Nghiên cứu tăng glucose máu do stress trong tiên lượng nhồi máu cơ tim cấp không đái tháo đường

Tổng quan: Tăng glucose máu cấp lúc nhập viện xảy ra phổ biến ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp bất kể có đái tháo đường (ĐTĐ) hay không, và được biết đến như là một trong các yếu tố tiên lượng. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng về ảnh hưởng của tăng glucose máu cấp ở bệnh nhân không có ĐTĐ. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi: Là đánh giá xem thử tăng glucose máu lúc nhập viện có làm tăng các nguy cơ biến chứng tim mạch và tử vong trong viện sau NMCT cấp ở bệnh nhân không ĐTĐ hay không. Phương pháp: Là nghiên cứu mô tả cắt ngang, gồm 128 bệnh nhân NMCT cấp nhập viện khoa Cấp cứu Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2017 đến 7/2018. Các bệnh nhân nay được chia thành 3 nhóm glucose theo glucose máu lúc nhập viện (<7,8; 7,8-11,0="" và="" ≥11,1="" mmol/l)="" và="" so="" sánh="" các="" biến="" chứng="" tim="" mạch="" và="" tử="" vong="" xảy="" ra="" trong="" viện="" theo="" các="" nhóm="" glucose="" máu="" nhập="" viện.="" hồi="" qui="" logistic="" được="" sử="" dụng="" để="" đánh="" giá="" sự="" khác="" biệt="" về="" kết="" cục="" lâm="" sàng="" giữa="" các="" nhóm="" glucose="" máu="" nhập="" viện="" sau="" khi="" điều="" chỉnh="" các="" biến="">

pdf 9 trang phuongnguyen 580
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tăng glucose máu do stress trong tiên lượng nhồi máu cơ tim cấp không đái tháo đường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu tăng glucose máu do stress trong tiên lượng nhồi máu cơ tim cấp không đái tháo đường

Nghiên cứu tăng glucose máu do stress trong tiên lượng nhồi máu cơ tim cấp không đái tháo đường
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 38 - Năm 2020 
38 
NGHIÊN CỨU TĂNG GLUCOSE MÁU DO STRESS TRONG TIÊN LƯỢNG 
NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP KHÔNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 
Mai Thiện Nhân1, Hoàng Anh Tiến2, Hồ Anh Bình1 
1. Bệnh viện Trung ương Huế 
2.Trường Đại học Y Dược Huế 
DOI: 10.47122/vjde.2020.38.6 
ABSTRACT 
Stress hyperglycemia and prognosis of acute 
myocardial infarction in nondiabetic 
patients: a cross-sectional study 
Background: Acute hyperglycemia on 
admission is common in acute myocardial 
infarction(AMI)patients regardless of diabetic 
status, and is known as one of prognostic 
factors. However there is limited evidence on 
the effect of acute hyperglycemia on non-
diabetic patients. Our goal is to assess if 
admission hyperglycemia increases the risk 
for in-hospital adverse clinical events and 
mortality after AMI in non-diabetic patients. 
Methods: We perform this cross-sectional 
study involving 128 AMI patients admitted to 
the Cardiovascular Emergency and 
Interventional Department at Hue Central 
Hospital between April 2017 and July 2018. 
We categorize patients according to their 
glucose levels at admission (<7,8; 7,8–11,0 
and ≥11,1 mmol/L) and compare 
in-hospitaladverse clinical events 
andmortality across these admission glucose 
categories. We employ logistic regression to 
assess the differences in outcomes across 
admission glucose levels while adjusting for 
the same covariates. Results: As compared to 
patients with admission glucose <7,8 mmol/L 
(70,3%), patients with admission glucose 7,8-
11,0 mmol/L (23,4%, odds ratio OR = 2,09; 
95%confidence interval CI [0,65-6,77]) and 
>11,1 mmol/L (6,3%, OR = 7,56; 95% CI 
[1,29-44,28]) are at elevated in-hospital 
adverse clinical events after adjustment for 
patients’ demographic characteristics and 
clinical status. Among non-diabetic patients 
with admission glucose 7,8-11,0 mmol/L (OR 
= 1,46; 95% CI [0,34-6,37]) and >11,1 
mmol/L (OR = 7,82; 95%CI [1,39-43,90]) 
remain elevated risk for adjusted in-hospital 
mortality.In the multivariate analysis,an 
increment of 1 mmol/L in blood glucose on 
admission is associated with an increase in in-
hospital adverse clinical events andmortality 
risk of 41% and 26%, respectively. 
Conclusions: These findings underscore 
clinical significance of admission 
hyperglycemia on in-hospital adverse 
clinical eventsand mortality in non-diabetic 
AMI patients. 
Key words: Acute Myocardial Infarction; 
Admission glucose;Non-diabetic; Adverse 
clinical events;Mortality. 
TÓM TẮT 
Tổng quan: Tăng glucose máu cấp lúc 
nhập viện xảy ra phổ biến ở bệnh nhân nhồi 
máu cơ tim (NMCT) cấp bất kể có đái tháo 
đường (ĐTĐ) hay không, và được biết đến 
như là một trong các yếu tố tiên lượng. Tuy 
nhiên, có rất ít bằng chứng về ảnh hưởng của 
tăng glucose máu cấp ở bệnh nhân không có 
ĐTĐ. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi: 
Là đánh giá xem thử tăng glucose máu lúc 
nhập viện có làm tăng các nguy cơ biến 
chứng tim mạch và tử vong trong viện sau 
NMCT cấp ở bệnh nhân không ĐTĐ hay 
không. Phương pháp: Là nghiên cứu mô tả 
cắt ngang, gồm 128 bệnh nhân NMCT cấp 
nhập viện khoa Cấp cứu Tim mạch Can thiệp, 
Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2017 
đến 7/2018. Các bệnh nhân nay được chia 
thành 3 nhóm glucose theo glucose máu lúc 
nhập viện (<7,8; 7,8-11,0 và ≥11,1 mmol/L) 
và so sánh các biến chứng tim mạch và tử 
vong xảy ra trong viện theo các nhóm glucose 
máu nhập viện. Hồi qui logistic được sử dụng 
để đánh giá sự khác biệt về kết cục lâm sàng 
giữa các nhóm glucose máu nhập viện sau khi 
điều chỉnh các biến nhiễu. Kết quả: Khi so 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 38 - Năm 2020. 
39 
sánh với nhóm bệnh nhân có glucose nhập 
viện <7,8 mmol/L (70,3%), những bệnh nhân 
có glucose 7,8-11,0 mmol/L (23,4%, tỉ số 
odds OR = 2,09; độ tin cậy 95% CI[0,65-
6,77]) và >11,1 mmol/L (6,3%, OR = 7,56; 
95% CI [1,29-44,28]) tăng tỉ lệ các biến 
chứng tim mạch trong viện sau khi điều chỉnh 
với các yếu tố lâm sàng và nhân khẩu học của 
bệnh nhân. Những bệnh nhân không ĐTĐ với 
glucose máu nhập viện 7,8-11,0 mmol/L 
(OR= 1,46; 95% CI[0,34-6,37]) và >11,1 
mmol/L (OR= 7,82; 95%CI [1,39-43,90]) 
cũng tăng nguy cơ tử vong trong viện. Trong 
phân tích đa biến, cứ tăng 1 mmol/L glucose 
nhập viện liên quan đến tăng tỉ lệ các biến 
chứng tim mạch và tử vong trong viện lần 
lượt là 41% và 26%. Kết luận: Những kết quả 
này nhấn mạnh ý nghĩa lâm sàng của tăng 
glucose máu lúc nhập viện đối với các biến 
chứng tim mạch và tử vong trong viện ở bệnh 
nhân NMCT cấp không ĐTĐ. 
Từ khóa: Nhồi máu cơ tim cấp; Glucose 
máu nhập viện; Không đái tháo đường; Các 
biến chứng tim mạch; Tử vong. 
Chịu trách nhiệm chính: Hồ Anh Bình 
Ngày nhận bài: 11/01/2020 
Ngày phản biện khoa học:12/01/2020 
Ngày duyệt bài: 27/02/2020 
Email: [email protected] 
ĐT: 0913489896 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Nhồi máu cơ tim là một bệnh lý cấp cứu 
nội khoa thường gặp, có nhiều biến chứng 
nguy hiểm và có tỉ lệ tử vong cao nếu không 
được phát hiện và xử trí kịp thời. 
Tăng glucose máu lúc mới nhập viện là 
một biểu hiện thường gặp trong hội chứng 
vành cấp và nó liên quan đến một kết cục 
xấu ở cả bệnh nhân có đái đường và không 
đái đường [12]. 
Bất kể giá trị của điểm cắt là bao nhiêu 
thì tăng glucose máu do stress thường hay 
được định nghĩa là tình trạng tăng glucose 
máu tự mất đi sau khi hết tình trạng cấp tính 
của bệnh [6]. Do đó chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu này với mục tiêu tìm hiểu mối 
liên quan của nồng độ glucose máu lúc nhập 
viện với các biến cố tim mạch xảy ra trong 
thời gian nằm viện. 
2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Đối tượng nghiên cứu được chọn ra liên 
tiếp từ các bệnh nhân được chẩn đoán NMCT 
cấp nhập viện tại khoa Cấp cứu tim mạch can 
thiệp, Bệnh viện Trung ương Huế trong thời 
gian 4/2017-7/2018. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh: 
- Bệnh nhân được chẩn đoán NMCT cấp 
dựa theo định nghĩa NMCT toàn cầu lần thứ 
tư [11]. 
- Bệnh nhân nhập viện tại khoa trong vòng 
≤48 giờ kể từ khi có triệu chứng. 
- Glucose máu nhập viện được xét nghiệm 
trong vòng 24 giờ kể từ lúc vào viện. 
Tiêu chuẩn loại trừ: 
- Có ĐTĐ: 
+ Được chẩn đoán ĐTĐ trong quá khứ. 
+ ĐTĐ mới được chẩn đoán trong khi nằm 
viện (dựa vào glucose máu đói hoặcHbA1C 
theo tiêu chuẩn của ADA 2018 [3]). 
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu. 
-Trước đó dùng các thuốc làm tăng glucose 
máu. 
2.2. Thiết kế nghiên cứu: 
Mô tả cắt ngang 
Chỉ tiêu lâm sàng 
Các chỉ tiêu lâm sàng được phân tích dựa 
vào glucose máu lúc nhập viện gồm: 
- Các biến chứng tim mạch trong viện: 
shock tim, suy tim sung huyết, loạn nhịp và 
ngừng tim. 
- Tử vong trong bệnh viện: gồm có trường 
hợp tử vong thật sự trong khi nằm viện và 
trường hợp bệnh nhân nặng, tiên lượng tử 
vong gần, được người nhà bệnh nhân xin về 
vì từ chối điều trị. 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 38 - Năm 2020 
40 
Hình 1.Sơ đồ chọn bệnh nhân 
2.3. Xử lý số liệu: 
- Sử dụng tỉ lệ phần trăm và số lượng để 
mô tả các biến phân loại. Sử dụng thích hợp 
trung vị và độ trải giữa (IQR) (có phân phối 
không chuẩn) hay trung bình và độ lệch chuẩn 
(có phân phối chuẩn) để mô tả các biến liên 
tục. 
- Sử dụng test Chi bình phương (cho các tỉ 
lệ) hoặc test Kruskall-Wallis/Mann Whitney 
U (cho các giá trị trung vị) để đánh giá sự 
khác biệt về mặt thống kê giữa các nhóm 
glucose máu. 
- Hồi qui logistic đa biến được sử dụng để 
đánh giá xem mối liên quan giữa glucose máu 
nhập viện và tỉ lệ tử vong/các biến chứng của 
NMCT xảy ra trong bệnh viện. 
- Phân tích hồi qui Cox đa biến để đánh 
giá xem mối liên quan giữa glucose máu nhập 
viện và tỉ lệ tử vong trong bệnh viện theo thời 
gian. 
- Các kết quả của các mô hình phân tích 
thống kê được thể hiện bằng tỉ số odds (OR), 
tỉ số rủi ro (HR), khoảng tin cậy 95% (95% 
CI). Tất cả các so sánh có kèm theo giá trị p, 
với p <0,05 được xem là sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê. 
- Tất cả các phân tích thống kê được thực 
hiện bằng phần mềm SPSS (Statistical 
Package for Social Science) cho hệ điều hành 
Windows, phiên bản 23.0. 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 38 - Năm 2020. 
41 
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 
3.1. Phân bố nồng độ glucose máu nhập viện 
Hình 2. Phân bố nồng độ glucose máu lúc nhập viện 
Bảng 1. Các nhóm glucose máu lúc nhập viện 
Glucose máu nhập viện (mmol/L) Số bệnh nhân (n) Phần trăm (%) 
<7,8 90 70,3 
7,8-11,0 30 23,4 
≥11,1 8 6,3 
Tổng 128 100,0 
Giá trị trung vị glucose máu lúc nhập viện là 6,6 (IQR 5,5-8,0) mmol/L. Trung vị giá trị 
glucose của các bệnh nhân trong mẫu nghiên của chúng tôi cũng gần tương tự nghiên cứu của 
nhóm tác giả Shi Zhao và cộng sự năm 2017 trên 8258 bệnh nhân không có tiền sử ĐTĐ tại các 
bệnh viện ở Trung Quốc cho kết quả là 6,4 (IQR 5,3–8,0) mmol/L [11]. Đa số bệnh nhân tập 
trung ở nhóm có glucose máu lúc nhập viện <7,8 mmol/L (chiếm 70,3%). Nhóm có glucose máu 
vừa và cao (≥7,8 mmol/L) chiếm 29,7%. 
3.2. Đặc điểm các biến cố tim mạch trong viện 
Hình 3. Biến chứng tim mạch và tử vong trong viện giữa các nhóm glucose nhập viện 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 38 - Năm 2020 
42 
Tỉ lệ tử vong chiếm 14,1% tổng số bệnh 
nhân. Và nhóm có glucose máu cao có tỉ lệ 
phần trăm cao hơn nhiều so với hai nhóm kia. 
Kết quả nghiên cứu về mối liên quan giữa 
glucose máu nhập viện và tỉ lệ tử vong trong 
viện gần như tương tự các kết quả của các 
nghiên cứu khác ở nhiều nhóm bệnh nhân thuộc 
các chủng tộc khác nhau. Nghiên cứu của 
Nguyễn Văn Tân năm 2015 cho thấy tỉ lệ tử 
vong trong thời gian nằm viện bao gồm các 
trường hợp tử vong và bệnh nặng xin về là 12% 
[2]. Có 28,1% bệnh nhân có ít nhất một biến 
chứng tim mạch xảy ra trong viện. Tương tự tỉ 
lệ tử vong, nhóm có nồng độ glucose máu càng 
cao thì tỉ lệ xảy ra biến chứng càng nhiều. 
Nghiên cứu của Pei-Chi Chen cho thấy tỉ lệ các 
biến cố xảy ra trong viện ở nhóm có glucose 
máu ≥13,89 mmol/L là 48,7% [4]. 
Bảng 2. Đặc điểm biến chứng tim mạch trong viện theo nhóm glucose nhập viện 
Đặc điểm 
Chung 
(n=128) 
Glucose nhập viện (mmol/L) 
p <7,8 
(n=90) 
7,8-11,0 
(n=30) 
≥11,1 
(n=8) 
Suy tim 
sung huyết 
n 15 7 6 2 
>0,05 
% 11,7 7,8 20,0 25,0 
Sốc tim 
n 17 9 6 2 
>0,05 
% 13,3 10,0 20,0 25,0 
Loạn nhịp 
n 10 7 2 1 
>0,05 
% 7,8 7,8 6,7 12,5 
Ngừng tim 
n 14 8 3 3 
<0,05 
% 10,9 8,9 10,0 37,5 
Suy tim sung huyết trong thời gian nằm 
viện chiếm 11,7% số bệnh nhân. Nhóm có 
glucose máu cao và vừa (45,0%) có tỉ lệ suy 
tim sung huyết cao hơn nhóm còn lại (6,7%). 
Quan sát của chúng tôi tương tự kết quả của 
các nghiên cứu khác. 
Nguyễn Văn Chi (2011) nghiên cứu cho 
thấy nhóm bệnh nhân có glucose máu cao 
≥11,1 mmol/L có tỉ lệ bệnh nhân suy tim sung 
huyết là 57,0% [1]. 
Sốc tim chiếm 13,3% bệnh nhân. Tương 
tự, nhóm có glucose máu cao và vừa có tỉ lệ 
này cao hơn nhóm còn lại. Nhóm có glucose 
máu ≥11,1 mmol/L chiếm tỉ lệ 25%. Các 
nghiên cứu sau cũng cho kết quả tương tự như 
Nguyễn Văn Chi (2011), nhóm bệnh nhân có 
glucose máu cao ≥11,1 mmol/L có tỉ lệ bệnh 
nhân sốc tim là 24,7% [1]. 
Có 10,9% bệnh nhân ngừng tim trong thời 
gian nằm viện. Nhóm có glucose máu cao 
(≥11,1 mmol/L) có tỉ lệ bệnh nhân ngừng tim 
cao hơn khoảng 4 lần so với hai nhóm còn lại. 
Nghiên cứu của Ahmet E. (2013), tỉ lệ bệnh 
nhân có rung thất/nhanh thất ở nhóm có 
glucose máu cao là 18,1% trong khi nhóm 
glucose máu thấp chỉ là 3% [7]. 
3.3. Liên quan giữa glucose máu nhập viện và các biến chứng tim mạch trong bệnh viện 
Bảng 3. Các biến chứng trong viện theo các nhóm glucose nhập viện 
Glucose 
nhập viện 
(mmol/L) 
Biến chứng 
trong viện 
Trước điều chỉnh Sau điều chỉnh 
n % OR 95% CI p OR 95% CI p 
<7,8 20 22,2 1 - - 1 - - 
7,8-11,0 11 36,7 2,03 0,83-4,95 >0,05 2,09 0,65-6,77 >0,05 
≥11,1 5 62,5 5,83 1,28-26,54 <0,05 7,56 1,29-44,28 <0,05 
Chung 36 28,1 1,35 1,13-1,62 <0,05 1,41 1,13-1,76 <0,05 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 38 - Năm 2020. 
43 
 Trước điều chỉnh, so với nhóm glucose <7,8 mmol/L, nhóm glucose máu vừa có odds biến 
chứng tim mạch cao hơn 2,03 lần nhưng không có ý nghĩa thống kê. Nhóm glucose máu cao 
có odds biến chứng cao gấp 5,83 lần và khác biệt có ý nghĩa thống kê. Sau điều chỉnh cho tuổi, 
giới, nhịp tim, STEMI/NSTEMI và EF, so với nhóm glucose máu <7,8 mmol/L, nhóm glucose 
máu vừa có odds biến chứng cao hơn 2,09 lần nhưng không có ý nghĩa thống kê. Nhóm glucose 
máu cao có odds biến chứng cao gấp 7,56 lần và có ý nghĩa thống kê. 
Hình 4. Ảnh hưởng của các biến tiên lượng lên biến chứng tim mạch trong viện 
Sau điều chỉnh, glucose máu nhập viện vẫn có mối liên quan với biến chứng tim mạch trong 
viện, độc lập với các biến nhiễu. Cứ tăng mỗi 1 mmol/L glucose làm tăng odds biến chứng 1,41 
lần hay 41% (có ý nghĩa thống kê). 
Hình 5. Xác suất dự đoán biến chứng tim mạch trong viện theo glucose máu nhập viện 
qua mô hình hồi qui logistic 
Mô hình dự đoán xác suất có biến chứng dựa vào glucose nhập viện có hàm số 𝑝(𝑥) =
exp⁡(0,301∗x−3,157)
1+exp⁡(0,301∗𝑥−3,157)
, ta thấy rằng glucose máu lúc nhập viện càng cao thì xác suất xảy ra các biến 
chứng tim mạch càng cao. 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 38 - Năm 2020 
44 
3.4. Liên quan giữa glucose máu nhập viện và tử vong trong bệnh viện 
Bảng 4. Tử vong trong viện theo nhóm glucose nhập viện 
Glucose 
nhập viện 
(mmol/L) 
Tử vong 
trong viện 
Trước điều chỉnh Sau điều chỉnh 
n % OR 95% CI p OR 95% CI p 
<7,8 9 10,0 1 - - 1 - - 
7,8-11,0 5 16,7 1,80 0,55-5,87 >0,05 1,46 0,34-6,37 >0,05 
≥11,1 4 50,0 9,00 1,92-42,30 <0,05 7,82 1,39-43,90 <0,05 
Chung 18 14,1 1,31 1,08-1,59 <0,05 1,26 1,01-1,57 <0,05 
Trước điều chỉnh, glucose máu nhập viện 
tăng 1 mmol/L thì odds tử vong tăng lên 31% 
(có ý nghĩa thống kê). So với nhóm glucose 
máu <7,8 mmol/L, nhóm glucose máu vừa có 
odds tử vong cao hơn 1,8 lần nhưng không có ý 
nghĩa thống kê; nhóm glucose máu cao có odds 
tử vong cao gấp 9,0 lần và khác biệt có ý nghĩa 
thống kê. Sau điều chỉnh cho tuổi, giới tính, 
phân độ Killip, sốc tim thì các tỉ số odds của 
glucose máu với biến cố tử vong giảm so với 
trước. So với nhóm có glucose máu <7,8 
mmol/L, nhóm có glucose máu vừa có odds 
tử vong giảm còn 1,46 nhưng không có ý 
nghĩa thống kê; nhóm glucose máu cao có 
odds tử vong giảm còn 7,82 và có ý nghĩa 
thống kê. Biến liên tục glucose máu vẫn có 
mối liên quan với tử vong trong viện, độc lập 
với các biến nhiễu. Cứ tăng mỗi 1 mmol/L 
glucose làm tăng odds tử vong 26% (có ý 
nghĩa thống kê). 
Theo Li Dong-bao (2011), trong các phân 
tích hồi quy logistic, các yếu tố tiên lượng 
độc lập liên quan đến tử vong nội viện ở bệnh 
nhân NMCT cấp là tuổi, glucose máu nhập 
viện, độ Killip, nhịp tim và loạn nhịp [5]. Với 
Mikhail K.(2005), sự khác biệt của nguy cơ 
tử vong liên quan đến glucose máu giữa 
những bệnh nhân có hoặc không có ĐTĐ vẫn 
còn khi các phân tích này được thực hiện với 
biến glucose máu nhập viện là biến liên tục 
(với mỗi 10 mg/dL tăng của glucose máu) 
[9]. Theo Masaharu Ishihara (2012), cứ tăng 
1 mmol/L glucose máu nhập viện là tăng tỉ lệ 
tử vong trong viện lên 12% trong phân tích 
đơn biến và 10% trong phân tích đa biến [8]. 
Do nghiên cứu của chúng tôi có cỡ mẫu hạn 
chế nên kết quả chưa có giá trị thống kê ở 
nhóm có glucose máu vừa, hơn nữa việc điều 
chỉnh các biến nhiễu chưa thực sự tốt một 
phần cũng do hạn chế về cỡ mẫu. 
Hình 6. Đường cong ROC của glucose nhập viện với tử vong trong viện 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 38 - Năm 2020. 
45 
Khi đánh giá tỉ lệ tử vong dựa vào nồng độ glucose máu lúc nhập viện ta vẽ được đường 
cong ROC với AUC= 0,69. Giá trị này có ý nghĩa thống kê (95% CI 0,554-0,829; p<0,05). 
Hơn nữa AUC được xem là có ý nghĩa lâm sàng khi ≥0,7 nên giá trị AUC=0,69 của nghiên cứu 
này có thể chấp nhận được. Dựa vào đường cong ROC hoặc chỉ số Youden xác định được 
điểm tốt nhất có độ nhạy 44,4% và độ đặc hiệu 89,1% ứng với điểm cắt của glucose máu lúc 
nhập viện là 9,6 mmol/L trong nghiên cứu của chúng tôi. Trong nghiên cứu của Anna T.K. 
(2012), giá trị điểm cắt tốt nhất của tăng glucose máu do stress ở những bệnh nhân bị NMCT 
cấp được can thiệp để đánh giá tử vong là 11,28 mmol/L. Giá trị này có độ đặc hiệu và độ 
nhạy cao nhất trong tiên lượng xấu cho bệnh nhân [10]. 
Hình 7. Ước tính Kaplan-Meier về thời gian sống còn của ba nhóm glucose máu nhập viện 
 Ước tính Kaplan-Meier mô tả xác suất sống còn theo thời gian nằm viện dựa trên dữ liệu của 
mẫu nghiên cứu. Thời gian từ lúc nằm viện đến khi có biến cố tử vong ở nhóm có glucose máu 
cao (≥11,1 mmol/L) sớm hơn hai nhóm còn lại. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian 
sống còn giữa các nhóm glucose máu (test log-rank có p=0,018). 
Hình 8. Mô hình hồi qui Cox với ảnh hưởng của glucose máu nhập viện lên tử vong 
trong viện đã được điều chỉnh 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 38 - Năm 2020 
46 
Theo mô hình hồi qui Cox, sau khi điều 
chỉnh cho độ tuổi, giới tính, phân độ Killip, 
sốc tim, so với nhóm glucose <7,8 mmol/L, 
nhóm glucose máu cao có tỉ số rủi ro cao gấp 
4,29 lần, có ý nghĩa thống kê. 
4. KẾT LUẬN 
Có liên quan glucose máu nhập viện-biến 
cố tim mạch trong viện. Glucose máu nhập 
viện là yếu tố tiên lượng độc lập các biến cố 
xảy ra trong bệnh viện của bệnh nhân nhồi 
máu cơ tim cấp không đái tháo đường. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nguyễn Văn Chi (2011), Nghiên cứu đặc 
điểm lâm sàng, hóa sinh và điều trị tăng 
đường huyết ở bệnh nhân nhồi máu cơ 
tim cấp, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường 
Đại học Y Hà Nội, Hà Nội. 
2. Nguyễn Văn Tân (2015), Nghiên cứu sự 
khác biệt về lâm sàng, cận lâm sàng và 
điều trị nhồi máu cơ tim cấp ở bệnh nhân 
trên và dưới 65 tuổi, Luận án Tiến sĩ Y 
học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí 
Minh, Hồ Chí Minh. 
3. American Diabetes Association (2018), 
"Classification and Diagnosis of 
Diabetes: Standards of Medical Care in 
Diabetes-2018", Diabetes Care, 
41(Suppl 1), pp. S13-S27. 
4. Chen P. C., Chua S. K., Hung H. F., et 
al. (2014), "Admission hyperglycemia 
predicts poorer short- and long-term 
outcomes after primary percutaneous 
coronary intervention for ST-elevation 
myocardial infarction", J Diabetes 
Investig, 5(1), pp. 80-6. 
5. Dong-bao Li, Qi Hua, Jincheng Guo, et 
al. (2011), "Admission Glucose Level and 
In-hospital Outcomes in Diabetic and 
Non-diabetic Patients with ST-elevation 
Acute Myocardial Infarction", Internal 
Medicine, 50(21), pp. 2471-2475. 
6. Dungan Kathleen M., Braithwaite Susan 
S., Preiser Jean-Charles (2009), "Stress 
hyperglycaemia", The Lancet, 
373(9677), pp. 1798-1807. 
7. Ekmekci A., Uluganyan M., Tufan F., et 
al. (2013), "Impact of admission blood 
glucose levels on prognosis of elderly 
patients with ST elevation myocardial 
infarction treated by primary 
percutaneous coronary intervention", J 
Geriatr Cardiol, 10(4), pp. 310-6. 
8. Ishihara Masaharu (2012), "Acute 
Hyperglycemia in Patients With Acute 
Myocardial Infarction", Circulation 
Journal, 76(3), pp. 563-571. 
9. Kosiborod M., Rathore S. S., Inzucchi S. 
E., et al. (2005), "Admission glucose and 
mortality in elderly patients hospitalized 
with acute myocardial infarction: 
implications for patients with and 
without recognized diabetes", 
Circulation, 111(23), pp. 3078-86. 
10. Tomaszuk Kazberuk A., Kozuch M., 
Malyszko J., et al. (2012), "What level of 
hyperglycaemia on admission indicates a 
poor prognosis in patients with 
myocardial infarction treated 
invasively?", Kardiol Pol, 70(6), pp. 
564-72. 
11. Thygesen K., Alpert J. S., Jaffe A. S., et al. 
(2018), "Fourth universal definition of 
myocardial infarction (2018)", Eur Heart 
J. 
12. Zhao S., Murugiah K., Li N., et al. 
(2017), "Admission Glucose and In-
hospital Mortality after Acute 
Myocardial Infarction in Patients with or 
without Diabetes: A Cross-sectional 
Study", Chin Med J (Engl), 130(7), pp. 
767-775. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tang_glucose_mau_do_stress_trong_tien_luong_nhoi.pdf