Nghiên cứu so sánh hiệu qủa của phương pháp vật lý trị liệu và phương pháp phẫu thuật trong điều trị hội chứng ống cổ tay

Mục tiêu: So sánh hiệu quả điều trị của liệu pháp vật lý trị liệu và phương pháp

phẫu thuật đối với hội chứng ống cổ tay tại Bệnh viện Quân Y 7A.

Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng nhóm ngẫu nhiên

so sánh trước và sau điều trị tại Bệnh viện Quân Y 7A trên 70 người bệnh. Từ tháng

12/2017 đến tháng 12/2018. Các can thiệp bao gồm vật lý trị liệu liệu pháp (Nhóm I,

n= 37), phẫu thuật giải phóng ống cổ tay (Nhóm II, n= 33). Sử dụng bộ câu hỏi Quick

Dash. Bệnh nhân được đánh giá sau liệu pháp, 3 tháng và 6 tháng sau điều trị. Kết quả:

Điểm Quick DASH của người bệnh hội chứng ống cổ tay ở 2 nhóm cải thiện đáng kể

và tương đương nhau, ở nhóm I điểm trước điều trị là 73,19 ± 15,00, sau điều trị giảm

còn 34,04 ± 13,15, ở nhóm II điểm trước điều trị là 75,20 ± 14,40, sau điều trị giảm còn

32 ± 13,15. Ở tháng thứ 3 thay đổi đau ở 2 nhóm tương đương nhau. Sau 6 tháng, điểm

Quick DASH nhóm I cao hơn nhóm II (p<>

Kết luận: Các triệu chứng của bệnh có cải thiện rõ rệt trước và sau nghiên cứu.

Kết quả xa của phương pháp phẫu thuật tốt hơn hơn so với vật lý trị liệu .

pdf 8 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu so sánh hiệu qủa của phương pháp vật lý trị liệu và phương pháp phẫu thuật trong điều trị hội chứng ống cổ tay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu so sánh hiệu qủa của phương pháp vật lý trị liệu và phương pháp phẫu thuật trong điều trị hội chứng ống cổ tay

Nghiên cứu so sánh hiệu qủa của phương pháp vật lý trị liệu và phương pháp phẫu thuật trong điều trị hội chứng ống cổ tay
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
91
NGHIÊN CỨU SO SÁNH HIỆU QỦA CỦA PHƯƠNG PHÁP 
VẬT LÝ TRỊ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT TRONG 
ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY
Phan Hữu Hùng1, Nguyễn Minh Hoàng1, Lê Quang Trí1
TÓM TẮT
Mục tiêu: So sánh hiệu quả điều trị của liệu pháp vật lý trị liệu và phương pháp 
phẫu thuật đối với hội chứng ống cổ tay tại Bệnh viện Quân Y 7A. 
Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng nhóm ngẫu nhiên 
so sánh trước và sau điều trị tại Bệnh viện Quân Y 7A trên 70 người bệnh. Từ tháng 
12/2017 đến tháng 12/2018. Các can thiệp bao gồm vật lý trị liệu liệu pháp (Nhóm I, 
n= 37), phẫu thuật giải phóng ống cổ tay (Nhóm II, n= 33). Sử dụng bộ câu hỏi Quick 
Dash. Bệnh nhân được đánh giá sau liệu pháp, 3 tháng và 6 tháng sau điều trị. Kết quả: 
Điểm Quick DASH của người bệnh hội chứng ống cổ tay ở 2 nhóm cải thiện đáng kể 
và tương đương nhau, ở nhóm I điểm trước điều trị là 73,19 ± 15,00, sau điều trị giảm 
còn 34,04 ± 13,15, ở nhóm II điểm trước điều trị là 75,20 ± 14,40, sau điều trị giảm còn 
32 ± 13,15. Ở tháng thứ 3 thay đổi đau ở 2 nhóm tương đương nhau. Sau 6 tháng, điểm 
Quick DASH nhóm I cao hơn nhóm II (p<0,05). 
Kết luận: Các triệu chứng của bệnh có cải thiện rõ rệt trước và sau nghiên cứu. 
Kết quả xa của phương pháp phẫu thuật tốt hơn hơn so với vật lý trị liệu .
Từ khóa:Hội chứng ống cổ tay, phẫu thuật, vật lý trị liệu,
AN INVESTIGATION TO COMPARE THE EFFECTIVENESS OF 
PHYSICAL THERAPY AND SURGICAL THERAPY AS METHODS OF 
TREATMENT FOR CARPAL TUNNEL SYNDROME
ABSTRACT
Objectives: compare the effectiveness of physical therapies and surgical therapy 
as methods of treatment for carpal tunnel syndrome at 7A Military Hospital. Subject and 
method: A Randomized Parallel-Group Trial, compared before and after treatment at 
1Bệnh viện Quân y 7A
Người phản hồi (Corresponding): Phan Hữu Hùng ([email protected])
Ngày nhận bài: 19/7/2020, ngày phản biện: 05/9/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/9/2020
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
92
7A Military Hospital on 70 patients. Time: From December 2017 to December 2018. 
Interventions consisted of physical therapies (The first group, n = 37) and decompression 
of the carpal tunnel (The second group, n = 33). The Quick Dash questionnaire was used. 
The patients were assessed after the therapies 3 months and 6 months after treatment. 
Results: The Quick DASH score of two groups with carpal tunnel syndrome 
have improved similarly significantly, in the first group: the core before treatment was 
73.19 ± 15.00 and after treatment decreased to 34.04 ± 13.15, in the second group: the 
core before treatment was 75,20 ± 14,40 and after treatment decreased to 32 ± 13,15. 
In the 3rd month, the pain variations in the two group were similar. After 6 months, the 
Quick DASH score of the first group were higher than second group᾽s scores (p<0,05). 
Conclusion: Symptoms of the disease also improved clearly before and after the 
study. The long- term results of surgical method are better than physical therapies.
Key words: carpal tunnel syndrome, surgery, physical therapy,
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng ống cổ tay (HCOCT) 
hay còn gọi là hội chứng đường hầm 
ống cổ tay tên khoa học là Carpal Tunnel 
Syndrome, là tổn thương thần kinh ngoại 
biên thường gặp nhất trong thực hành lâm 
sàng ở nhiều chuyên khoa khác nhau (thần 
kinh, cơ xương khớp,). Một nghiên cứu 
ở Hoa Kỳ cho thấy 10% dân số mắc bệnh 
HCOCT; trong đó, tỷ lệ nữ/ nam là 4/1 và 
có khoảng 50% người bị cả hai tay[1], [2]
Hiện nay có nhiều phương pháp 
điều trị hội chứng ống cổ tay: điều trị nội 
khoa ( thuốc giảm đau, kháng viêm, tăng 
dẫn truyền thần kinh,); vật lý trị liệu 
( siêu âm, điện xung, tập vận động....), 
phẫu thuật giải phóng ống cổ tay; những 
phương pháp trên đã mang lại hiệu quả 
điều trị tốt, giảm các triệu chứng và biến 
chứng của bệnh có thể giúp người bệnh 
duy trì chất lượng cuộc sống và làm chậm 
quá trình phát triển của bệnh [3], [4],[5]. 
Nhằm đánh giá kết quả, nâng cao hơn nữa 
kết quả điều trị hội chứng ống cổ tay tại 
Bệnh viện Quân y 7A, chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu nhằm mục tiêu: “ Đánh giá và 
so sánh hiệu quả điều trị của liệu pháp Vật 
lý trị liệu và phương pháp phẫu thuật đối 
với người bệnh hội chứng ống cổ tay tại 
Bệnh viện Quân Y 7A 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG 
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng: 
70 người bệnh hội chứng ống cổ 
tay, điều trị tại khoa Vật lý trị liệu- Phục 
hồi chức năng và khoa Chấn thương chỉnh 
hình- Bệnh viện Quân y 7A từ tháng 12 
năm 2017 đến tháng 12 năm 2018 chia làm 
2 nhóm. Nhóm 1: điều trị liệu pháp vật lý 
trị liệu, n= 37; nhóm 2: điều trị bằng phẫu 
thuật giải phóng ống cổ tay, n= 33.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Người bệnh 
hội chứng ống cổ tay từ mức độ trung bình 
dựa trên kết quả EMG, người bệnh đồng ý 
tham gia nghiên cứu.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
93
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có 
hội chứng ống cổ tay nặng, bệnh nội khoa 
nặng kèm theo.
 - Bệnh nhân đa thần kinh, không 
đủ khả năng trả lời, gặp khó khăn về giao 
tiếp hay rối loạn nhận thức.
- Bệnh nhân bị viêm khớp.
2.2. Phương pháp 
Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế 
nghiên cứu can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên 
so sánh nhóm trước và sau điều trị.
Công cụ nghiên cứu: Bảng 2.1. 
câu hỏi Quick Dash [6]
Bạn có gặp khó khăn trong khi:
Không 
khó
Khó ít
Khó 
vừa
Khó 
nhiều
Không 
thể làm
1.Mở 1 cái hũ mới hoặc hũ đậy chặt 1 2 3 4 5
2. Làm việc nặng (lau tường, lau sàn..) 1 2 3 4 5
3.Xách giỏ đi chợ hoặc xách cặp 1 2 3 4 5
4.Kì lưng 1 2 3 4 5
5.Dùng dao để cắt thực phẩm 1 2 3 4 5
6.Những hoat động giải trí mà bạn 
phải dùng lực vai, cánh tay, bàn tay 
1 2 3 4 5
không ít Vừa Nhiều
Rất 
nhiều
7. Tuần qua, vai, cánh tay hay bàn tay 
bạn có ảnh hưởng đến hoạt động xã hội 
1 2 3 4 5
không ít Vừa Nhiều
Không 
thể làm
8.Tuần qua, công việc và hoạt động 
hàng ngày của bạn có bị hạn chế
1 2 3 4 5
không ít Vừa Nhiều
Rất 
nhiều
9.Đau vai, cánh tay hay bàn tay 1 2 3 4 5
10.Tê ở vai, cánh tay, bàn tay 1 2 3 4 5
không ít Vừa Nhiều
Rất 
Nhiều 
11.Trong tuần qua, bạn có bị khó ngủ 
do đau vai, cánh tay, bàn tay không
1 2 3 4 5
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
94
CHỈ SỐ DASH = [( 
Phương pháp tiến hành: Tất cả 
người bệnh sẽ được phát bảng câu hỏi 
Quick Dash vào lần đầu tiên tới điều trị tại 
khoa vật lý trị liệu, sau khi hoàn thành liệu 
trình điều trị. Nghiên cứu chúng tôi thực 
hiện đánh giá lại bệnh nhân sau 3 tháng 
và 6 tháng. Nếu bệnh nhân không qua lại 
chúng tôi lấy thông tin qua điện thoại để 
dánh giá tình trạng bệnh nhân.
Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên 
thành 2 nhóm:
Nhóm 1, n= 37 người bệnh được 
điều trị bằng phương thức trị liệu điện 
xung TENS 15 phút/ lần/ ngày, tần số 1- 
10 P.P.S, cường độ đủ mạnh để gây kích 
thích châm chích, không gây đáp ứng vận 
động. Siêu âm 5-6 phút/ lần/ ngày, cường 
độ 1-1,5 W/cm2, tần số F là 2cm. 
Hướng dẫn tập vận động: ở lần tập 
đầu tiên bệnh nhân sẽ nhận được 1 cuốn 
hướng dẫn tập bàn tay. Các buổi trị liệu tay 
tập trung vào dây chằng kéo dài, trượt gân, 
và xem xét sử dụng nẹp. Chúng tôi loại bỏ 
các bệnh nhân nếu siêu âm trị liệu không 
cải thiện. Tập trung siêu âm ở 1 Mhz, 1.0 
W/cm², ở chế độ xung 1:4 và 15 phút mỗi 
lần.
Nhóm 2, n = 33 bệnh nhân được 
phẫu thuật giải phóng ống cổ tay: đường 
mổ chuẩn là đường thẳng (hoặc đường 
cong song song với nếp gấp ô mô cái) bắt 
đầu tại điểm nối của đường Kaplan và 
đường dọc bờ ngoài ngón IV đến nếp gấp 
cổ tay khoảng 3- 4 cm, cách nếp gấp ô mô 
cái 3- 5 mm và không vượt xa nếp gấp cổ 
tay để tránh sẹo phì đại gây đau. Bộc lộ 
thấy rõ ràng dây chằng cổ tay, vết rạch nên 
lệch về phía trụ để tránh các nhánh biến 
thể của dây thần kinh và mô mềm xung 
quanh, sau đó cầm máu, khâu vết mổ.
Chăm sóc sau mổ: thuốc giảm 
đau, kháng sinh sau mổ. Cắt chỉ sau 10 đến 
14 ngày.
Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm 
Stata 13.0.
3. KẾT QUẢ 
Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi của nhóm người bệnh nghiên cứu (n= 70 người)
Đặc điểm 
về tuổi
Nhóm I Tỷ lệ % Nhóm II Tỷ lệ % Nhóm NC Tỷ lệ %
25-49 7 18,9 8 24,2 15 21,4
50-60 13 35,1 9 27,3 22 31,4
≥ 61 17 46 16 48,5 33 47,2
Tổng 37 100 33 100 70 100
P >0,05
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
95
Nhận xét: Nhóm người bệnh hội chứng ống cổ tay từ 25-49 tuổi chiếm tỷ lệ 
21,4%, tỷ lệ người bệnh trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất 47,2%. Sự khác biệt tỷ lệ nhóm tuổi 
giữa nhóm I và nhóm II không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Bảng 3.2. Đặc điểm về giới của người bệnh nghiên cứu (n=70 người)
Giới Nhóm I Tỷ lệ %
Nhóm 
II
Tỷ lệ %
Nhóm 
NC
Tỷ lệ %
Nam 9 24,3 7 21,2 16 22,8
Nữ 28 75,7 26 78,8 54 77,2
Tổng 37 100 33 100 70 100
P >0,05
Nhận xét: Nữ giới có 54 người bệnh chiếm 77,2%, nam giới có 16 người bệnh 
chiếm 22,8%. Trong đó tỷ lệ nam/ nữ ở nhóm I và nhóm II khác biệt nhau không có ý 
nghĩa thống kê (p>0,05)
Bảng 3.3. Phân loại bàn tay (n= 70 người, 82 bàn tay)
Bên Nhóm I Tỷ lệ % Nhóm II Tỷ lệ % Nhóm NC Tỷ lệ %
Tay trái 20 46,5 12 30,7 32 39,1
Tay phải 23 53,5 27 69,3 50 60,9
Tổng 43 100 39 100 82 100
P >0,05
Nhận xét: Trong tổng số 70 bệnh nhân với 82 bàn tay bị hội chứng ống cổ tay, 
tỷ lệ tay bên phải chiếm tỷ lệ cao 60,9%. Sự khác biệt 2 nhóm không có ý nghĩa thống 
kê với p>0,05.
Bảng 3.4. Thống kê số ngày điều trị (n=70 người)
Số ngày
Nhóm 
I
Tỷ lệ 
%
Nhóm 
II
Tỷ lệ 
%
Nhóm NC
Tỷ lệ 
%
10 10 27 16 48,4 26 37,1
20 15 40,5 17 51,6 32 45,7
30 8 21,6 0 0 8 11,4
40 4 10,9 0 0 4 5,8
Tổng 37 100 33 100 70 100
Trung bình 21,0 ± 3,9 ngày 15,1 ± 2,1 ngày 18,5 ± 3,3 ngày
p – values <0,05
Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh điều trị kéo dài >10 ngày là 62,9%, >20 ngày là 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
96
17,2%. Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian điều trị trung bình nhóm I dài hơn 
nhóm 2: 5,9 ngày. Sự khác biệt giữa số ngày điều trị giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê 
với p<0,05.
Bảng 3.5. Điểm Quick DASH trước và sau điều trị (n= 82 bàn tay)
Quick DASH Nhóm I Nhóm II p – values
Trước điều trị 73,19 ± 15,00 75,20 ± 14,40
<0,05Sau điều trị 34,04 ± 13,15 32,00 ± 13,15
p – values >0,05
Nhận xét: Nhóm I: Điểm Quick DASH trước điều trị của 43 bàn tay là 73,19 ± 
15,00, sau điều trị điểm Quick DASH giảm còn 34,04 ± 13,15. Nhóm II: Điểm Quick 
DASH trước điều trị của 39 bàn tay là 75,20 ± 14,40, sau điều trị điểm Quick DASH 
giảm còn 32 ± 13,15. Sự khác biệt về kết quả điều trị sau mổ của 2 nhóm có ý nghĩa 
thống kê (p0,05).
Bảng 3.6. Điểm Quick DASH sau điều trị 3 tháng
Quick DASH Nhóm I p Nhóm II P
Sau điều trị 34,04 ± 13,15
>0,05
32,00 ± 13,15
>0,05Tháng thứ 3 36,88 ± 10,08 32,15 ± 12,36
P >0,05
Nhận xét: ở cả hai nhóm: Điểm Quick DASH sau 3 tháng điều trị của 82 bàn 
tay có tăng, nhưng sự khác biệt về điểm Quick DASH không có ý nghĩa thống kê với 
p>0,05.
Bảng 3.7. Điểm Quick DASH sau điều trị 6 tháng
Quick DASH Nhóm I P Nhóm II P
Sau điều trị 34,04 ± 13,15
<0,05
32,00 ± 13,15
>0,05Tháng thứ 6 53,27 ± 12,00 33,11 ± 13,06
P <0,05
Nhận xét: Nhóm I: Điểm Quick 
DASH sau điều trị của 43 bàn tay là 34,04 
± 13,15, sau điều trị 6 tháng tăng 53,27 ± 
12,00, sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê với p<0,05. Nhóm II: Điểm Quick 
DASH sau điều trị của 39 bàn tay là 32,00 
± 13,15, sau điều trị 6 tháng tăng 33,11 ± 
13,06, sự khác biệt về điểm Quick DASH 
không có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Tuy 
nhiên sự khác biệt về kết quả giữa 2 nhóm 
có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
97
4. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu trên 70 người 
bệnh (82 bàn tay) đến điều trị tại khoa Vật 
lý trị liệu- Phục hồi chức năng (37 bệnh 
nhân) và khoa Chấn thương Chỉnh hình 
(33 bệnh nhân)- Bệnh viện quân y 7A, cho 
thấy nữ giới mắc bệnh nhiều hơn nam giới 
( nữ chiếm 77,2%) và tay phải (60,9%) 
nhiều hơn tay trái. Kết quả này tương tự 
với kết quả của Vũ Anh Nhị (2010) và 
American Academy of Neurology (2006) 
[1][2]. Tỷ lệ nữ giới mắc bệnh nhiều hơn 
do thường gặp các bệnh viêm khớp, cùng 
với tính chất công việc của nữ giới có 
nhiều tư thế phải lặp đi lặp lại nhiều lần. 
Hội chứng này thường gặp tay phải đây là 
tay thuận của đa số người Việt Nam.
 Các đối tượng tham gia nghiên 
cứu có độ tuổi từ 25-60 tuổi chiếm 52,8% 
là độ tuổi lao động và 47,2% là trên 60 tuổi. 
Điều này cho thấy những người mắc bệnh 
hội chứng ống cổ tay thường nằm trong độ 
tuổi lao động nhưng việc phát hiện và điều 
trị còn gặp nhiều khó khăn do nhiều yếu 
tố như người bệnh, công việc, thời gian và 
ảnh hưởng của bệnh lý chưa rõ ràng 
 Trong 70 người bệnh hội chứng 
ống cổ tay: tỷ lệ người bệnh điều trị kéo 
dài >10 ngày là 62,9%, >20 ngày là 17,2%. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian 
điều trị trung bình nhóm I dài hơn nhóm 2: 
5,9 ngày. Sự khác biệt giữa số ngày điều 
trị giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê với 
p<0,05. Kết quả này phù hợp với tác giả 
Jarvik [5], khẳng định phương pháp phẫu 
thuật điều trị hội chứng ống cổ tay giúp 
giảm thời gian điều trị hơn so với liệu pháp 
vật lý trị liệu.
Sau nghiên cứu người bệnh có sự 
cải thiện đáng kể về hoạt động chức năng 
bàn tay như mở lọ, làm việc nhà, dùng dao 
cắt thức ăn hoặc sự ảnh hưởng của vấn 
đề bàn tay tới công việc, hoạt động hàng 
ngày cũng như mức độ đau, tê, cảm giác 
cầm nắm, cứng ở bàn tay. Ở nhóm I: Điểm 
Quick DASH trước điều trị của 43 bàn tay 
là 73,19 ± 15,00, sau điều trị điểm Quick 
DASH giảm còn 34,04 ± 13,15 (giảm 
39,15 điểm). Nhóm II: Điểm Quick DASH 
trước điều trị của 39 bàn tay là 75,20 ± 
14,40, sau điều trị điểm Quick DASH 
giảm còn 32 ± 13,15 (giảm 43,2 điểm). Sự 
khác biệt về kết quả điều trị trước và sau 
điều trị có ý nghĩa thống kê với p<0,05, 
nhưng sự khác nhau về kết quả điều trị 
giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê 
với p>0,05. Kết quả phù hợp với Vũ Anh 
Nhị [1] do điểm Quick DASH giảm chứng 
tỏ điều trị có hiệu quả hay nói cách khác 
là việc hai phương pháp điều trị trên đã 
gây ra thay đổi và đây là thay đổi tích cực, 
thay đổi tốt cho người bệnh. Điểm Quick 
DASH sau 3 tháng điều trị của 82 bàn tay 
có tăng, nhưng sự khác biệt không có ý 
nghĩa thống kê với p>0,05.
Đến tháng thứ 6 sau điều trị điểm 
Quick DASH tăng 19,23 điểm ở nhóm I, 
sự khác biệt trong nhóm này này so với 
kết quả sau điều trị có ý nghĩa thống kê 
với p<0,05. Nhóm II: Điểm Quick DASH 
tăng 1,11 điểm; sự khác biệt về điểm 
Quick DASH không có ý nghĩa thống kê 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
98
với p>0,05. Giữa 2 nhóm điều trị ở tháng 
thứ 6 đã khác biệt có ý nghĩa thống kê, kết 
quả trên cho thấy kết quả xa của phương 
pháp phẫu thuật giải phóng ống cổ tay tốt 
hơn so với liệu pháp vật lý trị liệu. Nhóm 
bệnh nhân điều trị bằng phương pháp vật 
lý trị liệu cần đánh giá và điều trị tiếp tục 
sau 6 tháng.
5. KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho thấy điểm Quick 
DASH của người bệnh hội chứng ống cổ 
tay có cải thiện đáng kể, các triệu chứng 
của bệnh cũng có cải thiện rõ rệt trước và 
sau điều trị ở cả nhóm I (giảm 39,15 điểm) 
và nhóm II (giảm 43,2 điểm). Hiệu quả 
của phương pháp vật lý trị liệu và phẫu 
thuật tương đồng nhau sau điều trị và kéo 
dài 3 tháng sau đó. Kết quả xa sau điều trị 
6 tháng của phương pháp phẫu thuật giải 
phóng ống cổ tay (Quick DASH tăng 1,11 
điểm) tốt hơn so với liệu pháp vật lý trị liệu 
(Quick DASH tang 19,23 điểm) (p<0,05). 
Nghiên cứu của chúng tôi, cùng với các 
bằng chứng trên chỉ ra rằng phẫu thuật rất 
hữu ích cho bệnh nhân bị Hội chứng ống 
cổ tay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Anh Nhị, Lê Minh, Lê Văn 
Thính và Nguyễn Hữu Công, (2010), Bệnh 
học thần kinh cơ, NXB Đại Học Quốc Gia 
Thành Phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ 
Chí Minh, tr.74.
2. American Academy of 
Neurology, (2016), “Quality Standards 
Subcommittee: Practice parameter for 
carpal tunnel syndrome”, Neurology, 43, 
pp.2406–2409.
3. American Academy of 
Orthopaedic Surgeons, (2008), Clinical 
Practice Guideline on the Treatment of 
carpal tunnel syndrome.
4. American Association of 
Electrodiagnostic Medicine, (2007), the 
electrodiagnosis of carpal tunnel syndrome, 
MuscleNerve, 20(12), pp.1477-86.
5. Katz JN, Simmon BP, (2002), 
“Carpal tunnel syndrome”, NEJM, 346, 
pp.1807-1812.
6. Jarvik JG, Comstock BA, 
Kliot M, Turner JA, Chan L, Heagerty 
PJ, Hollingworth W, Kerrigan CL, Devo 
RA: Surgery versus non-surgical therapy 
for carpal tunnel syndrome: a randomised 
parallel-group trial. Lancet 374:1074 
1081, 2016. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_so_sanh_hieu_qua_cua_phuong_phap_vat_ly_tri_lieu.pdf