Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ Troponin-T huyết thanh ở bệnh nhân sau phẫu thuật van tim

Trong phẫu thuật tim, nồng độ Troponin-T huyết

thanh gia tăng ở tất cả các bệnh nhân sau mổ, đỉnh cao

nhất ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp động mạch chủ là

1,184 ± 0,675ng/ml. Sau đó, biến thiên nồng độ

Troponin-T giảm dần và giá trị này ở thời điểm 24 giờ

sau mở cặp động mạch chủlà 1,051±0,898ng/ml.

Không có mối liên quan giữa nồng độ Troponin-T

huyết thanh sau phẫu thuật vớicác yếu tổ về tuổi, giới,

tăng áp lực động mạch phổitrước phẫu thuật. Có mối

liên quan giữa nồng độ TnT sau mổ với các yếu

tốđánh giá chức năng tim (NYHA, EF, LVtdD), và

với các yếu tố nguy cơ (thời gian cặp động mạch chủ,

thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể, số van tim được can

thiệp, thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức, suy

thận cấp và trạng cung lượng tim thấp)

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ Troponin-T huyết thanh ở bệnh nhân sau phẫu thuật van tim", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ Troponin-T huyết thanh ở bệnh nhân sau phẫu thuật van tim

Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ Troponin-T huyết thanh ở bệnh nhân sau phẫu thuật van tim
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 3 - THÁNG 6/2013 
 16
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ TROPONIN-T HUYẾT THANH 
Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT VAN TIM 
 Võ Đại Quyền*, Đoàn Đức Hoằng*, Đặng Thế uyên* 
Huỳnh Văn Minh*, Bùi Đức Phú* 
TÓM TẮT 
Trong phẫu thuật tim, nồng độ Troponin-T huyết 
thanh gia tăng ở tất cả các bệnh nhân sau mổ, đỉnh cao 
nhất ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp động mạch chủ là 
1,184 ± 0,675ng/ml. Sau đó, biến thiên nồng độ 
Troponin-T giảm dần và giá trị này ở thời điểm 24 giờ 
sau mở cặp động mạch chủlà 1,051±0,898ng/ml. 
Không có mối liên quan giữa nồng độ Troponin-T 
huyết thanh sau phẫu thuật vớicác yếu tổ về tuổi, giới, 
tăng áp lực động mạch phổitrước phẫu thuật. Có mối 
liên quan giữa nồng độ TnT sau mổ với các yếu 
tốđánh giá chức năng tim (NYHA, EF, LVtdD), và 
với các yếu tố nguy cơ (thời gian cặp động mạch chủ, 
thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể, số van tim được can 
thiệp, thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức, suy 
thận cấp và trạng cung lượng tim thấp). 
Kết luận: Nồng độ Troponin-T sau phẫu thuật là 
một chỉ điểm mức độ tổn thương cơ tim trong quá 
trình phẫu thuật có giá trị tiên lượng sớm ở các bệnh 
nhânsau phẫu thuật van tim. 
Từ khóa: Troponin T, phẫu thuật van tim, yếu tố 
tiên lượng trong phẫu thuật tim. 
STUDY IN VARIATIONS OF SERUM 
TROPONIN-TLEVELS INPATIENTS 
AFTERHEART VALVE SURGERY 
ABSTRACT 
Background: The concentration of serum 
troponin-T levels increased in all patients after 
surgery. The highest concentrationat the time of 4 
hours after aortic clamp removingwith average value 
of1.184±0.675ng/ml.The variation of troponin T 
levels decreasedgradually andthis value at the time of 
24 hours afteraortic clamp removing was 
1.051±0.898ng/ml .There was no correlation between 
serum troponin T levels and factors of with age, sex, 
PAP. We found the correlationbetween TnTlevels and 
factors of cardiac functions (EF, NYHA, 
LVtdD),complex features of interventions (number of 
valves intervented, aortic clamping time, 
cardiopulmonarybypass time), results of intensive care 
(incidences of acute renal failure, of renal replacement 
therapy, of low cardiac output, of inotrope using; 
andartificialventilation time andICU time). 
Conclusion: Troponin-T levelin postoperative 
period isamarkerofmyocardialdamageof patients 
undergoingheart valvesurgery. Itshould be considered 
asanearlyprognostic factorafterheartvalvesurgery. 
Key words: Troponin T, heart valve surgery, 
prognostic factor in cardiac surgery 
I- ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh lý van tim chiếm tỷ lệ khá cao trong các 
bệnh lý tim. Nguyên nhân chủ yếu là do thấp tim (hơn 
90% tại các nước đang phát triển). Trong điều kiện 
Việt Nam hiện nay, đa số bệnh nhân van tim được 
phẫu thuật tương đối muộn, do đó tỷ lệ các tai biến 
cũng như tử vong sau phẫu thuật còn nhiều. Ngoài sự 
theo dõi chặt chẽ các diễn biến trên lâm sàng thì các 
yếu tố tiên lượngcó vai trò lớn góp phần phát hiện và 
điều trị sớm các biến chứng sau mổ nhằm đạt được kết 
quả tốt trong quá trình điều trị bệnh nhân sau phẫu 
thuật. Một trong những yếu tố đó là Troponin-T 
(TnT), được xem như một chỉ điểm sinh học chuyên 
* Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Huế 
Người chịu trách nhiệm khoa học: GS.TS Bùi Đức Phú 
 Email: [email protected] 
Ngày nhận bài: 27/05/2013 
Ngày Cho Phép Đăng: 13/06/2013 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng, 
PGS.TS. Lê Ngọc Thành 
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ TROPONIN-T HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN... 
 17
biệt cho chẩn đoán tổn thương tế bào cơ tim hữu ích 
trong chẩn đoán nhồi máu cơ tim, nhất là các trường 
hợp nghi ngờ tăng creatine kinase giả hoặc nhồi máu 
nhỏ mà mức tăng creatine kinase không đủ ngưỡng để 
chẩn đoán. 
Có nhiều nguyên nhân gây tổn thương tế bào cơ 
timdo tác động của phẫu thuật tim như bảo vệ cơ tim 
không đầy đủ, tổn thương tái tưới máu, tính chất phức 
tạp của các cuộc phẫu thuật.Sự tổn thương cơ tim này 
làm tăng Troponin T ở giai đoạn sau mổ dẫn đến sự 
xuất hiện của những biến cố sau phẫu thuật tim. Sự 
tăng của Troponin T được quan sát sau hầu hết các 
phẫu thuật tim hở, đã có nhiều nghiên cứu về giá trị 
tiên lượng của Troponin T sau phẫu thuật tim hở nói 
chung đặc biệt trong phẫu thuật cầu nối động mạch 
vành. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu về vai trò tiên 
lượng của Troponin-T ở bệnh nhân được phẫu 
thuậtđiều trị bệnh lý van tim. Vì vậy chúng tôi thực 
hiện đề tài: "Nghiên cứu nồng độ Troponin T huyết 
thanh ở bệnh nhân sau phẫu thuật van tim" nhằm 2 
mục tiêu: 
1. Khảo sát sự biến đổi nồng độ Troponin-T huyết 
thanh ở bệnh nhân sau phẫu thuật van tim; 
2. Tìm hiểu mối liên quan giữa giá trị này với các 
yếu tố tiên lượng sớm trong phẫu thuật van tim. 
II- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu ngẫu nhiên các bệnh nhân được phẫu 
thuật van tim tại Trung tâm tim mạch - Bệnh viện 
Trung ương Huế từ tháng 5-2011 đến tháng 5-2012. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh: gồm các bệnh nhân có 
chẩn đoán bệnh lý van 2 lá và/hoặc van động mạch 
chủ và/hoặc van 3 lá; cũng như các bệnh nhân này có 
chỉ định phẫu thuật sữa chữa hoặc thay van tim nhân 
tao theo khuyến cáo của ACC/AHA [1]. 
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có bệnh lý mạch 
vành phối hợp;có bệnh lý hô hấp cấp hoặc mạn trước 
phẫu thuật, có rối loạn chức năng thận trước phẫu 
thuật, có nồng độ TnT cao hơn giá trị bình thường 
ngay trước phẫu thuật (TnT >0,1ng/ml), và các bệnh 
nhân còn rối loạn chức năng các van tim sau mổ đáng 
kể như còn hở van hai lá >2/4, hoặc còn chênh áp cao 
sau thay van động mạch chủ,các trường hợp đặc biệt 
chảy máu nặng sau phẫu thuật cần thiết phải mở ngực 
cầm máu và nhiễm trùng sau mổ. 
Các bệnh nhân này được định lượng nồng độ 
Troponin-T ở các thời điểm: ngay trước khi bắt đầu 
phẫu thuật, 4giờ và 24 giờ sau mở cặp động mạch 
chủ và được chia làm 3 nhóm tùy theo nồng độ TnT 
thời điểm 4 giờ sau mở cặp ĐMC: nhóm <0,8ng/ml, 
nhóm 0,8- 1,3ng/ml và nhóm >1,3ng/ml. Trong mỗi 
nhóm tiến hành nghiên cứu mối tương quan giữa 
nồng độ TnT với các yếu tố tiên lượng khác như 
tuổi, giới, tăng áp phổi, các thông số đánh giá chức 
năng tim (NYHA, EF, LVtdD), các yếu tố đánh giá 
tác động của phẫu thuật (thời gian cặp động mạch 
chủ, thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể, số van tim 
đượccan thiệp). Ngoài ra nghiên cứu tương quan 
giữa nồng độ TnT với các kết quả hồi sức sau mổ 
(biến chứng suy thận cấp và liệu pháp thay thế thận; 
tình trạng cung lượng tim thấpvà liệu pháp inotrope; 
kết quả về thời gian thở máy, thời gian điều trị tại 
phòng hồi sức tim). 
III- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
- Tất cả bệnh nhân đều có nồng độ TnT trong giới hạn bình thường trước lúc mổ. 
Bảng 1: Nồng độ TnT tại các thời điểm sau mổ 
TnT Max Min Trung bình 
4h sau mở cặp ĐMC 4,68 0,35 1,184 ± 0,675 
24h sau mở cặp ĐMC 7,24 0,29 1,051 ± 0,898 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 3 - THÁNG 6/2013 
 18
Bảng 2: Liên quan giữa TnT và các yếu tố nguy cơ trước mổ 
Yếu tố nguy cơ TnT 1.3ng/ml P 
Tuổi > 40 26 (38.8%) 18 (26.9%) 23 (34.3%) >0.05 
Nam 14 (36%) 12 (31%) 13 (33%) >0.05 
NYHA III- IV 1 (3.1%) 13 (40.6%) 14 (20%) <0.01 
FE <50% 12 (28%) 11 (25.6%) 20 (46.4%) <0.05 
ĐKTTr TT > 55 8 (25.8%) 5 (16.1%) 18 (58.1%) <0.01 
PAPs > 60mmHg 9 (24.3%) 14 (42.4%) 8 (25%) >0.05 
1 19 (63.3%) 4 (13.3%) 7 (23.4%) 
2 14 (29.8%) 19 (40.4%) 14 (29.8%) 
Số van 
tim can 
thiệp 
3 4 (16%) 10 (40%) 11 (44%) 
<0.01 
Biểu đồ 1: Tương quan giữa TnT và thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể, thời gian cặp động mạch chủ 
Bảng 3. TnT và các yếu tố nguy cơ sau mổ 
Yếu tố nguy cơ TnT 1.3ng/ml P 
FE sau mỗ < 50% 11 (28.9%) 9 (23.7%) 18 (47%) <0.05 
LCOS 1 (4.2%) 7 (29.2%) 16 (66.7%) <0.01 
140- 220 1 (2.7%) 6 (18.2%) 10 (31.3%) CN thận 
> 220 0 0 10 (31.3%) 
<0.01 
TG thở máy TB 6,81 ± 3,17 12,70 ± 8,05 23,81 ± 23,33 <0.01 
TG điều trị HS TB 3,09 ± 0,9 4,52 ± 1,23 5,81 ± 1,87 <0.01 
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ TROPONIN-T HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN... 
 19
IV- BÀN LUẬN 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả bệnh nhân 
đều có nồng độ TnT huyết thanh ở giới hạn bình 
thường trước phẫu thuật. Nồng độ TnT trung bình ở 
thời điểm 4 giờ sau mở cặp ĐMC là 1,184 ± 
0,675ng/ml và ở thời điểm 24 giờ sau mở cặp động 
mạch chủ là 1,051 ± 0,898ng/ml. Như vậy, có sự tăng 
cao nhanh chóng của nồng độ TnT sau phẫu thuật tim, 
cao nhất ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp ĐMC. Ở thời 
điểm 24 giờ sau mở cặp ĐMC nồng độ TnT có giảm 
nhẹ như trong nghiên cứu của James L. Januzzi. Kết 
quả này phù hợp với diễn biến của nồng độ TnT sau 
phẫu thuật tim hở với nồng độ TnT tăng khoảng hơn 10 
lần giá trị giới hạn cao của TnT. Sự tổn thương cơ tim 
trong phẫu thuật tim ở bệnh nhân không có bệnh lý 
mạch vành kèm theo là tổn thương lan toả, sự tưới máu 
vành sau đó là bình thường cộng với sự tăng tính thấm 
màng tế bào do phản ứng viêm hệ thống nên nồng độ 
TnT tăng cao rất sớm ngay sau khi mở cặp ĐMC. Tuy 
nhiên, quá trình giảm nồng độ TnT sau đó chậm và kéo 
dài do sự rối loạn chức năng của các cơ quan thải trừ. 
Chúng tôi nhận thấy sự phân bố bệnh nhân theo 
nồng độ TnT ở các thời điểm đồng đều giữa các nhóm 
tuổi. Tương tự với nghiên cứu của Stephanie Lehrke 
[2] và nghiên cứu của Nahum Nesher [4], có liên quan 
giữa tuổi và nồng độ TnTnhưng không có ý nghĩa 
thống kê. Điều này chứng tỏ rằng sự tổn thương cơ 
tim trong lúc phẫu thuật phụ thuộc chủ yếu vào tình 
trạng bệnh lý của bệnh nhân và quá trình phẫu thuật, 
yếu tố tuổi không ảnh hưởng đến sự tổn thương cơ tim 
trong quá trình phẫu thuật. Chúng tôi nhận thấy không 
có mối liên quan giữa tuổi và nồng độ TnT.Sự phân 
bố bệnh nhân ở các nhóm theo giới cũng không có sự 
khác biệt có ý nghĩa. Khác với nghiên cứu của Nahum 
Nesher [4], có sự khác biệt có ý nghĩa với tỷ lệ nữ giới 
cao hơn ở nhóm có nồng độ TnT cao hơn. Điều này có 
thể do trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung 
bình thấp hơn nên ít chịu sự ảnh hưởng của những 
thay đổi về nội tiết và mô hình bệnh lý tim mạch cũng 
khác hơn. 
Ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp ĐMC, có sự khác 
biệt về tỷ lệ phân bố theo NYHA giữa 3 nhóm theo 
nồng độ TnT. Tình trạng suy tim càng nặng thì khả 
năng tổn thương cơ tim trong quá trình phẫu thuật 
càng cao. Sự khác biệt này có ý nghĩa với p<0,01. 
Ngoài ra chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt về 
phân bố bệnh nhân có giảm EF giữa các nhóm theo 
nồng độ TnT (p<0,05). Nhóm có phân suất tống máu 
giảm phân bố chủ yếu ở nhóm có nồng độ TnT cao 
và ngược lại, nhóm có EF bình thường phân bố chủ 
yếu ở nhóm có nồng độ TnT thấp. Sự giảm nặng EF 
chứng tỏ ảnh hưởng của bệnh lý van tim lên cấu trúc 
và chức năng tim rất lớn dẫn đến khả năng chịu đựng 
thiếu máu kém và dễ bị tổn thương.TnT đã được sử 
dụng để ước lượng kích thước ổ nhồi máu trong các 
trong hợp nhồi máu cơ tim. Trong các bệnh lý van 
tim, các tâm thất thường dãn lớn theo thời gian, sự 
dãn lớn này làm cho việc bảo vệ cơ tim trong quá 
trình phẫu thuật khó khăn và cơ tim dễ bị tổn thương 
hơn. Mặc dù không thể xác định chính xác khối 
lượng cơ tim tổn thương, nhưng chúng tôi nghĩ rằng 
sự dãn chủ yếu buồng thất trái thông qua kết quả đo 
lường đường kính tâm trương thất trái trước phẫu 
thuật. Có sự khác biệt về phân bố của sự dãn buồng 
thất trái theo các nhóm dựa vào nồng độ TnT và tỷ lệ 
bệnh nhân có đường kính tâm thu thất trái dãn lớn 
phân bố ưu thế ở nhóm có nồng độ TnT cao, sự khác 
biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Có 58,1% 
bệnh nhân bị dãn thất trái phân bố ở nhóm có nồng 
độ TnT >1,3 ng/ml.Điều này được lý giải bởi sự tổn 
thương cơ tim trong phẫu thuật van tim là sự tổn 
thương có hồi phục của toàn bộ khối cơ tim nên khối 
cơ tim càng lớn thì sự phóng thích TnT càng nhiều. 
Có mối liên quan giữa đường kính tâm trương thất 
trái trước phẫu thuật và nồng độ TnT các thời điểm 
sau phẫu thuật. 
Áp lực động mạch phổi tăng >60mmHg là một 
trong những yếu tố tiên lượng của EUROscore và 
Parsonnet score. Trong nghiên cứu của chúng tôi, sự 
khác biệt về mức độ tăng áp lực động mạch phổi giữa 
các nhóm theo TnT không có ý nghĩa thống kê. Điều 
này có thể do trong nghiên cứu của chúng tôi, mẫu 
nghiên cứu chỉ gồm các bệnh lý về van tim trong đó 
bệnh hẹp van 2 lá thường gây tăng áp động mạch phổi 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 3 - THÁNG 6/2013 
 20
rất nặng dù chức năng tim bình thường hoặc giảm nhẹ 
và kích thước thất trái chưa dãn nhiều. 
Nồng độ TnT là thấp ở nhóm bệnh nhân được can 
thiệp một van tim, ngược lại tỷ lệ các bệnh nhân được 
phẫu thuật can thiệp ba van chiếm tỷ lệ cao ở nhóm có 
nồng độ TnT cao, sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê với p<0,05. Điều đó chứng tỏ có mối liên quan 
giữa số lượng van tim can thiệp và nồng độ TnT sau 
phẫu thuật hay nói cách khác, có mối liên hệ giữa 
nồng độ TnT sau phẫu thuật với mức độ phức tạp của 
phẫu thuật van tim. 
Chúng tôi nhận thấy có mối tương quan thuận khá 
chặt chẽ giữa thời gian THNCT và nồng độ TnT huyết 
thanh ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp ĐMC có hệ số 
tương quan r = 0,417 (p<0,01). Điều này có nghĩa là 
thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể càng dài thì nguy cơ 
tổn thương cơ tim càng lớn. Kết quả này tương tự với 
kết quả nghiên cứu của Nahum Nesher và cộng sự, 
trong nghiên cứu này thời gian THNCT trung bình 
của 2 nhóm có nồng độ TnT 0,8ng/ml 
lần lượt là 100 phút và 119 phút với p< 0,0001 [5]. 
Nghiên cứu của Stephanie Lehrke và cộng sự cũng 
cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian THNCT 
giữa 2 nhóm theo nồng độ TnT [2]. Thời gian cặp 
ĐMC là thời gian mà cơ tim bị thiếu máu nuôi hoàn 
toàn, mặc dù sự tưới máu từng đợt mỗi 20 phút giúp 
loại bỏ các sản phẩm chuyển hoá của mô cơ tim và 
giúp tế bào cơ tim tránh bị tổn thương vĩnh viễn, thời 
gian này kéo dài làm tích luỹ các tổn thương thiếu máu 
của cơ tim. Vì vậy, thời gian cặp ĐMC càng dài thì 
nguy cơ và mức độ mức độ tổn thương cơ tim càng 
nặng. Trong nghiên cứu của Nahum Nesher [4] ghi 
nhận sự khác biệt về thời gian cặp ĐMC giữa các nhóm 
theo TnT rất có ý nghĩa với p< 0,0001.Trong nghiên 
cứu của chúng tôi, ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp 
ĐMC, có sự tương quan thuận khá chặt chẽ giữa nồng 
độ TnT và thời gian cặp ĐMC với hệ số tương quan r 
= 0,359 (p< 0,01). 
Các bệnh nhân giảm phân suất tống máu sau 
phẫu thuật chiếm tỷ lệ cao ở nhóm có nồng độ TnT 
cao, 47,4% ở nhóm > 1,3ng/ml. Các trường hợp có 
chức năng thất trái bảo tồn sau phẫu thuật phân bố 
chủ yếu ở nhóm nồng độ TnT thấp (p<0,05). Nồng 
độ TnT sau phẫu thuật van tim là một yếu tố tiên 
lượng cho khả năng hồi phục chức năng thất trái sau 
phẫu thuật van tim. 
Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ xuất hiện 
tình trạng cung lượng tim thấp (LCOS)tăng dần theo 
các nhóm ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp ĐMC, từ 
4,2% ở nhóm 1, tăng lên 29,2% ở nhóm 2 và tăng đột 
biến lên 66,7% ở nhóm 3 (p<0,01). Chúng tôi nhận 
thấy rằng với nồng độ TnT sau mở cặp ĐMC có giá 
trị dự báo cho khả năng xuất hiện LCOS trong quá 
trình điều trị tại phòng hồi sức sau phẫu thuật. Như 
vậy, với nồng độ TnT càng cao chứng tỏ sự tổn 
thương cơ tim càng lớn gây nên khả năng rối loạn 
chức năng tim sau phẫu thuật càng cao, biểu hiện bởi 
LCOS sau phẫu thuật.Kết quả của chúng tôi tương tự 
như kết quả nghiên cứu của Nahum Nesher với sự 
khác biệt về tỷ lệ xuất hiện LCOS giữa các nhóm có ý 
nghĩa với p <0,0001. 
Trong kết quả nghiên cứu, có 10 trường hợp có 
suy thận cấp và đều nằm trong nhóm có nồng độ 
TnT>1,3ng/ml ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp ĐMC. 
Chức năng thận bình thường chiếm ưu thế ở các nhóm 
có nồng độ TnT thấp, tỷ lệ rối loạn chức năng thận 
cũng tăng dần giữa các nhóm, từ 2,7% ở nhóm 1, tăng 
lên 18,2% ở nhóm 2 và 31,3% ở nhóm 3. Sự khác biệt 
rất có ý nghĩa với p<0,01. Sự gia tăng nồng độ TnT 
sau phẫu thuật là một yếu tố dự báo cho khả năng xảy 
ra suy thận cấp trước thận do suy chức năng tuần hoàn 
ở bệnh nhân phẫu thuật van tim. Các bệnh nhân này 
được điều trị thay thế thận bằng cách sử dụng phương 
pháp thẩm phân phúc mạc, đây là phương pháp điều 
trị đã được sử dụng có hiệu quả tại nhiều trung tâm 
tim mạch tại Việt Nam và thế giới. Có 3 trường hợp 
cần thẩm phân phúc mạc và đều nằm trong nhóm có 
nồng độ TnT>1,3ng/ml .Kết quả của chúng tôi tương 
tự với kết quả nghiên cứu của Nahum Nesher [4]. 
Kết quả điều trị tại hồi sức như thời gian thở máy 
trung bình của 3 nhóm ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp 
ĐMC có sự khác biệt rất rõ ràng với 6,8 giờ ở nhóm 
1; 12,7 giờ ở nhóm 2 và 23,8 giờ ở nhóm 3 (p<0,01). 
Nhóm có nồng độ TnT càng cao thì thời gian thở 
máy càng dài chứng tỏ sự tổn thương cơ tim nặng sẽ 
dẫn đến tình trạng khó để đạt được những tiêu chí 
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ TROPONIN-T HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN... 
 21
cho việc cai máy thở. Kết quả của chúng tôi phù hợp 
với kết quả nghiên cứu của Nahum Nesher và cộng sự 
với sự khác biệt về thời gian thở máy giữa các nhóm 
nghiên cứu (p<0.0001) [3]. Do đó, chúng tôi có thể 
kết luận nồng độ TnT sau phẫu thuật van tim là một 
yếu tố dự báo cho khả năng thở máy kéo dài sau phẫu 
thuật.Tương tự, kết quả về thời gian nằm hồi sức cũng 
có sự khác biệt giữa các nhóm nghiên cứu, thời gian 
điều trị hồi sức trung bình là 3,1 ngày, nhóm 2 là 4,5 
ngày và nhóm 3 là 5,8 ngày (p<0,01). Như vậy, mức 
độ tổn thương cơ tim càng nặng trong quá trình phẫu 
thuật sẽ dẫn đến sự hồi phục chậm hơn của các hệ cơ 
quan làm kéo dài thời gian điều trị ở phòng hồi sức 
gây tốn kém chi phí và đối diện với nhiều nguy cơ của 
việc điều trị. Nghiên cứu của Nahum Nesher cũng cho 
thấy sự khác biệt về thời gian điều trị hồi sức trung 
bình giữa các nhóm dựa theo nồng độ TnT (p< 
0,0001). Mối liên quan giữa thời gian điều trị hồi sức 
và nồng độ TnT cũng được xác lập trong nghiên cứu 
của Stephanie Lehrke và cộng sự với p<0,001. 
V- KẾT LUẬN 
Qua nhiên cứu 102 bệnh nhân sau phẫu thuật van 
tim tại BVTW Huế, chúng tôi có một số kết luận bước 
đầu như sau : Nồng độ TnT tăng sau tất cả các trường 
hợp phẫu thuật van tim. Cao nhất ở thời điểm 4 giờ 
sau mở cặp ĐMC sau đó giảm dần. Nồng độ 
Troponin-T huyết thanh ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp 
động mạch chủlà1,184±0,675ng/ml, và giá trị này ở 
thời điểm 24 giờ sau mở cặp động mạch chủ là 
1,051±0,898ng/ml). Nồng độ TnT là một yếu tố quan 
trọng để đánh giá tình trạng tổn thương cơ tim trong 
quá trình phẫu thuật. Giá trị này có ý nghĩa tiên lượng 
góp phần đạt được kết quả điều trị cho bệnh nhân 
phẫu thuật van tim. Nồng độ TnT còn có tương quan 
với các yếu tố tiên lượng trước, trong và sau phẫu 
thuật tim.Giá trị này tương quan thuận khá chặt chẽ 
giữa nồng độ TnT và thời gian cặp ĐMC với hệ số 
tương quan r = 0,359 (p< 0,01); tương quan thuận 
khá chặt chẽ giữa thời gian THNCT và nồng độ TnT 
huyết thanh ở thời điểm 4 giờ sau mở cặp ĐMC có hệ 
số tương quan r = 0,417 (p<0,01).Troponin-T được 
xem như là một chỉ điểm cho tổn thương cơ tim trong 
quá trình phẫu thuật và là một yếu tố tiên lượng ngay 
sau phẫu thuật. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bonow R. O. , Carabello B., Edmunds L. Henry 
(2006), "Guidelines for the management of 
patients with valvular heart disease", ACC/AHA 
practice guidelines, pp.1949 – 1984. 
2. Lehrke Stephanie and al (2000), "Cardiac 
Troponin T for Prediction of Short- and Long- 
Term Morbidity and Mortality after Elective 
Open Heart Surgery", Clinical Chemistry 50, pp. 
1560- 1567. 
3. Lurati Buse Giovana A. and al (2009), “12- 
Month Outcome after cardiac surgery: Prediction 
by Troponin T in Combination With the 
European system for Cardiac Operative Risk 
Evaluation”, The Society of Thoracic Surgeons, 
pp.1806- 1811. 
4. Nesher Nahum and al (2008), "TnT after Cardiac 
Surgery: A Predictor or a Phenomenon", The 
Society of Thoracic Surgeons, pp. 1348- 1354. 
5. Vermes Emmanuelle and al (2000), “Cardiac 
Troponin I release after open Heart Surgery: A 
Marker of Myocardial Protection”, The Society of 
Thoracic Surgeons, pp. 2087-2090. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_su_bien_doi_nong_do_troponin_t_huyet_thanh_o_benh.pdf