1/2015 đến 31/12/2015 tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng. 2. Đối tượng và phương pháp 2.1. Đối tượng Các sản phụ từ 19 tuổi trở xuống đến sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng (BVPSHP) từ 1/1/2015 đến 31/12/2015. 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn − Tuổi (tính đến ngày nhập viện): từ 19 trở xuống. − Tuần thai từ 22 tuần trở lên. − Đẻ đơn thai. − Đến sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ 1/1/2013 đến 31/12/2013. − Có hồ sơ bệnh án sản khoa lưu trữ tại Bệnh viện. 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ − Tuổi (tính đến ngày nhập viện): từ 19 trở lên. − Đẻ đa thai. − Đã đẻ ở tuyến trước và được chuyển về bệnh viện phụ sản. − Tuổi thai dưới 22 tuần. 2.2. Địa điểm nghiên cứu Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng. 2.3. Phương pháp nghiên cứu - Thiết kế nghiên cứu: Mô tả, hồi cứu. - Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện, không xác suất. Có N = 468 sản phụ đến sinh tại BVPSHP từ 1/1/2013 đến 31/12/2013 đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ. 2.4. Xử lý số liệu Phương pháp thống kê y học, phần mềm SPSS TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 107 - 111, 2017 109 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 16.0, thuật toán χ2, Fisher để so sánh 2 tỷ lệ theo bảng. Tính RR và 95% CI của RR giữa các biến độc lập hay phụ thuộc. 3. Kết quả nghiên cứu Nhận xét: Trong tổng số 16992 trường hợp vào đẻ tại BVPSHP từ 1/1/2013 - 31/12/2013, có 468 trường hợp sản phụ tuổi từ 19 trở xuống, chiếm 2,75%. Nhận xét: - Các sản phụ có độ tuổi từ 13 - 19, trung bình là 18,21 ± 1,03. - Tỷ lệ các sản phụ giảm dần theo lứa tuổi: nhóm 19 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (52,4%), tiếp đến là nhóm 18 tuổi (25,4%), nhóm 17 tuổi (15,2%). Nhóm từ 16 tuổi trở xuống chỉ chiếm 7%. Nhận xét: Tỷ lệ đẻ non, con nhẹ cân và ngạt của nhóm sản phụ < 17 tuổi cao hơn so với nhóm 17 - 19 tuổi lần lượt 1,3; 1,8 và 4,7 lần. Biểu đồ 1. Tỷ lệ đẻ ở sản phụ vị thành niên 97,25% 2,75% > 19 tuổi 10 - 19 tuổi Biểu đồ 2. Tỷ lệ sản phụ phân bố theo nhóm tuổi VTN 0,40% 6,60% 92,90% 0.00% 10.00% 20.00% 30.00% 40.00% 50.00% 60.00% 70.00% 80.00% 90.00% 100.00% 10 - 13 tuổi 14 - 16 tuổi 17 - 19 tuổi Tình trạng con lúc đẻ < 17 tuổi (%)(n=33) 17-19 tuổi (n=435) RR 95% CI Tuần thai < 37 tuần 18,2 14,3 1,3 0,5 – 3,3 ≥ 37 tuần 8,8 85,7 Cân nặng < 2500g 21,2 13,1 1,8 0,7 – 4,3 ≥ 2500g 78,8 86,9 Apgar phút đầu ≤ 7 điểm 9,1 2,1 4,7 1,2– 18,4 > 7 điểm 90,9 97,9 Bảng 1. So sánh về tỷ lệ đẻ non, con nhẹ cân và ngạt giữa các nhóm tuổi vị thành niên Tuổi thai Số lượng Tỷ lệ % < 37 tuần 68 14,5 ≥ 37 tuần 400 85,5 Tổng cộng 468 100 Bảng 2. Tỷ lệ đẻ non của sản phụ VTN Nhận xét: Trong số 468 sơ sinh được sinh ra từ những bà mẹ VTN, có 14,5% số trẻ được đẻ ra trước 37 tuần. 85,5% còn lại được sinh ra sau ít nhất là 37 tuần. Nhận xét: - 86,3% trẻ có cân nặng từ 2500g trở lên và 13,7% số trẻ nặng dưới 2500g. - Cân nặng trung bình 2880,29 ± 575g. Con bé nhất nặng 500g, lớn nhất 4100g, 13 trẻ (2,7%) chậm phát triển trong tử cung, 59 trường hợp (12,6%) là thai to. Nhận xét: - 98,7% trẻ có Apgar phút đầu ≥ 7 điểm, 2% có Apgar < 7 điểm. - 12 ca nhiễm khuẩn sơ sinh (2,5%), 55 ca vàng da (11,4%), 2 ca gãy xương đòn, 34 ca (7,1%) sau đẻ phải chuyển Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng, có 4 trẻ chết ngay sau sinh được 10 phút, trong đó có 3 nhi chậm phát triển trong tử cung. Nhận xét: 14% sản phụ VTN bị thiếu máu. 01 trường hợp (0,2%) đến viện trong tình trạng bị hôn mê do sản giật. 01 ca duy nhất (0,2%) HIV dương tính. 3% nhiễm HBV trong đó có 10 ca có HBeAg (+). 0,4% bị sùi mào gà. 01 sản phụ VTN bị thiểu năng trí tuệ, 1 sản phụ bị rối loạn tâm thần. Cân nặng sơ sinh Số lượng Tỷ lệ % < 2500g 64 13,7 2500 - 2999g 154 32,9 3000 - 3499g 59 12,6 ≥ 3500g 59 12,6 Tổng cộng 468 100 Bảng 3. Phân bố sơ sinh theo nhóm cân nặng Apgar phút thứ 1 Số ca (N) Tỷ lệ % ≤ 7 điểm 12 2,6 > 7 điểm 456 97,4 Tổng cộng 468 100 Bảng 4. Tỷ lệ Apgar phút thứ 1 của nhi sinh ra từ các bà mẹ vị thành niên Biểu đồ 3. Tỷ lệ bệnh lý ở mẹ vị thành niên 14 2 0,2 0,2 3 0,4 0 2 4 6 8 10 12 14 phần trăm Thiếu máu Tiền sản giật Sản giật Nhiễm HIV Nhiễm HBV Sùi mào gà Nhận xét: Tỷ lệ biến chứng sau đẻ của sản phụ VTN rất thấp, chỉ 1,1% bị nhiễm khuẩn hậu sản, không có trường hợp nào chảy máu hay chấn thương đường sinh dục. 4. Bàn luận Trong tổng số 16992 trường hợp vào đẻ tại BVPSHP từ 1/1/2015 đến 31/12/2015, có 468 trường hợp tuổi từ 19 trở xuống (2,75%), cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Vân Anh là 0,92% [1]. Liệu có phải tỷ lệ sinh đẻ tuổi VTN tại Việt Nam đang tăng lên? Theo báo cáo Dân số thế giới của Ủy ban Dân số Liên hợp Quốc, tỷ lệ sinh ở lứa tuổi 15-19 cao nhất ở các nước đang phát triển ở châu Phi, vùng Đông Nam Á, thấp nhất thuộc về các nước phát triển. Qua đó, ta có thể thấy tỷ lệ đẻ tuổi VTN khác nhau rất nhiều giữa các quốc gia, các chủng tộc, các miền địa lý trên thế giới tùy theo phong tục, tập quán, sự phát triển kinh tế, trình độ dân trí, và hệ thống quản lý thai nghén - chăm sóc sức khỏe sinh sản. Tuổi trung bình của các sản phụ là 18,21 ± 1,03, cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Vân Anh là 17,75 ± 0,9. Trong nghiên cứu của chúng tôi, 2 sản phụ trẻ nhất 13 tuổi. Liệu có phải tuổi sinh đẻ của các bà mẹ VTN ngày càng thấp? Qua bảng 1, ta có thể thấy, con của nhóm sản phụ < 17 tuổi có tỷ lệ non tháng, nhẹ cân lần lượt cao hơn 1,3 lần và 1,8 lần so với nhóm 17 - 19 tuổi, do đó tỷ lệ con bị ngạt sau sinh của nhóm này cũng tăng gấp 4,7 lần so với nhóm VTN muộn. Nguyên nhân có thể giải thích do sự phát triển kém hoàn thiện hơn so với lứa tuổi 17 - 19: sự mang thai trong vòng 2 năm đầu kể từ khi bắt đầu có kinh nguyệt là một tình trạng trong đó dinh dưỡng của thai phải san sẻ cho sự phát triển của cơ thể mẹ. Ngoài ra, sự phát triển chưa chín muồi của tử cung hoặc sự cung cấp máu chưa hoàn thiện của cổ tử cung làm người mẹ dễ bị nhiễm khuẩn, làm tăng sự sản xuất Prostaglandin và đẻ non, con nhẹ cân là những hậu quả tất yếu [2]. ĐỖ THU THỦY, NGUYỄN HOÀNG TRANG, ĐÀO THIÊN HƯƠNG, TRẦN TÚ ANH 110 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Tình trạng mẹ sau đẻ Số lượng Tỷ lệ % Bình thường 463 98,9 Chảy máu 0 0 Chấn thương đường sinh dục 0 0 Nhiễm khuẩn hậu sản 5 1,1 Tổng cộng 468 100 Bảng 5. Tỷ lệ biến chứng sau đẻ của sản phụ vị thành niên Phân tích bảng 3, ta thấy 86,3% các trẻ sinh ra từ mẹ VTN có cân nặng từ 2500g trở lên và 13,7% số trẻ nặng dưới 2500g. So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Vân Anh, tỷ lệ con nhẹ cân của nhóm sản phụ ≤ 19 tuổi theo nghiên cứu của chúng tôi đã giảm xuống có ý nghĩa so với tỷ lệ con nhẹ cân của nhóm này (18,2%). Tuy nhiên cân nặng trung bình của nhi theo nghiên cứu của chúng tôi (2880,29 ± 575g) lại thấp hơn so với con của cùng nhóm ≤ 19 tuổi (2896,6 ± 518,3g) và đương nhiên là thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm > 19 tuổi (3105,3 ± 494,3g) với p = 0,009. Như vậy, mặc dù con của sản phụ VTN ngày nay có tỷ lệ nhẹ cân giảm so với trước nhưng vẫn có nguy cơ nhẹ cân hơn so với nhóm sản phụ lớn tuổi hơn. Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự mang thai đã làm tăng nhu cầu dinh dưỡng đối với cơ thể và đòi hỏi thai phụ phải cố gắng thích nghi với tình trạng mang thai của mình. Trong khi ở tuổi VTN, các em đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể chất để hoàn chỉnh phát triển cơ thể, vì vậy cần rất nhiều năng lượng cũng như các chất dinh dưỡng để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất. Khi mang thai hoặc nuôi con nhỏ, lượng dinh dưỡng và các chất cần thiết này sẽ bị chia làm hai, làm cho người mẹ không phát triển đầy đủ sẽ trở thành nhỏ thấp, gầy gò, suy dinh dưỡng, thiếu máu so với các nữ VTN cùng lứa tuổi. Các chất dinh dưỡng cung cấp cho thai nhi không đủ, vì thế sẽ có nhiều khó khăn trong việc nuôi dưỡng thai nhi phát triển trong cơ thể mẹ, trong chuyển dạ và trong sinh nở. Trong số 468 sơ sinh được sinh ra từ những bà mẹ VTN, 14,5% số trẻ đẻ ra non tháng, giảm nhiều so với những năm trước (Nguyễn Vân Anh 2009-2011 là 30,28%). Điều này có thể do tuổi dậy thì ở nữ càng ngày càng giảm xuống, điều kiện dinh dưỡng tốt hơn tạo điều kiện cho cơ thể phát triển tốt hơn, các sản phụ nói chung được quan tâm nhiều hơn sự quan tâm chăm sóc từ gia đình. Tuy nhiên, tỷ lệ đẻ non ở nhóm tuổi <17 vẫn cao hơn 1,3 lần so với nhóm ≥17 tuổi cho thấy nhóm tuổi VTN dù có phát triển khỏe mạnh, đủ khả năng làm mẹ nhưng vẫn chưa chuẩn bị tâm lý cho trách nhiệm này. Tỷ lệ trẻ có Apgar ≤7 điểm chỉ chiếm 2,6%, thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Vân Anh là 9,9% (p <0,001) khiến cho tỷ lệ tử vong nhi ngay sau đẻ ở nhóm sản phụ VTN năm 2012 từ 2% giảm xuống còn 0,9% năm 2015 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 107 - 111, 2017 111 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 và các trẻ này tử vong đều do đa dị tật hoặc con quá non yếu (<24 tuần). Đạt được thành quả như vậy là nhờ vào sự quan tâm chăm sóc chu đáo hơn bắt đầu từ đầu thai kỳ, sự theo dõi sát sao của nhân viên y tế trong suốt quá trình chuyển dạ và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại, trong đó có kỹ thuật hồi sức, chăm sóc sơ sinh sau đẻ. Trong số 468 sản phụ VTN, có 10 người bị tiền sản giật, không khác biệt nhiều so với tỷ lệ sản phụ VTN bị tiền sản giật ở nhóm ≤19 tuổi (2,5%) và nhóm >19 tuổi (3,2%) năm 2012 của Nguyễn Vân Anh (p = 0,615 & 0,191). Đáng chú ý là xuất hiện 1 ca sản phụ nhập viện vì hôn mê tiền sản giật. Điều này chứng tỏ, mặc dù sản phụ có quan tâm đến thai kỳ của mình hơn nhưng vẫn chưa có đủ những kiến thức, hiểu biết nên có khác về tình trạng bệnh lý khi thai nghén, không theo dõi và để xảy ra biến chứng nặng cho mẹ là sản giật, biến chứng cho con là thiếu tháng (33 tuần) và nhẹ cân (2000g). Rất may là cả mẹ và con sau đẻ đều ổn định. Tỷ lệ sản phụ VTN thiếu máu (Hb <10g/dl) chỉ chiếm 14%, giảm gần một nửa so với tỷ lệ sản phụ cùng nhóm năm 2009 (26,4%) nhưng vẫn cao hơn tỷ lệ sản phụ > 19 tuổi (10,2%) trong nghiên cứu của Nguyễn Mai Thơ. Như vậy, mặc dù sản phụ VTN hiện nay được chăm sóc tốt hơn so với các giai đoạn trước nhưng vẫn có nguy cơ thiếu máu cao hơn so với sản phụ ngoài VTN. Tình trạng thiếu máu này là hậu quả của tình trạng dinh dưỡng “thiếu thốn” của các bà mẹ VTN, đặc biệt là những bà mẹ không đi khám thai và có thu nhập nhấp. Trong nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận 1 trường hợp (0,2%) nhiễm HIV với 3 xét nghiệm theo 3 phương pháp khác nhau đều cho kết quả dương tính; 2 ca sùi mào gà (0,4%). Tình trạng nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng đang là một vấn đề đáng lo ngại trong công tác chăm sóc sức khỏe cho đối tượng VTN do thiếu hiểu biết về kiến thức giới tính, dễ quan hệ tình dục ngẫu hứng với nhiều bạn tình và không bảo vệ kết hợp với cơ thể tuổi VTN thường nhậy cảm về mặt sinh học, dễ mắc các bệnh lây truyền tình dục hơn so với phụ nữ lớn tuổi [3]. Thêm vào đó, do không được điều trị can thiệp dự phòng từ sớm, những bà mẹ VTN có nguy cơ truyền HIV, HBV cho con cao hơn rất nhiều lần so với nhóm đối tượng khác. Ngoài ra, có 1 sản phụ VTN bị thiểu năng trí tuệ, 1 sản phụ bị rối loạn tâm thần. Đây là những lý do góp phần làm tăng thêm khả năng bị lừa gạt tình dục, lạm dụng tình dục hay cưỡng bức tình dục, dẫn đến có thai ngoài ý muốn ở trẻ VTN. Liệu số phận và tương lai của những đứa trẻ sinh ra từ những bà mẹ như vậy sẽ đi đến đâu trong khi chính họ còn chưa chăm sóc nổi bản thân mình? Trong năm 2015, không ghi nhận trường hợp nào bị chảy máu hoặc chấn thương đường sinh dục. So với nghiên cứu của Nguyễn Vân Anh 2012 cũng tại BVPSHP là 1,1% thì đây là một tín hiệu đáng mừng, cho thấy những tiến bộ hơn về kỹ thuật đỡ đẻ, mổ đẻ giúp làm giảm sang chấn đường sinh dục cho người phụ nữ. 5. Kết luận - Tỷ lệ sản phụ VTN vào đẻ tại BVPSHP năm 2015 là 2,75%, cao nhất là ở nhóm tuổi 19 (52,4%) và thấp nhất là nhóm dưới 17 tuổi (7%); 2 ca nhỏ tuổi nhất là 13 (0,4%). - Tỷ lệ con non tháng, nhẹ cân và có chỉ số Apgar phút đầu ở nhóm 17 - 19 tuổi thấp hơn so với nhóm dưới 17 tuổi. - 14,5% trẻ đẻ ra non tháng, 13,7% nhẹ cân và 2,6% có chỉ số Apgar phút đầu ≤ 7 điểm. - Cân nặng trung bình của trẻ sinh ra từ bà mẹ VTN là 2880,29 ± 575g, cao nhất là 4100g và thấp nhất là 500g. - Tỷ lệ tiền sản giật chiếm 2,3%, sản giật 0,2%, thiếu máu 14%. - 1 ca HIV dương tính, 13 ca nhiễm HBV, 2 ca nhiễm sùi mào gà và 2 ca mắc rối loạn về tâm thần và trí tuệ. - Không có ca nào chảy máu sau đẻ hay chấn thương đường sinh dục. Tài liệu tham khảo 1. Nguyễn Vân Anh. Nghiên cứu thai nghén tuổi VTN tại BVPSHP từ 2009- 2011. Luận văn tốt nghiệp BSCKII, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng; 2012. 2. Dedecker F, de Bailliencourt T, Barau G. Étude des facteurs de risques obstétricaux dans le suivi de 365 grossesses primipares adolescentes à l’île de la Réunion. J Gynecol Obstet Biol Reprod. 2005; 34: 944-52. 3. Faucher P, Dappe S, Madelenat P. Maternité à l’adolescence : analyse obstétricale et revue de l’influence des facteurs culturels, socio-économiques et psychologiques à partir d’une étude rétrospective de 62 dossiers. Gynecol Obstet Fertil. 2002; 944-52.
File đính kèm:
nghien_cuu_thuc_trang_sinh_de_tuoi_vi_thanh_nien_tai_benh_vi.pdf

