Nghiên cứu thực trạng sinh đẻ tuổi vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2015

Mục tiêu: Đánh giá kết quả cuộc đẻ, tai biến của mẹ và thai nhi trong

và sau đẻ ở các sản phụ vị thành niên.

Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 468

sản phụ vị thành niên đến sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ

1/1/2015 đến 31/12/2015.

Kết quả: Tỷ lệ sản phụ vị thành niên vào đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản

Hải Phòng trong năm 2015 là 2,75%. 14,5% trẻ đẻ ra bị non tháng,

13,7% bị nhẹ cân và 2,6% có chỉ số Apgar phút đầu ≤ 7 điểm. Tỷ lệ con

non tháng, nhẹ cân và có chỉ số Apgar phút đầu ở nhóm 17 - 19 tuổi

thấp hơn so với nhóm dưới 17 tuổi. Cân nặng trung bình của trẻ sinh ra

từ bà mẹ vị thành niên là 2880,29 ± 575g, cao nhất là 4100g và thấp

nhất là 500g. Tỷ lệ tiền sản giật chiếm 2,3%, sản giật 0,2%, thiếu máu

14%. 1 ca có HIV dương tính, 13 ca nhiễm HBV, 2 ca nhiễm sùi mào gà

và 2 ca mắc rối loạn về tâm thần và trí tuệ. Không có ca nào chảy máu

sau đẻ hay chấn thương đường sinh dục.

Kết luận: Cần xem xét lại chương trình giáo dục giới tính cho lứa tuổi

vị thành niên để có thể mang đến cho các em những hiểu biết và kiến

thức cần thiết về giới tính và tình dục an toàn. Cần có sự kết hợp chặt

chẽ hơn giữa gia đình - nhà trường - xã hội để quan tâm nhiều hơn nữa

đến các nữ vị thành niên

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu thực trạng sinh đẻ tuổi vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu thực trạng sinh đẻ tuổi vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2015

Nghiên cứu thực trạng sinh đẻ tuổi vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2015
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 107 - 111, 2017
107
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Đỗ Thu Thủy(2), Nguyễn Hoàng Trang(1), Đào Thiên Hương(1), Trần Tú Anh(3) 
(1) Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, (2) Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng, (3) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
SINH ĐẺ TUỔI VỊ THÀNH NIÊN
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG NĂM 2015
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Hoàng Trang, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: sinh đẻ tuổi vị thành 
niên.
Keywords: adolescent 
childbirth.
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả cuộc đẻ, tai biến của mẹ và thai nhi trong 
và sau đẻ ở các sản phụ vị thành niên. 
Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 468 
sản phụ vị thành niên đến sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ 
1/1/2015 đến 31/12/2015. 
Kết quả: Tỷ lệ sản phụ vị thành niên vào đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản 
Hải Phòng trong năm 2015 là 2,75%. 14,5% trẻ đẻ ra bị non tháng, 
13,7% bị nhẹ cân và 2,6% có chỉ số Apgar phút đầu ≤ 7 điểm. Tỷ lệ con 
non tháng, nhẹ cân và có chỉ số Apgar phút đầu ở nhóm 17 - 19 tuổi 
thấp hơn so với nhóm dưới 17 tuổi. Cân nặng trung bình của trẻ sinh ra 
từ bà mẹ vị thành niên là 2880,29 ± 575g, cao nhất là 4100g và thấp 
nhất là 500g. Tỷ lệ tiền sản giật chiếm 2,3%, sản giật 0,2%, thiếu máu 
14%. 1 ca có HIV dương tính, 13 ca nhiễm HBV, 2 ca nhiễm sùi mào gà 
và 2 ca mắc rối loạn về tâm thần và trí tuệ. Không có ca nào chảy máu 
sau đẻ hay chấn thương đường sinh dục. 
Kết luận: Cần xem xét lại chương trình giáo dục giới tính cho lứa tuổi 
vị thành niên để có thể mang đến cho các em những hiểu biết và kiến 
thức cần thiết về giới tính và tình dục an toàn. Cần có sự kết hợp chặt 
chẽ hơn giữa gia đình - nhà trường - xã hội để quan tâm nhiều hơn nữa 
đến các nữ vị thành niên.
Từ khóa: sinh đẻ tuổi vị thành niên.
Abstract 
THE SITUATION OF ALDOLESCENT CHILDBIRTH 
AT HAIPHONG OBSTETRIC AND GYNECOLOGY 
HOSPITAL 2015 
Background: Assessing the delivery outcomes, complications of 
maternal and fetal during and after childbirth. 
Subjects and Methods: A cross-sectional study of 468 adolescent 
women delivered at Hai Phong Obstetrics and Gynecology Hospital 
ĐỖ THU THỦY, NGUYỄN HOÀNG TRANG, ĐÀO THIÊN HƯƠNG, TRẦN TÚ ANH
108
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
from 1 January 2015 to 31 December 2015. 
Results: The prevalence of adolescent delivery at Hai Phong Obstetrics and Gynecology Hospital 
in 2015 was 2.75%. 14,5% were born prematurely, 13.7% were underweight and 2,6% had Apgar 
scores ≤ 7 points at first minute. The prevalence of preterm, low birth weight and early Apgar scores 
in the 17-19 age group was lower than that of the under 17 age group. The average birth weight 
of infants of aldolescent mothers was 2880.29 ± 575gr, the highest was 4100g and the lowest was 
500gr. Prevalence of preeclampsia was 2.3%, eclampsia was 0.2%, and anemia was 14%. 1 mother 
had HIV-positive, 13 mothers had HBV infection, 2 mothers infected HPV and 2 mothers had mental 
and intellectual disorders. No cases of postpartum hemorrhage or genital trauma. 
Conclusion: It is important to review the sex education program for adolescents ages so that they 
can provide the necessary knowledge about gender and safe sexuality. There should be a closer 
association between family - school - society to pay more attention to the aldolescent women.
Keywords: adolescent childbirth.
1. Đặt vấn đề
Mỗi ngày trên thế giới có khoảng 20000 trẻ gái 
ở các nước đang phát triển sinh con trước 18 tuổi. 
Ở Việt Nam, cứ 1000 vị thành niên thì có đến 46 
người đã sinh con. Việc mang thai ở tuổi vị thành 
niên (VTN) có thể để lại những hậu quả tức thời 
hoặc kéo dài đối với các bà mẹ trẻ và con mình. Tỷ 
lệ thai nghén nguy cơ cao, mắc các bệnh lây truyền 
qua đường tình dụcở lứa tuổi này cũng cao hơn 
so với những bà mẹ lớn tuổi hơn. Những đứa trẻ 
sinh ra từ mẹ VTN có tỷ lệ chết trước 1 tuổi, nhẹ 
cân, suy dinh dưỡng, bệnh tật cũng cao hơn nhiều 
so với con của các mẹ ở độ tuổi trưởng thành. Mục 
tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả cuộc đẻ, tai biến 
của mẹ và thai nhi trong và sau đẻ ở các sản phụ 
vị thành niên từ 1/1/2015 đến 31/12/2015 tại 
Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng.
2. Đối tượng và phương pháp
2.1. Đối tượng
Các sản phụ từ 19 tuổi trở xuống đến sinh 
tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng (BVPSHP) từ 
1/1/2015 đến 31/12/2015.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
− Tuổi (tính đến ngày nhập viện): từ 19 trở xuống.
− Tuần thai từ 22 tuần trở lên.
− Đẻ đơn thai.
− Đến sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ 
1/1/2013 đến 31/12/2013.
− Có hồ sơ bệnh án sản khoa lưu trữ tại Bệnh viện.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
− Tuổi (tính đến ngày nhập viện): từ 19 trở lên.
− Đẻ đa thai.
− Đã đẻ ở tuyến trước và được chuyển về bệnh 
viện phụ sản.
− Tuổi thai dưới 22 tuần.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Mô tả, hồi cứu.
- Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện, không xác 
suất. Có N = 468 sản phụ đến sinh tại BVPSHP từ 
1/1/2013 đến 31/12/2013 đáp ứng đầy đủ các 
tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.
2.4. Xử lý số liệu
Phương pháp thống kê y học, phần mềm SPSS 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 107 - 111, 2017
109
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
16.0, thuật toán χ2, Fisher để so sánh 2 tỷ lệ 
theo bảng. Tính RR và 95% CI của RR giữa các biến 
độc lập hay phụ thuộc.
3. Kết quả nghiên cứu
Nhận xét: Trong tổng số 16992 trường hợp vào 
đẻ tại BVPSHP từ 1/1/2013 - 31/12/2013, có 468 
trường hợp sản phụ tuổi từ 19 trở xuống, chiếm 2,75%.
Nhận xét:
- Các sản phụ có độ tuổi từ 13 - 19, trung bình 
là 18,21 ± 1,03. 
- Tỷ lệ các sản phụ giảm dần theo lứa tuổi: nhóm 
19 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (52,4%), tiếp đến là 
nhóm 18 tuổi (25,4%), nhóm 17 tuổi (15,2%). 
Nhóm từ 16 tuổi trở xuống chỉ chiếm 7%.
Nhận xét: Tỷ lệ đẻ non, con nhẹ cân và ngạt 
của nhóm sản phụ < 17 tuổi cao hơn so với nhóm 
17 - 19 tuổi lần lượt 1,3; 1,8 và 4,7 lần.
Biểu đồ 1. Tỷ lệ đẻ ở sản phụ vị thành niên
97,25%
2,75%
> 19 tuổi
10 - 19 tuổi
Biểu đồ 2. Tỷ lệ sản phụ phân bố theo nhóm tuổi VTN
0,40% 6,60%
92,90%
0.00%
10.00%
20.00%
30.00%
40.00%
50.00%
60.00%
70.00%
80.00%
90.00%
100.00%
10 - 13 tuổi 14 - 16 tuổi 17 - 19 tuổi
Tình trạng con lúc đẻ < 17 tuổi (%)(n=33) 17-19 tuổi (n=435) RR 95% CI
Tuần thai
< 37 tuần 18,2 14,3
1,3 0,5 – 3,3
≥ 37 tuần 8,8 85,7
Cân nặng
< 2500g 21,2 13,1
1,8 0,7 – 4,3
≥ 2500g 78,8 86,9
Apgar phút 
đầu
≤ 7 điểm 9,1 2,1
4,7 1,2– 18,4
> 7 điểm 90,9 97,9
Bảng 1. So sánh về tỷ lệ đẻ non, con nhẹ cân và ngạt giữa các nhóm tuổi vị thành niên
Tuổi thai Số lượng Tỷ lệ %
< 37 tuần 68 14,5
≥ 37 tuần 400 85,5
Tổng cộng 468 100
Bảng 2. Tỷ lệ đẻ non của sản phụ VTN 
Nhận xét: Trong số 468 sơ sinh được sinh ra 
từ những bà mẹ VTN, có 14,5% số trẻ được đẻ ra 
trước 37 tuần. 85,5% còn lại được sinh ra sau ít 
nhất là 37 tuần.
Nhận xét: 
- 86,3% trẻ có cân nặng từ 2500g trở lên và 
13,7% số trẻ nặng dưới 2500g.
- Cân nặng trung bình 2880,29 ± 575g. Con 
bé nhất nặng 500g, lớn nhất 4100g, 13 trẻ (2,7%) 
chậm phát triển trong tử cung, 59 trường hợp 
(12,6%) là thai to.
Nhận xét: 
- 98,7% trẻ có Apgar phút đầu ≥ 7 điểm, 2% có 
Apgar < 7 điểm.
- 12 ca nhiễm khuẩn sơ sinh (2,5%), 55 ca vàng 
da (11,4%), 2 ca gãy xương đòn, 34 ca (7,1%) sau 
đẻ phải chuyển Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng, có 4 
trẻ chết ngay sau sinh được 10 phút, trong đó có 3 
nhi chậm phát triển trong tử cung.
Nhận xét: 14% sản phụ VTN bị thiếu máu. 01 
trường hợp (0,2%) đến viện trong tình trạng bị 
hôn mê do sản giật. 01 ca duy nhất (0,2%) HIV 
dương tính. 3% nhiễm HBV trong đó có 10 ca 
có HBeAg (+). 0,4% bị sùi mào gà. 01 sản phụ 
VTN bị thiểu năng trí tuệ, 1 sản phụ bị rối loạn 
tâm thần.
Cân nặng sơ sinh Số lượng Tỷ lệ %
< 2500g 64 13,7
2500 - 2999g 154 32,9
3000 - 3499g 59 12,6
≥ 3500g 59 12,6
Tổng cộng 468 100
Bảng 3. Phân bố sơ sinh theo nhóm cân nặng
Apgar phút thứ 1 Số ca (N) Tỷ lệ %
≤ 7 điểm 12 2,6
> 7 điểm 456 97,4
Tổng cộng 468 100
Bảng 4. Tỷ lệ Apgar phút thứ 1 của nhi sinh ra từ các bà mẹ vị thành niên
Biểu đồ 3. Tỷ lệ bệnh lý ở mẹ vị thành niên
14
2
0,2
0,2
3
0,4
0 2 4 6 8 10 12 14
phần trăm
Thiếu máu
Tiền sản giật
Sản giật
Nhiễm HIV
Nhiễm HBV
Sùi mào gà
Nhận xét: Tỷ lệ biến chứng sau đẻ của sản 
phụ VTN rất thấp, chỉ 1,1% bị nhiễm khuẩn hậu 
sản, không có trường hợp nào chảy máu hay 
chấn thương đường sinh dục.
4. Bàn luận
Trong tổng số 16992 trường hợp vào đẻ tại 
BVPSHP từ 1/1/2015 đến 31/12/2015, có 468 
trường hợp tuổi từ 19 trở xuống (2,75%), cao hơn 
so với nghiên cứu của Nguyễn Vân Anh là 0,92% 
[1]. Liệu có phải tỷ lệ sinh đẻ tuổi VTN tại Việt 
Nam đang tăng lên? Theo báo cáo Dân số thế giới 
của Ủy ban Dân số Liên hợp Quốc, tỷ lệ sinh ở lứa 
tuổi 15-19 cao nhất ở các nước đang phát triển ở 
châu Phi, vùng Đông Nam Á, thấp nhất thuộc về 
các nước phát triển. Qua đó, ta có thể thấy tỷ lệ đẻ 
tuổi VTN khác nhau rất nhiều giữa các quốc gia, 
các chủng tộc, các miền địa lý trên thế giới tùy theo 
phong tục, tập quán, sự phát triển kinh tế, trình độ 
dân trí, và hệ thống quản lý thai nghén - chăm sóc 
sức khỏe sinh sản. Tuổi trung bình của các sản phụ 
là 18,21 ± 1,03, cao hơn nghiên cứu của Nguyễn 
Vân Anh là 17,75 ± 0,9. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi, 2 sản phụ trẻ nhất 13 tuổi. Liệu có phải 
tuổi sinh đẻ của các bà mẹ VTN ngày càng thấp?
Qua bảng 1, ta có thể thấy, con của nhóm sản 
phụ < 17 tuổi có tỷ lệ non tháng, nhẹ cân lần lượt 
cao hơn 1,3 lần và 1,8 lần so với nhóm 17 - 19 
tuổi, do đó tỷ lệ con bị ngạt sau sinh của nhóm này 
cũng tăng gấp 4,7 lần so với nhóm VTN muộn. 
Nguyên nhân có thể giải thích do sự phát triển kém 
hoàn thiện hơn so với lứa tuổi 17 - 19: sự mang 
thai trong vòng 2 năm đầu kể từ khi bắt đầu có 
kinh nguyệt là một tình trạng trong đó dinh dưỡng 
của thai phải san sẻ cho sự phát triển của cơ thể 
mẹ. Ngoài ra, sự phát triển chưa chín muồi của tử 
cung hoặc sự cung cấp máu chưa hoàn thiện của 
cổ tử cung làm người mẹ dễ bị nhiễm khuẩn, làm 
tăng sự sản xuất Prostaglandin và đẻ non, con nhẹ 
cân là những hậu quả tất yếu [2].
ĐỖ THU THỦY, NGUYỄN HOÀNG TRANG, ĐÀO THIÊN HƯƠNG, TRẦN TÚ ANH
110
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Tình trạng mẹ sau đẻ Số lượng Tỷ lệ %
Bình thường 463 98,9
Chảy máu 0 0
Chấn thương đường sinh dục 0 0
Nhiễm khuẩn hậu sản 5 1,1
Tổng cộng 468 100
Bảng 5. Tỷ lệ biến chứng sau đẻ của sản phụ vị thành niên Phân tích bảng 3, ta thấy 86,3% các trẻ sinh ra 
từ mẹ VTN có cân nặng từ 2500g trở lên và 13,7% 
số trẻ nặng dưới 2500g. So sánh với nghiên cứu 
của Nguyễn Vân Anh, tỷ lệ con nhẹ cân của nhóm 
sản phụ ≤ 19 tuổi theo nghiên cứu của chúng tôi đã 
giảm xuống có ý nghĩa so với tỷ lệ con nhẹ cân của 
nhóm này (18,2%). Tuy nhiên cân nặng trung bình 
của nhi theo nghiên cứu của chúng tôi (2880,29 
± 575g) lại thấp hơn so với con của cùng nhóm ≤ 
19 tuổi (2896,6 ± 518,3g) và đương nhiên là thấp 
hơn có ý nghĩa so với nhóm > 19 tuổi (3105,3 ± 
494,3g) với p = 0,009. Như vậy, mặc dù con của 
sản phụ VTN ngày nay có tỷ lệ nhẹ cân giảm so 
với trước nhưng vẫn có nguy cơ nhẹ cân hơn so 
với nhóm sản phụ lớn tuổi hơn. Nguyên nhân của 
hiện tượng này là do sự mang thai đã làm tăng 
nhu cầu dinh dưỡng đối với cơ thể và đòi hỏi thai 
phụ phải cố gắng thích nghi với tình trạng mang 
thai của mình. Trong khi ở tuổi VTN, các em đang 
trong giai đoạn phát triển mạnh về thể chất để 
hoàn chỉnh phát triển cơ thể, vì vậy cần rất nhiều 
năng lượng cũng như các chất dinh dưỡng để đảm 
bảo cho sự phát triển về thể chất. Khi mang thai 
hoặc nuôi con nhỏ, lượng dinh dưỡng và các chất 
cần thiết này sẽ bị chia làm hai, làm cho người mẹ 
không phát triển đầy đủ sẽ trở thành nhỏ thấp, 
gầy gò, suy dinh dưỡng, thiếu máu so với các nữ 
VTN cùng lứa tuổi. Các chất dinh dưỡng cung cấp 
cho thai nhi không đủ, vì thế sẽ có nhiều khó khăn 
trong việc nuôi dưỡng thai nhi phát triển trong cơ 
thể mẹ, trong chuyển dạ và trong sinh nở.
Trong số 468 sơ sinh được sinh ra từ những bà mẹ 
VTN, 14,5% số trẻ đẻ ra non tháng, giảm nhiều so 
với những năm trước (Nguyễn Vân Anh 2009-2011 
là 30,28%). Điều này có thể do tuổi dậy thì ở nữ càng 
ngày càng giảm xuống, điều kiện dinh dưỡng tốt hơn 
tạo điều kiện cho cơ thể phát triển tốt hơn, các sản 
phụ nói chung được quan tâm nhiều hơn sự quan tâm 
chăm sóc từ gia đình. Tuy nhiên, tỷ lệ đẻ non ở nhóm 
tuổi <17 vẫn cao hơn 1,3 lần so với nhóm ≥17 tuổi 
cho thấy nhóm tuổi VTN dù có phát triển khỏe mạnh, 
đủ khả năng làm mẹ nhưng vẫn chưa chuẩn bị tâm 
lý cho trách nhiệm này. Tỷ lệ trẻ có Apgar ≤7 điểm 
chỉ chiếm 2,6%, thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu 
của Nguyễn Vân Anh là 9,9% (p <0,001) khiến cho 
tỷ lệ tử vong nhi ngay sau đẻ ở nhóm sản phụ VTN 
năm 2012 từ 2% giảm xuống còn 0,9% năm 2015 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 107 - 111, 2017
111
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
và các trẻ này tử vong đều do đa dị tật hoặc con quá 
non yếu (<24 tuần). Đạt được thành quả như vậy là 
nhờ vào sự quan tâm chăm sóc chu đáo hơn bắt đầu 
từ đầu thai kỳ, sự theo dõi sát sao của nhân viên y tế 
trong suốt quá trình chuyển dạ và sự tiến bộ của khoa 
học kỹ thuật hiện đại, trong đó có kỹ thuật hồi sức, 
chăm sóc sơ sinh sau đẻ.
Trong số 468 sản phụ VTN, có 10 người bị tiền 
sản giật, không khác biệt nhiều so với tỷ lệ sản phụ 
VTN bị tiền sản giật ở nhóm ≤19 tuổi (2,5%) và nhóm 
>19 tuổi (3,2%) năm 2012 của Nguyễn Vân Anh (p 
= 0,615 & 0,191). Đáng chú ý là xuất hiện 1 ca sản 
phụ nhập viện vì hôn mê tiền sản giật. Điều này chứng 
tỏ, mặc dù sản phụ có quan tâm đến thai kỳ của mình 
hơn nhưng vẫn chưa có đủ những kiến thức, hiểu biết 
nên có khác về tình trạng bệnh lý khi thai nghén, 
không theo dõi và để xảy ra biến chứng nặng cho 
mẹ là sản giật, biến chứng cho con là thiếu tháng (33 
tuần) và nhẹ cân (2000g). Rất may là cả mẹ và con 
sau đẻ đều ổn định. Tỷ lệ sản phụ VTN thiếu máu (Hb 
<10g/dl) chỉ chiếm 14%, giảm gần một nửa so với tỷ 
lệ sản phụ cùng nhóm năm 2009 (26,4%) nhưng vẫn 
cao hơn tỷ lệ sản phụ > 19 tuổi (10,2%) trong nghiên 
cứu của Nguyễn Mai Thơ. Như vậy, mặc dù sản phụ 
VTN hiện nay được chăm sóc tốt hơn so với các giai 
đoạn trước nhưng vẫn có nguy cơ thiếu máu cao hơn 
so với sản phụ ngoài VTN. Tình trạng thiếu máu này 
là hậu quả của tình trạng dinh dưỡng “thiếu thốn” 
của các bà mẹ VTN, đặc biệt là những bà mẹ không 
đi khám thai và có thu nhập nhấp. Trong nghiên cứu, 
chúng tôi ghi nhận 1 trường hợp (0,2%) nhiễm HIV 
với 3 xét nghiệm theo 3 phương pháp khác nhau đều 
cho kết quả dương tính; 2 ca sùi mào gà (0,4%). Tình 
trạng nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục 
cũng đang là một vấn đề đáng lo ngại trong công tác 
chăm sóc sức khỏe cho đối tượng VTN do thiếu hiểu 
biết về kiến thức giới tính, dễ quan hệ tình dục ngẫu 
hứng với nhiều bạn tình và không bảo vệ kết hợp với 
cơ thể tuổi VTN thường nhậy cảm về mặt sinh học, dễ 
mắc các bệnh lây truyền tình dục hơn so với phụ nữ 
lớn tuổi [3]. Thêm vào đó, do không được điều trị can 
thiệp dự phòng từ sớm, những bà mẹ VTN có nguy cơ 
truyền HIV, HBV cho con cao hơn rất nhiều lần so với 
nhóm đối tượng khác. Ngoài ra, có 1 sản phụ VTN bị 
thiểu năng trí tuệ, 1 sản phụ bị rối loạn tâm thần. Đây 
là những lý do góp phần làm tăng thêm khả năng bị 
lừa gạt tình dục, lạm dụng tình dục hay cưỡng bức 
tình dục, dẫn đến có thai ngoài ý muốn ở trẻ VTN. 
Liệu số phận và tương lai của những đứa trẻ sinh ra từ 
những bà mẹ như vậy sẽ đi đến đâu trong khi chính 
họ còn chưa chăm sóc nổi bản thân mình? Trong năm 
2015, không ghi nhận trường hợp nào bị chảy máu 
hoặc chấn thương đường sinh dục. So với nghiên cứu 
của Nguyễn Vân Anh 2012 cũng tại BVPSHP là 1,1% 
thì đây là một tín hiệu đáng mừng, cho thấy những 
tiến bộ hơn về kỹ thuật đỡ đẻ, mổ đẻ giúp làm giảm 
sang chấn đường sinh dục cho người phụ nữ. 
5. Kết luận
- Tỷ lệ sản phụ VTN vào đẻ tại BVPSHP năm 
2015 là 2,75%, cao nhất là ở nhóm tuổi 19 (52,4%) 
và thấp nhất là nhóm dưới 17 tuổi (7%); 2 ca nhỏ 
tuổi nhất là 13 (0,4%).
- Tỷ lệ con non tháng, nhẹ cân và có chỉ số 
Apgar phút đầu ở nhóm 17 - 19 tuổi thấp hơn so 
với nhóm dưới 17 tuổi.
- 14,5% trẻ đẻ ra non tháng, 13,7% nhẹ cân và 
2,6% có chỉ số Apgar phút đầu ≤ 7 điểm.
- Cân nặng trung bình của trẻ sinh ra từ bà mẹ 
VTN là 2880,29 ± 575g, cao nhất là 4100g và 
thấp nhất là 500g.
- Tỷ lệ tiền sản giật chiếm 2,3%, sản giật 0,2%, 
thiếu máu 14%.
- 1 ca HIV dương tính, 13 ca nhiễm HBV, 2 ca 
nhiễm sùi mào gà và 2 ca mắc rối loạn về tâm thần 
và trí tuệ.
- Không có ca nào chảy máu sau đẻ hay chấn 
thương đường sinh dục.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Vân Anh. Nghiên cứu thai nghén tuổi VTN tại BVPSHP từ 2009-
2011. Luận văn tốt nghiệp BSCKII, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng; 2012.
2. Dedecker F, de Bailliencourt T, Barau G. Étude des facteurs de risques 
obstétricaux dans le suivi de 365 grossesses primipares adolescentes à l’île 
de la Réunion. J Gynecol Obstet Biol Reprod. 2005; 34: 944-52.
3. Faucher P, Dappe S, Madelenat P. Maternité à l’adolescence : analyse 
obstétricale et revue de l’influence des facteurs culturels, socio-économiques 
et psychologiques à partir d’une étude rétrospective de 62 dossiers. Gynecol 
Obstet Fertil. 2002; 944-52.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_thuc_trang_sinh_de_tuoi_vi_thanh_nien_tai_benh_vi.pdf