Nghiên cứu sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa 2009 - 2014

Mục tiêu: Xác định sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường

hô hấp cấp ở trẻ dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa - năm 2009 - 2014.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả với đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi điều trị nội trú được

chẩn đoán viêm đường hô hấp tại các khoa lâm sàng từ: 1/2009 đến 10/2014.

Kết quả: Nghiên cứu bệnh phẩm từ 43.574 mẫu dịch mũi họng của bệnh nhi viêm đường

hô hấp cấp dưới 6 tuổi, chúng tôi đã phân lập được tổng số 21.769 loại vi khuẩn với tỷ lệ

phân lập là 49,95%. Trong đó tỷ lệ phân lập cao nhất đối với H.influenza, S. pneumoniae và

M. Catarrhalis tương ứng là 13,94%; 7,11%; 1,43%. Xét nghiệm độ nhạy cảm với kháng

sinh cho thấy tất cả các loại vi khuẩn H.influenza, S. pneumoniae và M. catarrhalis đều nhạy

cảm với Fosphomycine. Trong đó S. pneumoniae và M. catarrhalis nhạy cảm với Imipenem,

H. Influenza nhạy cảm với Penicilline và Piperacilline, M. catarrhalis nhạy cảm với

Tobramycine và Ofloxacine. Tất cả H.influenza, S. pneumoniae và M. catarrhalis đều kháng

với Tri/Sulpha, Cloramphenicol, Erythromycine với tỷ lệ cao.

Kết luận: Fosphomycin là kháng sinh lựa chọn tốt cho điều trị nhiễm trùng hô hấp cấp tính,

còn với S.pneumoniae và M.catarrhalis thì Imipenem là lựa chọn tốt. Trong khi đó, tất cả

các kháng sinh SXT, CHL, ERY đều đề kháng với tỷ lệ cao và không nên là lựa chọn cho

điều trị.

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa 2009 - 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa 2009 - 2014

Nghiên cứu sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa 2009 - 2014
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 
58 
 Research Paper 
Study on Sensitivity of Antibiotic of some Bacteria Causes 
Acute Respiratory Diseases in Children Under 6 years 
at Thanh Hoa Hospital of Pediatrics from 2009 - 2014 
Do Ngoc Hoai* 
Thanh Hoa Hospital of Pediatrics, Quang Trung 3, Dong Ve, Thanh Hoa City, Thanh Hoa, Vietnnam 
Received 3 June 2020 
Revised 15 June 2020; Accepted 29 June 2020 
Abstract 
Purpose: To determine the antibiotic sensitivity of some bacteria strains causing acute 
respiratory infections in children under 6 years old at Thanh Hoa Hospital of Pediatrics from 
2009 - 2014. 
Methods: A descriptive research was conducted with children under 6 years old inpatient 
treatment diagnosed with respiratory infections in clinical departments from Jan 2009 to Oct 
2014. 
Results: From 43.574 nasopharynx swab speciments of the children inpatient under six we 
isolated total 21.769 types bacteria with isolation rate: 49.95%. In which the highest 
isolation rate for H. influenza, S. pneumoniae and M. catarrhalis were 13,94%; 7,11%; 
1,43% respectively. Antimicrobial susceptibility testing shown all the types of H. influenza, 
S. pneumoniae and M. catarrhalis are sensitive to Fosphomycine, S. pneumoniae and M. 
catarrhalis to Imipenem, H. influenza to Azithromycine, S. pneumoniae is sensitive to 
Penicilline and Piperacilline, M. catarrhalis to Tobramycine and Ofloxacine. All of H. 
influenza, S. pneumoniae and M. catarrhalis were reported resistance to Trimethoprim 
Sulfamethoxazole, Chloramphenicol, Erythromycine in high rate. 
Conclusions: Fosfomycin is an antibiotic that is a good choice for the treatment of acute 
respiratory infections, while for S.pneumoniae and M.catarrhalis, Imipenem is a good 
choice. Meanwhile, all antibiotics SXT, CHL, ERY are resistant to a high rate and should 
not be an option for treatment. 
Keywords: Acute respiratory diseases, bacteria. 
*
_______ 
* Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i3.192 
H.N. Anh et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 3 (2020) 35-40 
59 
Nghiên cứu sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng 
vi khuẩn gây viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi 
tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa 2009 - 2014 
Đỗ Ngọc Hoài* 
Bệnh viện Nhi Thanh Hóa, Quang Trung 3, Đông Vệ, Thành phố Thanh Hóa, Thanh Hoá, Việt Nam 
Nhận ngày 3 tháng 6 năm 2020 
Chỉnh sửa ngày 15 tháng 06 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 29 tháng 6 năm 2020 
Tóm tắt 
Mục tiêu: Xác định sự nhạy cảm với kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm đường 
hô hấp cấp ở trẻ dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa - năm 2009 - 2014. 
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả với đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi điều trị nội trú được 
chẩn đoán viêm đường hô hấp tại các khoa lâm sàng từ: 1/2009 đến 10/2014. 
Kết quả: Nghiên cứu bệnh phẩm từ 43.574 mẫu dịch mũi họng của bệnh nhi viêm đường 
hô hấp cấp dưới 6 tuổi, chúng tôi đã phân lập được tổng số 21.769 loại vi khuẩn với tỷ lệ 
phân lập là 49,95%. Trong đó tỷ lệ phân lập cao nhất đối với H.influenza, S. pneumoniae và 
M. Catarrhalis tương ứng là 13,94%; 7,11%; 1,43%. Xét nghiệm độ nhạy cảm với kháng 
sinh cho thấy tất cả các loại vi khuẩn H.influenza, S. pneumoniae và M. catarrhalis đều nhạy 
cảm với Fosphomycine. Trong đó S. pneumoniae và M. catarrhalis nhạy cảm với Imipenem, 
H. Influenza nhạy cảm với Penicilline và Piperacilline, M. catarrhalis nhạy cảm với 
Tobramycine và Ofloxacine. Tất cả H.influenza, S. pneumoniae và M. catarrhalis đều kháng 
với Tri/Sulpha, Cloramphenicol, Erythromycine với tỷ lệ cao. 
Kết luận: Fosphomycin là kháng sinh lựa chọn tốt cho điều trị nhiễm trùng hô hấp cấp tính, 
còn với S.pneumoniae và M.catarrhalis thì Imipenem là lựa chọn tốt. Trong khi đó, tất cả 
các kháng sinh SXT, CHL, ERY đều đề kháng với tỷ lệ cao và không nên là lựa chọn cho 
điều trị. 
 Từ khóa: iêm đường hô hấp cấp, vi khuẩn. 
1. Đặt vấn đề* 
Nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) là nhóm 
bệnh lý rất phổ biến ở trẻ em. Bệnh có tỷ lệ 
mắc cao, tần suất mắc nhiều lần trong năm 
và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong 
cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi. 
Căn nguyên gây NKHH rất phong phú, có 
thể do virus (cúm, sởi,...), vi khuẩn 
(Streptococcus pneumoniae, Haemophilus 
_______ 
* 
Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i3.192 
influenzae, Moraxella catarrhalis, 
Staphylococcus aureus,...) [1, 2]. Đa số 
NKHH do virus ở trẻ em xảy ra dưới 3 tuổi 
và khi bội nhiễm vi khuẩn, bệnh trở nên 
trầm trọng. i khuẩn ( K) là căn nguyên 
chính gây viêm phổi nặng dẫn đến tử vong 
ở trẻ em. 
Các công trình nghiên cứu cho thấy vi 
khuẩn gây NKHH chủ yếu ở trẻ em là 
Streptococcus pneumoniae, Haemophilus 
influenzae và Moraxella catarrhalis. Các vi 
khuẩn này thường cư trú ở đường hô hấp 
trên của trẻ em, khi gặp điều kiện thuận lợi, 
D.N. Hoai / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 
60 
chúng trở thành căn nguyên gây bệnh và có 
khả năng gây thành dịch. Trong vụ dịch, trẻ 
lành mang vi khuẩn trong cộng đồng cũng 
là nguồn lây nhiễm quan trọng. Tại các 
bệnh viện những trẻ thở máy cũng thường 
xuyên mắc các bệnh viêm phổi do các vi 
khuẩn trên. Hơn nữa, trong điều kiện hiện 
nay, việc phòng bệnh b ng vắc xin còn rất 
hạn chế. Do đó để giảm tỷ lệ NKHH, đặc 
biệt là giảm tỷ lệ tử vong do viêm phổi, cần 
phải phát hiện nguồn lây, chẩn đoán sớm và 
điều trị b ng kháng sinh phù hợp [3-5]. 
 i khuẩn luôn thay đổi sức đề kháng với 
kháng sinh, làm hạn chế hiệu quả điều trị. 
Trong những năm gần đây tính nhạy cảm 
của S. pneumoniae với penicillin và H. 
influenzae với Ampicillin ngày càng giảm. 
Các thế hệ kháng sinh mới ra đời ngày càng 
nhiều, việc sử dụng kháng sinh không hợp 
lý càng làm tăng sự đề kháng của vi khuẩn 
dẫn đến bệnh không khỏi và rất lãng phí. 
 iệc giám sát sự đề kháng kháng sinh của 
vi khuẩn có khả năng gây NKHH đã trở 
thành vấn đề cấp thiết. Ở nước ta đã có một 
số công trình nghiên cứu về tỷ lệ mắc 
S.pneumoniae, H.influenzae ở đường hô 
hấp của trẻ em dưới 5 tuổi và độ nhạy cảm 
với kháng sinh của vi khuẩn [4-6]. Tuy 
nhiên việc theo dõi tỷ lệ phân lập các vi 
khuẩn cũng như tình hình kháng kháng sinh 
của vi khuẩn tại tuyến tỉnh còn rất hạn chế, 
chưa có hệ thống do các khoa vi sinh lâm 
sàng chưa tiếp cận các trang bị mới và cập 
nhật chuyên môn. Ngoài ra các cấp lãnh đạo 
và bác sỹ lâm sàng chưa thực sự quan tâm 
nhiều đến lĩnh vực này. 
Trước tình hình đó, chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu: Xác định sự nhạy cảm với kháng 
sinh của một số chủng vi khuẩn gây viêm 
đường hô hấp cấp ở trẻ dưới 6 tuổi tại Bệnh 
viện Nhi Thanh Hóa - năm 2009 - 2014. 
2Mục tiêu của nghiên cứu: 
1- Xác định tỷ lệ phân lập một số vi 
khuẩn thường gặp gây viêm đường hô hấp 
cấp ở các trẻ dưới 6 tuổi. 
2- Đánh giá tình hình nhạy cảm 
với kháng sinh của các chủng vi khuẩn 
thường gặp. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn 
 Các trẻ em dưới 6 tuổi điều trị nội trú 
được chẩn đoán viêm đường hô hấp tại các 
khoa lâm sàng từ: 1/2009 đến 10/2014. 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 
Loại trừ khỏi nghiên cứu đối tượng là 
các trẻ sơ sinh 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 
Phương pháp mô tả, chọn mẫu thuận tiện. 
2.2.2. Các bước tiến hành nghiên cứu 
Bệnh phẩm được lấy từ dịch hầu họng 
của đường hô hấp, nuôi cấy, phân lập, định 
danh vi khuẩn, kháng sinh đồ Kirby-Bauer 
theo thường qui của CLSI và WHO. Các vi 
khuẩn nghiên cứu là: H. influenza, 
S.pneumoniae, M.catarrhalis. 
2.3. Địa điểm nghiên cứu 
Khoa Vi sinh - Bệnh viện Nhi Thanh Hóa. 
2.4. Xử lý số liệu 
- Dữ liệu kháng thuốc : WHONET 5.6. 
- Thống kê Y học: test χ2. 
3. Kết quả và bàn luận 
3.1. Tỷ lệ các vi khuẩn phân lập được từ 
đường hô hấp 
D.N. Hoai / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 
61 
Qua Bảng 1 chúng ta thấy: tỷ lệ phân 
lập của H.influenzae cao nhất so với tất cả 
các chủng vi khuẩn khác với sự khác biệt có 
ý nghĩa thống kê p< 0.05. Ngoài ra, kết quả 
cũng cho thấy tổng số 3 loại vi khuẩn trên là 
có tỷ lệ phân lập lớn nhất. Điều đó giải 
thích tại sao mọi nỗ lực kiểm soát nhiễm 
khuẩn hô hấp cấp (ARI) đều tập trung vào 3 
căn nguyên này. Kết quả của chúng tôi khác 
với nghiên cứu của tác giả Trần Đỗ Hùng 
(2008) [2]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, 
tỷ lệ phân lập H.influenzae/S.pneumoniae 
của chúng tôi đảo ngược: 13,94/7,11 so với 
tác giả Trần Đỗ Hùng là: 21,5/41,5 
(p< 0,05). Sự khác biệt này có thể do cỡ 
mẫu của chúng tôi lớn hơn nhiều hơn so với 
tác giả này (43.574) với 246. Mặt khác, 
nghiên cứu của tác giả Trần Đỗ Hùng chỉ 
chọn bệnh nhân viêm phổi [2]. Kết quả 
phân lập vi khuẩn ở bệnh viện đều phụ 
thuộc rất nhiều vào tình hình sử dụng kháng 
sinh trước đó. Điều đó giải thích tại sao tỷ 
lệ phân lập vi khuẩn ở cộng đồng luôn cao 
hơn và khác biệt so với bệnh viện [1, 2, 5]. 
Bảng 1. Tỷ lệ vi khuẩn phân lập được từ đường hô hấp 
e
3.2. Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của các 
vi khuẩn phân lập được 
Qua bảng 2 chúng ta thấy r ng: chỉ 
các kháng sinh FOS, IPM, AZM còn đáp 
ứng tốt với điều trị viêm đường hô hấp 
do H.influenzae. Kết quả này tương tự 
với các nghiên cứu trong và ngoài nước 
[6-8]. Mặt khác các kháng sinh PEN, 
AMC, CXM, CHL, ERY, SXT tỷ lệ đề 
kháng đều ở mức độ nghiêm trọng, mà 
nguy hiểm là với cả các Cephalosporin 
thế hệ 3 (C3G). Điều này cũng được ghi 
nhận ở các tác giả trong và ngoài nước 
[2, 5, 7, 9]. Nhưng thực tế là các kháng 
sinh C3G hiện nay vẫn được dùng rộng 
rãi trong điều trị tại các bệnh viện. Như 
vậy gia tăng tỷ lệ kháng thuốc với C3G 
do H.influenzae có nguy cơ mất kiểm 
soát, đặc biệt ở các cơ sở Y tế không có 
Lab vi sinh [10]. 
Bảng 2. Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của H.influenzae 
TT Loại vi khuẩn 
Số chủng 
Phân lập 
Số mẫu 
nuôi cấy 
Tỷ lệ phân 
lập (%) 
Tỷ lệ 
vi khuẩn (%) 
P 
1 H.influenzae 6.075 
43.574 
13,94 27,9 
<0,05 2 S.pneumoniae 3.100 7,11 14,24 
3 M.catarrhalis 624 1,43 2,86 
4 Tổng số 3 loại K 9.799 22,48 45,01 
<0,05 5 Enterobacteriaceae 425 0,97 1,95 
6 Các vi khuẩn khác 11.545 26,49 53,03 
7 Tất cả các loại K 21.769 49,84 
D.N. Hoai / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 
62 
* (S: nhạy cảm, I: trung gian, R: đề kháng) 
Bảng 3. Độ nhạy với thuốc kháng sinh của S.pneumoniae 
Nhóm kháng sinh 
S I R 
n 95% CI 
n % n % n % 
Fosphomycine (FOS) 1216 99,3 8 0,7 1224 0,57-0,92 
Azithromycine (AZM) 40 4,6 822 95,4 862 0,48-0,89 
Ofloxacin (OFX) 1256 83,3 197 13,07 54 3,58 1507 0,42-0,78 
Cefixime (CFM) 165 26,52 18 2,88 440 70,6 623 0,27-0,68 
Cefoperazone (CFP) 718 88,54 62 7,64 31 3,82 811 0,28-0,54 
Clindamycin (CLI) 186 17,28 52 4,82 840 77,9 1078 0,31-0,69 
Chloramphenicol (CHL) 602 45,26 216 16,24 512 38,5 1330 0,32-0,71 
Erythromycine (ERY) 70 7,8 826 92,2 896 0,56-0,93 
Penicilline (PEN) 3100 100 3100 0,89-0,99 
Piperacilline (PIP) 1041 91,7 94 8,3 1135 0,78-0,98 
j
Qua bảng 3 cho chúng ta thấy các kháng 
sinh đang còn nhạy cảm tốt với S.pneumoniae 
là FOS, PIP và PEN. Đồng thời các kháng 
sinh, OFX đã gia tăng tỷ lệ đề kháng gần tới 
mức phải loại khỏi danh mục điều trị 
S.pneumoniae (Khuyến cáo của WHO và 
Trung tâm dự phòng và kiểm soát bệnh tật 
Hoa Kỳ mọi kháng sinh có tỷ lệ nhạy cảm 
dưới 70% cần phải loại khỏi danh mục các 
bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn căn nguyên) 
[11]. ấn đề kinh điển S.pneumoniae hoàn 
toàn nhạy cảm với Penicillin G, còn trong 
nghiên cứu của chúng tôi không gặp trường 
hợp đề kháng nào. 
Bảng 4. Độ nhạy cảm với thuốc kháng sinh của M.catarrhalis 
Nhóm 
kháng sinh 
S I R 
n 95% CI 
n % n % n % 
Tobramycin (TOB) 624 100 624 0,82-0,99 
Fosphomycine (FOS) 568 91,03 56 8,97 624 0,76-0,92 
Kháng sinh 
S I R 
n 95%CI 
n % n % n % 
Penicilline G (PEN) 5200 100 5200 70-100 
Ampiciline/cla (AMC) 2400 39,5 3675 60,5 6075 45-87 
Cefuroxime (CXM) 1250 32,2 2632 67,8 3882 46-86 
Chloramphenicol (CHL) 1310 33,74 130 3,66 2442 62,9 3882 52-89 
Fosphomycine (FOS) 3720 95,8 92 2,37 70 1,8 3882 70-94 
Imipenem (IPM) 2610 100 2610 72-100 
Azithromycine (AZM) 2764 95,6 128 4,4 2892 56-92 
Erythromycine (ERY) 229 5.9 2667 68,7 986 25,4 3882 49-87 
Trimethoprime/ Sulpha(SXT) 209 7.57 34 1,23 2521 91,2 2764 37-89 
D.N. Hoai / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 
63 
Cefuroxime (CXM) 550 88,05 54 8,7 20 3,25 624 0,61-0,79 
Ofloxacin (OFX) 597 95,68 27 4,32 624 0,65-0,80 
Imipenem (IPM) 564 90,4 29 4,64 31 4,96 624 0,46-0,79 
Erythromycine (ERY) 310 49,6 236 37,9 78 12,5 624 0,41-0,68 
Trim/sulpha (SXT) 203 32,51 421 67,49 624 0,65-0,79 
Azithromycin (AZM) 567 90,87 57 9,13 624 0,68-0,87 
h 
M.catarrhalis là căn nguyên gây nhiễm 
khuẩn hô hấp cấp (ARI) đứng hàng thứ 3 
sau S.pneumoniae và H.influenzae.Đến 
những năm 90 của thế kỷ trước người ta 
mới quan tâm đến căn nguyên này. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi các 
kháng sinh ERY, SXT đều giảm tỷ lệ nhạy 
cảm đã đến mức loại khỏi danh mục điều trị 
căn nguyên tương ứng (49,6% và 32,51%). 
 iệc tiến hành phương pháp kháng sinh đồ 
MIC hiện nay với vi khuẩn này để phân loại 
chính xác sự đề kháng và nhạy cảm còn gặp 
nhiều khó khăn. Đáng chú ý là AZM một 
kháng sinh mới có tỷ lệ nhạy cảm là 90,87%. 
Chúng tôi ghi nhận các kháng sinh TOB, 
FOS, CXM, OFX, IPM đều đang còn nhạy 
cảm tốt. Tất cả các điều này phù hợp với 
nghiên cứu trong và ngoài nước [1, 2, 9, 12]. 
Qua bảng 2, 3, 4 và 5, chúng tôi nhận 
thấy r ng: với cả 3 căn nguyên vi khuẩn, 
Fosphomycin là kháng sinh lựa chọn tốt cho 
điều trị nhiễm trùng hô hấp cấp tính, còn 
với S.pneumoniae và M.catarrhalis thì 
Imipenem là lựa chọn tốt. Trong khi đó, tất 
cả các kháng sinh SXT, CHL, ERY đều đề 
kháng với tỷ lệ cao và không nên là lựa 
chọn cho điều trị. 
4. Kết luận 
Qua nghiên cứu sự nhạy cảm với kháng 
sinh của 3 vi khuẩn gồm H.influenza, 
S.pneumoniae và M.catarrhalis ở trẻ dưới 6 
tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa từ năm 
2009 đến 2014, chúng tôi nhận thấy: 
1. Tỷ lệ phân lập từ 43.574 bệnh phẩm 
dịch tỵ hầu củaH.influenza, S.pneumoniae 
và M.catarrhalis lần lượt là: 13,94%, 7,11% 
và 1,43%. 
2. Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của 
từng loài vi khuẩn: 
- Cả 3 loại vi khuẩn còn nhạy cảm tốt 
với Fosphomycin. 
- S.pneumoniae và M.catarrhalis nhạy 
cảm tốt với Imipenem. 
- H.influenza còn nhạy cảm tốt với 
Azithromycin. 
- S.pneumoniae nhạy cảm tốt với 
Penicilline, Piperacilline. 
- M.catarrhalis nhạy cảm tốt với 
Tobramycine vàOfloxacin. 
- Các kháng sinh Trime/Sulpha, 
Chloramphenicol, Erythromycin đề kháng 
cao với cả 3 vi khuẩn nghiên cứu. 
5. Kiến nghị 
Cần tiếp tục theo dõi tình hình đề kháng 
với kháng sinh của 3 vi khuẩn H.influenza, 
S.pneumoniae và Moraxella ở cộng đồng và 
ở bệnh viện b ng cả 2 phương pháp MIC và 
KIRBY-BAUER. 
Nên loại khỏi danh mục kháng sinh điều 
trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp với các kháng 
sinh ERY, CHL, SXT. 
Tài liệu tham khảo 
D.N. Hoai / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 3 (2020) 58-64 
64 
[1] Ministry of Health. Training material for 
bacteriology, Program on prevention and 
control of acute respiratory infections, 
Hanoi; 2007, p. 1-31. (in Vietnamese) 
[2] Chinh LH. Research on bacteria capable of 
causing respiratory infections in 
nasopharynx of healthy children under 5 
years old and their antibiotic resistance 
level. Program of acute respiratory 
infections (ARI); 2006, p.28-38. (in 
Vietnamese) 
[3] Hung TD. Study on the rate and level of 
antibiotic resistance of Haemophilus 
influenza and Streptococcus pneumonia in 
healthy children and pneumonia in Can 
Tho-2007. Doctoral thesis of Medicine, 
Hanoi; 2008:26-70. (in Vietnamese) 
[4] La VT. Clinical and subclinical 
Characteristics of acute bronchitis in 
children. Pediatrics Journal 
2007;15(2):117-123. (in Vietnamese) 
[5] Hasegawa K, Yamamoto K, Chiba N et al. 
Diversity of Ampicillin-Resistance Genes 
in Haemophilus influenzae in Japan and 
the United States. Microb Drug Resist 
2003;9(1):39-46. 
[6] Kim IS, Ki CS, Kim S et al. Diversity of 
Ampicillin-Resistance Genes and 
Antimicrobial Susceptibility Patterns in 
Haemophilus influenzae Strains Isolated in 
Korea. Antimicrobial Agents and 
Chemotherapy 2007;51(2):453-460. 
[7] Gotoh K, Qin L, Watanabe K et al. 
Prevalence of Haemophilus influenzae 
with resistant genes isolated from young 
children with acute lower respiratory tract 
infections in Nha Trang, Viet Nam. 
Journal of infection and Chemotherapy 
2008;14(5):349-353. 
[8] Peleg AY, Hooper DC. Hospital-Acquired 
Infections Due to Gram-Negative Bacteria. 
N Engl J Med 2020;362(19):1804-1813. 
[9] Madhi SA, Petersen K, Madhi A et al. 
Increased disease burden and antibiotic 
resistance of bacteria causing severe 
community-acquired lower respiratory 
tract infections in human 
immunodeficiency virus type 1-infected 
children. Clin Infect Dis 2000;31(1):170-
176. 
[10] Todar K. Bacterial Resistance to 
Antibiotics. Todar’s online textboox of 
bacteriology; 2008, p. 1-4. 
[11] Grassi GG, Bucci R. Resistance to 
antibiotics of bacteria involved in 
respiratory infections (author's transl). Ann 
Sclavo 1976;18(2):211-222. 
[12] Costelloe C, Metcalfe C, Lovering A et al. 
Effect of antibiotic prescribing in primary 
care on antimicrobial resistance in 
individual patients: systematic review and 
meta-analysis. BMJ 2010;340:c2096. 
F 
f 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_su_nhay_cam_voi_khang_sinh_cua_mot_so_chung_vi_kh.pdf