Nghiên cứu sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa 2009 - 2014
Mục tiêu: Xác định sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường
hô hấp cấp ở trẻ dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa - năm 2009 - 2014.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả với đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi điều trị nội trú được
chẩn đoán viêm đường hô hấp tại các khoa lâm sàng từ: 1/2009 đến 10/2014.
Kết quả: Nghiên cứu bệnh phẩm từ 43.574 mẫu dịch mũi họng của bệnh nhi viêm đường
hô hấp cấp dưới 6 tuổi, chúng tôi đã phân lập được tổng số 21.769 loại vi khuẩn với tỷ lệ
phân lập là 49,95%. Trong đó tỷ lệ phân lập cao nhất đối với H.influenza, S. pneumoniae và
M. Catarrhalis tương ứng là 13,94%; 7,11%; 1,43%. Xét nghiệm độ nhạy cảm với kháng
sinh cho thấy tất cả các loại vi khuẩn H.influenza, S. pneumoniae và M. catarrhalis đều nhạy
cảm với Fosphomycine. Trong đó S. pneumoniae và M. catarrhalis nhạy cảm với Imipenem,
H. Influenza nhạy cảm với Penicilline và Piperacilline, M. catarrhalis nhạy cảm với
Tobramycine và Ofloxacine. Tất cả H.influenza, S. pneumoniae và M. catarrhalis đều kháng
với Tri/Sulpha, Cloramphenicol, Erythromycine với tỷ lệ cao.
Kết luận: Fosphomycin là kháng sinh lựa chọn tốt cho điều trị nhiễm trùng hô hấp cấp tính,
còn với S.pneumoniae và M.catarrhalis thì Imipenem là lựa chọn tốt. Trong khi đó, tất cả
các kháng sinh SXT, CHL, ERY đều đề kháng với tỷ lệ cao và không nên là lựa chọn cho
điều trị.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa 2009 - 2014
Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 58 Research Paper Study on Sensitivity of Antibiotic of some Bacteria Causes Acute Respiratory Diseases in Children Under 6 years at Thanh Hoa Hospital of Pediatrics from 2009 - 2014 Do Ngoc Hoai* Thanh Hoa Hospital of Pediatrics, Quang Trung 3, Dong Ve, Thanh Hoa City, Thanh Hoa, Vietnnam Received 3 June 2020 Revised 15 June 2020; Accepted 29 June 2020 Abstract Purpose: To determine the antibiotic sensitivity of some bacteria strains causing acute respiratory infections in children under 6 years old at Thanh Hoa Hospital of Pediatrics from 2009 - 2014. Methods: A descriptive research was conducted with children under 6 years old inpatient treatment diagnosed with respiratory infections in clinical departments from Jan 2009 to Oct 2014. Results: From 43.574 nasopharynx swab speciments of the children inpatient under six we isolated total 21.769 types bacteria with isolation rate: 49.95%. In which the highest isolation rate for H. influenza, S. pneumoniae and M. catarrhalis were 13,94%; 7,11%; 1,43% respectively. Antimicrobial susceptibility testing shown all the types of H. influenza, S. pneumoniae and M. catarrhalis are sensitive to Fosphomycine, S. pneumoniae and M. catarrhalis to Imipenem, H. influenza to Azithromycine, S. pneumoniae is sensitive to Penicilline and Piperacilline, M. catarrhalis to Tobramycine and Ofloxacine. All of H. influenza, S. pneumoniae and M. catarrhalis were reported resistance to Trimethoprim Sulfamethoxazole, Chloramphenicol, Erythromycine in high rate. Conclusions: Fosfomycin is an antibiotic that is a good choice for the treatment of acute respiratory infections, while for S.pneumoniae and M.catarrhalis, Imipenem is a good choice. Meanwhile, all antibiotics SXT, CHL, ERY are resistant to a high rate and should not be an option for treatment. Keywords: Acute respiratory diseases, bacteria. * _______ * Corresponding author. E-mail address: [email protected] https://doi.org/10.25073/jprp.v4i3.192 H.N. Anh et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 3 (2020) 35-40 59 Nghiên cứu sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa 2009 - 2014 Đỗ Ngọc Hoài* Bệnh viện Nhi Thanh Hóa, Quang Trung 3, Đông Vệ, Thành phố Thanh Hóa, Thanh Hoá, Việt Nam Nhận ngày 3 tháng 6 năm 2020 Chỉnh sửa ngày 15 tháng 06 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 29 tháng 6 năm 2020 Tóm tắt Mục tiêu: Xác định sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp ở trẻ dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa - năm 2009 - 2014. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả với đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi điều trị nội trú được chẩn đoán viêm đường hô hấp tại các khoa lâm sàng từ: 1/2009 đến 10/2014. Kết quả: Nghiên cứu bệnh phẩm từ 43.574 mẫu dịch mũi họng của bệnh nhi viêm đường hô hấp cấp dưới 6 tuổi, chúng tôi đã phân lập được tổng số 21.769 loại vi khuẩn với tỷ lệ phân lập là 49,95%. Trong đó tỷ lệ phân lập cao nhất đối với H.influenza, S. pneumoniae và M. Catarrhalis tương ứng là 13,94%; 7,11%; 1,43%. Xét nghiệm độ nhạy cảm với kháng sinh cho thấy tất cả các loại vi khuẩn H.influenza, S. pneumoniae và M. catarrhalis đều nhạy cảm với Fosphomycine. Trong đó S. pneumoniae và M. catarrhalis nhạy cảm với Imipenem, H. Influenza nhạy cảm với Penicilline và Piperacilline, M. catarrhalis nhạy cảm với Tobramycine và Ofloxacine. Tất cả H.influenza, S. pneumoniae và M. catarrhalis đều kháng với Tri/Sulpha, Cloramphenicol, Erythromycine với tỷ lệ cao. Kết luận: Fosphomycin là kháng sinh lựa chọn tốt cho điều trị nhiễm trùng hô hấp cấp tính, còn với S.pneumoniae và M.catarrhalis thì Imipenem là lựa chọn tốt. Trong khi đó, tất cả các kháng sinh SXT, CHL, ERY đều đề kháng với tỷ lệ cao và không nên là lựa chọn cho điều trị. Từ khóa: iêm đường hô hấp cấp, vi khuẩn. 1. Đặt vấn đề* Nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) là nhóm bệnh lý rất phổ biến ở trẻ em. Bệnh có tỷ lệ mắc cao, tần suất mắc nhiều lần trong năm và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi. Căn nguyên gây NKHH rất phong phú, có thể do virus (cúm, sởi,...), vi khuẩn (Streptococcus pneumoniae, Haemophilus _______ * Tác giả liên hệ. Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/jprp.v4i3.192 influenzae, Moraxella catarrhalis, Staphylococcus aureus,...) [1, 2]. Đa số NKHH do virus ở trẻ em xảy ra dưới 3 tuổi và khi bội nhiễm vi khuẩn, bệnh trở nên trầm trọng. i khuẩn ( K) là căn nguyên chính gây viêm phổi nặng dẫn đến tử vong ở trẻ em. Các công trình nghiên cứu cho thấy vi khuẩn gây NKHH chủ yếu ở trẻ em là Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae và Moraxella catarrhalis. Các vi khuẩn này thường cư trú ở đường hô hấp trên của trẻ em, khi gặp điều kiện thuận lợi, D.N. Hoai / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 60 chúng trở thành căn nguyên gây bệnh và có khả năng gây thành dịch. Trong vụ dịch, trẻ lành mang vi khuẩn trong cộng đồng cũng là nguồn lây nhiễm quan trọng. Tại các bệnh viện những trẻ thở máy cũng thường xuyên mắc các bệnh viêm phổi do các vi khuẩn trên. Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay, việc phòng bệnh b ng vắc xin còn rất hạn chế. Do đó để giảm tỷ lệ NKHH, đặc biệt là giảm tỷ lệ tử vong do viêm phổi, cần phải phát hiện nguồn lây, chẩn đoán sớm và điều trị b ng kháng sinh phù hợp [3-5]. i khuẩn luôn thay đổi sức đề kháng với kháng sinh, làm hạn chế hiệu quả điều trị. Trong những năm gần đây tính nhạy cảm của S. pneumoniae với penicillin và H. influenzae với Ampicillin ngày càng giảm. Các thế hệ kháng sinh mới ra đời ngày càng nhiều, việc sử dụng kháng sinh không hợp lý càng làm tăng sự đề kháng của vi khuẩn dẫn đến bệnh không khỏi và rất lãng phí. iệc giám sát sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn có khả năng gây NKHH đã trở thành vấn đề cấp thiết. Ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về tỷ lệ mắc S.pneumoniae, H.influenzae ở đường hô hấp của trẻ em dưới 5 tuổi và độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn [4-6]. Tuy nhiên việc theo dõi tỷ lệ phân lập các vi khuẩn cũng như tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn tại tuyến tỉnh còn rất hạn chế, chưa có hệ thống do các khoa vi sinh lâm sàng chưa tiếp cận các trang bị mới và cập nhật chuyên môn. Ngoài ra các cấp lãnh đạo và bác sỹ lâm sàng chưa thực sự quan tâm nhiều đến lĩnh vực này. Trước tình hình đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: Xác định sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp ở trẻ dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa - năm 2009 - 2014. 2Mục tiêu của nghiên cứu: 1- Xác định tỷ lệ phân lập một số vi khuẩn thường gặp gây viêm đường hô hấp cấp ở các trẻ dưới 6 tuổi. 2- Đánh giá tình hình nhạy cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn thường gặp. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn Các trẻ em dưới 6 tuổi điều trị nội trú được chẩn đoán viêm đường hô hấp tại các khoa lâm sàng từ: 1/2009 đến 10/2014. 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ Loại trừ khỏi nghiên cứu đối tượng là các trẻ sơ sinh 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu Phương pháp mô tả, chọn mẫu thuận tiện. 2.2.2. Các bước tiến hành nghiên cứu Bệnh phẩm được lấy từ dịch hầu họng của đường hô hấp, nuôi cấy, phân lập, định danh vi khuẩn, kháng sinh đồ Kirby-Bauer theo thường qui của CLSI và WHO. Các vi khuẩn nghiên cứu là: H. influenza, S.pneumoniae, M.catarrhalis. 2.3. Địa điểm nghiên cứu Khoa Vi sinh - Bệnh viện Nhi Thanh Hóa. 2.4. Xử lý số liệu - Dữ liệu kháng thuốc : WHONET 5.6. - Thống kê Y học: test χ2. 3. Kết quả và bàn luận 3.1. Tỷ lệ các vi khuẩn phân lập được từ đường hô hấp D.N. Hoai / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 61 Qua Bảng 1 chúng ta thấy: tỷ lệ phân lập của H.influenzae cao nhất so với tất cả các chủng vi khuẩn khác với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p< 0.05. Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy tổng số 3 loại vi khuẩn trên là có tỷ lệ phân lập lớn nhất. Điều đó giải thích tại sao mọi nỗ lực kiểm soát nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI) đều tập trung vào 3 căn nguyên này. Kết quả của chúng tôi khác với nghiên cứu của tác giả Trần Đỗ Hùng (2008) [2]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ phân lập H.influenzae/S.pneumoniae của chúng tôi đảo ngược: 13,94/7,11 so với tác giả Trần Đỗ Hùng là: 21,5/41,5 (p< 0,05). Sự khác biệt này có thể do cỡ mẫu của chúng tôi lớn hơn nhiều hơn so với tác giả này (43.574) với 246. Mặt khác, nghiên cứu của tác giả Trần Đỗ Hùng chỉ chọn bệnh nhân viêm phổi [2]. Kết quả phân lập vi khuẩn ở bệnh viện đều phụ thuộc rất nhiều vào tình hình sử dụng kháng sinh trước đó. Điều đó giải thích tại sao tỷ lệ phân lập vi khuẩn ở cộng đồng luôn cao hơn và khác biệt so với bệnh viện [1, 2, 5]. Bảng 1. Tỷ lệ vi khuẩn phân lập được từ đường hô hấp e 3.2. Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được Qua bảng 2 chúng ta thấy r ng: chỉ các kháng sinh FOS, IPM, AZM còn đáp ứng tốt với điều trị viêm đường hô hấp do H.influenzae. Kết quả này tương tự với các nghiên cứu trong và ngoài nước [6-8]. Mặt khác các kháng sinh PEN, AMC, CXM, CHL, ERY, SXT tỷ lệ đề kháng đều ở mức độ nghiêm trọng, mà nguy hiểm là với cả các Cephalosporin thế hệ 3 (C3G). Điều này cũng được ghi nhận ở các tác giả trong và ngoài nước [2, 5, 7, 9]. Nhưng thực tế là các kháng sinh C3G hiện nay vẫn được dùng rộng rãi trong điều trị tại các bệnh viện. Như vậy gia tăng tỷ lệ kháng thuốc với C3G do H.influenzae có nguy cơ mất kiểm soát, đặc biệt ở các cơ sở Y tế không có Lab vi sinh [10]. Bảng 2. Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của H.influenzae TT Loại vi khuẩn Số chủng Phân lập Số mẫu nuôi cấy Tỷ lệ phân lập (%) Tỷ lệ vi khuẩn (%) P 1 H.influenzae 6.075 43.574 13,94 27,9 <0,05 2 S.pneumoniae 3.100 7,11 14,24 3 M.catarrhalis 624 1,43 2,86 4 Tổng số 3 loại K 9.799 22,48 45,01 <0,05 5 Enterobacteriaceae 425 0,97 1,95 6 Các vi khuẩn khác 11.545 26,49 53,03 7 Tất cả các loại K 21.769 49,84 D.N. Hoai / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 62 * (S: nhạy cảm, I: trung gian, R: đề kháng) Bảng 3. Độ nhạy với thuốc kháng sinh của S.pneumoniae Nhóm kháng sinh S I R n 95% CI n % n % n % Fosphomycine (FOS) 1216 99,3 8 0,7 1224 0,57-0,92 Azithromycine (AZM) 40 4,6 822 95,4 862 0,48-0,89 Ofloxacin (OFX) 1256 83,3 197 13,07 54 3,58 1507 0,42-0,78 Cefixime (CFM) 165 26,52 18 2,88 440 70,6 623 0,27-0,68 Cefoperazone (CFP) 718 88,54 62 7,64 31 3,82 811 0,28-0,54 Clindamycin (CLI) 186 17,28 52 4,82 840 77,9 1078 0,31-0,69 Chloramphenicol (CHL) 602 45,26 216 16,24 512 38,5 1330 0,32-0,71 Erythromycine (ERY) 70 7,8 826 92,2 896 0,56-0,93 Penicilline (PEN) 3100 100 3100 0,89-0,99 Piperacilline (PIP) 1041 91,7 94 8,3 1135 0,78-0,98 j Qua bảng 3 cho chúng ta thấy các kháng sinh đang còn nhạy cảm tốt với S.pneumoniae là FOS, PIP và PEN. Đồng thời các kháng sinh, OFX đã gia tăng tỷ lệ đề kháng gần tới mức phải loại khỏi danh mục điều trị S.pneumoniae (Khuyến cáo của WHO và Trung tâm dự phòng và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ mọi kháng sinh có tỷ lệ nhạy cảm dưới 70% cần phải loại khỏi danh mục các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn căn nguyên) [11]. ấn đề kinh điển S.pneumoniae hoàn toàn nhạy cảm với Penicillin G, còn trong nghiên cứu của chúng tôi không gặp trường hợp đề kháng nào. Bảng 4. Độ nhạy cảm với thuốc kháng sinh của M.catarrhalis Nhóm kháng sinh S I R n 95% CI n % n % n % Tobramycin (TOB) 624 100 624 0,82-0,99 Fosphomycine (FOS) 568 91,03 56 8,97 624 0,76-0,92 Kháng sinh S I R n 95%CI n % n % n % Penicilline G (PEN) 5200 100 5200 70-100 Ampiciline/cla (AMC) 2400 39,5 3675 60,5 6075 45-87 Cefuroxime (CXM) 1250 32,2 2632 67,8 3882 46-86 Chloramphenicol (CHL) 1310 33,74 130 3,66 2442 62,9 3882 52-89 Fosphomycine (FOS) 3720 95,8 92 2,37 70 1,8 3882 70-94 Imipenem (IPM) 2610 100 2610 72-100 Azithromycine (AZM) 2764 95,6 128 4,4 2892 56-92 Erythromycine (ERY) 229 5.9 2667 68,7 986 25,4 3882 49-87 Trimethoprime/ Sulpha(SXT) 209 7.57 34 1,23 2521 91,2 2764 37-89 D.N. Hoai / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 63 Cefuroxime (CXM) 550 88,05 54 8,7 20 3,25 624 0,61-0,79 Ofloxacin (OFX) 597 95,68 27 4,32 624 0,65-0,80 Imipenem (IPM) 564 90,4 29 4,64 31 4,96 624 0,46-0,79 Erythromycine (ERY) 310 49,6 236 37,9 78 12,5 624 0,41-0,68 Trim/sulpha (SXT) 203 32,51 421 67,49 624 0,65-0,79 Azithromycin (AZM) 567 90,87 57 9,13 624 0,68-0,87 h M.catarrhalis là căn nguyên gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI) đứng hàng thứ 3 sau S.pneumoniae và H.influenzae.Đến những năm 90 của thế kỷ trước người ta mới quan tâm đến căn nguyên này. Trong nghiên cứu của chúng tôi các kháng sinh ERY, SXT đều giảm tỷ lệ nhạy cảm đã đến mức loại khỏi danh mục điều trị căn nguyên tương ứng (49,6% và 32,51%). iệc tiến hành phương pháp kháng sinh đồ MIC hiện nay với vi khuẩn này để phân loại chính xác sự đề kháng và nhạy cảm còn gặp nhiều khó khăn. Đáng chú ý là AZM một kháng sinh mới có tỷ lệ nhạy cảm là 90,87%. Chúng tôi ghi nhận các kháng sinh TOB, FOS, CXM, OFX, IPM đều đang còn nhạy cảm tốt. Tất cả các điều này phù hợp với nghiên cứu trong và ngoài nước [1, 2, 9, 12]. Qua bảng 2, 3, 4 và 5, chúng tôi nhận thấy r ng: với cả 3 căn nguyên vi khuẩn, Fosphomycin là kháng sinh lựa chọn tốt cho điều trị nhiễm trùng hô hấp cấp tính, còn với S.pneumoniae và M.catarrhalis thì Imipenem là lựa chọn tốt. Trong khi đó, tất cả các kháng sinh SXT, CHL, ERY đều đề kháng với tỷ lệ cao và không nên là lựa chọn cho điều trị. 4. Kết luận Qua nghiên cứu sự nhạy cảm với kháng sinh của 3 vi khuẩn gồm H.influenza, S.pneumoniae và M.catarrhalis ở trẻ dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa từ năm 2009 đến 2014, chúng tôi nhận thấy: 1. Tỷ lệ phân lập từ 43.574 bệnh phẩm dịch tỵ hầu củaH.influenza, S.pneumoniae và M.catarrhalis lần lượt là: 13,94%, 7,11% và 1,43%. 2. Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của từng loài vi khuẩn: - Cả 3 loại vi khuẩn còn nhạy cảm tốt với Fosphomycin. - S.pneumoniae và M.catarrhalis nhạy cảm tốt với Imipenem. - H.influenza còn nhạy cảm tốt với Azithromycin. - S.pneumoniae nhạy cảm tốt với Penicilline, Piperacilline. - M.catarrhalis nhạy cảm tốt với Tobramycine vàOfloxacin. - Các kháng sinh Trime/Sulpha, Chloramphenicol, Erythromycin đề kháng cao với cả 3 vi khuẩn nghiên cứu. 5. Kiến nghị Cần tiếp tục theo dõi tình hình đề kháng với kháng sinh của 3 vi khuẩn H.influenza, S.pneumoniae và Moraxella ở cộng đồng và ở bệnh viện b ng cả 2 phương pháp MIC và KIRBY-BAUER. Nên loại khỏi danh mục kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp với các kháng sinh ERY, CHL, SXT. Tài liệu tham khảo D.N. Hoai / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 64 [1] Ministry of Health. Training material for bacteriology, Program on prevention and control of acute respiratory infections, Hanoi; 2007, p. 1-31. (in Vietnamese) [2] Chinh LH. Research on bacteria capable of causing respiratory infections in nasopharynx of healthy children under 5 years old and their antibiotic resistance level. Program of acute respiratory infections (ARI); 2006, p.28-38. (in Vietnamese) [3] Hung TD. Study on the rate and level of antibiotic resistance of Haemophilus influenza and Streptococcus pneumonia in healthy children and pneumonia in Can Tho-2007. Doctoral thesis of Medicine, Hanoi; 2008:26-70. (in Vietnamese) [4] La VT. Clinical and subclinical Characteristics of acute bronchitis in children. Pediatrics Journal 2007;15(2):117-123. (in Vietnamese) [5] Hasegawa K, Yamamoto K, Chiba N et al. Diversity of Ampicillin-Resistance Genes in Haemophilus influenzae in Japan and the United States. Microb Drug Resist 2003;9(1):39-46. [6] Kim IS, Ki CS, Kim S et al. Diversity of Ampicillin-Resistance Genes and Antimicrobial Susceptibility Patterns in Haemophilus influenzae Strains Isolated in Korea. Antimicrobial Agents and Chemotherapy 2007;51(2):453-460. [7] Gotoh K, Qin L, Watanabe K et al. Prevalence of Haemophilus influenzae with resistant genes isolated from young children with acute lower respiratory tract infections in Nha Trang, Viet Nam. Journal of infection and Chemotherapy 2008;14(5):349-353. [8] Peleg AY, Hooper DC. Hospital-Acquired Infections Due to Gram-Negative Bacteria. N Engl J Med 2020;362(19):1804-1813. [9] Madhi SA, Petersen K, Madhi A et al. Increased disease burden and antibiotic resistance of bacteria causing severe community-acquired lower respiratory tract infections in human immunodeficiency virus type 1-infected children. Clin Infect Dis 2000;31(1):170- 176. [10] Todar K. Bacterial Resistance to Antibiotics. Todar’s online textboox of bacteriology; 2008, p. 1-4. [11] Grassi GG, Bucci R. Resistance to antibiotics of bacteria involved in respiratory infections (author's transl). Ann Sclavo 1976;18(2):211-222. [12] Costelloe C, Metcalfe C, Lovering A et al. Effect of antibiotic prescribing in primary care on antimicrobial resistance in individual patients: systematic review and meta-analysis. BMJ 2010;340:c2096. F f
File đính kèm:
nghien_cuu_su_nhay_cam_voi_khang_sinh_cua_mot_so_chung_vi_kh.pdf

