Nghiên cứu sàng lọc kháng thể bất thường ở bệnh nhân trước phẫu thuật tại Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014

 Sàng lọc kháng thể bất thường là xét nghiệm cần thiết đảm bảo trong an toàn truyền máu và giảm thiểu phản ứng chậm sau truyền máu. Trong nghiên cứu sàng lọc kháng thể bất thường ở bệnh nhân trước phẫu thuật tại Trung tâm tim mạch – Bệnh viện E trung ương từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014 , tổng số 1680 trường hợp (832 nam, 848 nữ), 11 trường hợp có kết quả dương tính với kháng thể bất thường chiếm tỷ lệ 0,65%. Tỷ lệ dương tính ở bệnh nhân nữ 0,83% cao hơn so với bệnh nhân nam đáng kể (0,48%). Có 176 bệnh nhân từ 0 đến 6 tháng tuổi tỷ lệ dương tính là 1,7%; sau là nhóm tuổi từ 19 đến 40 tuổi tỷ lệ dương tính là 0,97%. Tỷ lệ kháng kháng thể bất thường có liên quan đến tuổi, giới, và chẩn đoán lâm sàng. Nghiên cứu này có vai trò quan trọng của sàng lọc kháng thể bất thường cho bệnh nhân trước phẫu thuật

pdf 5 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu sàng lọc kháng thể bất thường ở bệnh nhân trước phẫu thuật tại Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu sàng lọc kháng thể bất thường ở bệnh nhân trước phẫu thuật tại Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014

Nghiên cứu sàng lọc kháng thể bất thường ở bệnh nhân trước phẫu thuật tại Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 10 - THÁNG 4/2015 
 40 
NGHIÊN CỨU SÀNG LỌC KHÁNG THỂ BẤT THƯỜNG Ở BỆNH NHÂN 
TRƯỚC PHẪU THUẬT TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH BỆNH VIỆN E 
TỪ THÁNG 7 NĂM 2013 ĐẾN THÁNG 8 NĂM 2014 
Đào Thị Thanh Nga*, Lê Ngọc Linh*, Lương Thị Anh* 
TÓM TẮT 
Sàng lọc kháng thể bất thường là xét nghiệm 
cần thiết đảm bảo trong an toàn truyền máu và 
giảm thiểu phản ứng chậm sau truyền máu. 
Trong nghiên cứu sàng lọc kháng thể bất 
thường ở bệnh nhân trước phẫu thuật tại Trung 
tâm tim mạch – Bệnh viện E trung ương từ tháng 
7 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014 , tổng số 1680 
trường hợp (832 nam, 848 nữ), 11 trường hợp có 
kết quả dương tính với kháng thể bất thường chiếm 
tỷ lệ 0,65%. Tỷ lệ dương tính ở bệnh nhân nữ 
0,83% cao hơn so với bệnh nhân nam đáng kể 
(0,48%). Có 176 bệnh nhân từ 0 đến 6 tháng tuổi tỷ 
lệ dương tính là 1,7%; sau là nhóm tuổi từ 19 đến 
40 tuổi tỷ lệ dương tính là 0,97%. Tỷ lệ kháng 
kháng thể bất thường có liên quan đến tuổi, giới, và 
chẩn đoán lâm sàng. Nghiên cứu này có vai trò 
quan trọng của sàng lọc kháng thể bất thường cho 
bệnh nhân trước phẫu thuật. 
SUMMARY 
Study on frequency of irregular-antibody 
Screening on preoperative patients in 
cardiovascular centre of E hospital from July 
2013 to August 2014 
Screening of irregular antibodies is critical 
for ensuring safe blood transfusion and reducing 
transfusion reactions in blood recipients. The 
reported percentages of positive cases of irregular 
antibodies differ across age, sex, clinical 
diagnosis. We retrospectively analyzed 1680 
inpatients (832 men and 848 women) who 
received blood transfusions between July 2013 
and August 2014 at cardiovascular centre of E 
Hospital. We screened the irregular antibodies in 
blood-transfusion recipients by performing 
Coombs' test. Among the 1680 cases screened 
during the study period, 11 were positive for 
irregular antibodies (0,65%). The incidence of 
positive cases among women (0,83%) was 
significantly higher than that that among men 
(0.48%; p < 0,05). Among the 1680 cases 
screened in this study, 176 were baby between 
newbore and six months , and the percentage of 
positive cases among that group (1.7%) was 
highest after were group patients between 19 and 
40 years old (0,97%). The percentages of positive 
cases of irregular antibodies were slightly 
different across the different age. The percentage 
of positive cases in the women, was higher than 
that in the men; This finding highlighted the 
critical role of irregular-antibody screening in this 
population. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Trung tâm tim mạch bệnh viện E điều trị 
và phẫu thuật các bệnh lý t im mạch lồng ngực. 
* Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Lê Ngọc Thành 
Ngày nhận bài: 20/03/2015 - Ngày Cho Phép Đăng: 27/03/2015 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Bùi Đức Phú 
NGHIÊN CỨU SÀNG LỌC KHÁNG THỂ BẤT THƯỜNG Ở BỆNH NHÂN TRƯỚC PHẪU THUẬT  
 41 
Cùng với sự phát triển của Trung tâm thì số 
lượng bệnh nhân với tính chất bệnh lý nặng và 
phức tạp tăng lên, truyền máu trong phẫu thuật 
cũng tăng lên đáng kể. Trong phẫu thuật tim 
mạch, truyền máu rất quan trọng góp phần vào 
sự thành công của ca bệnh. Truyền máu chỉ 
hiệu quả khi có sự phù hợp về hoàn toàn về 
nhóm máu. Ngoài hệ thống kháng nguyên tự 
nhiên quyết định nhóm máu ABO và Rh, trên 
tế bào hồng cầu còn có rất nhiều kháng 
nguyên protein và carbonhydrate trên bề mặt. 
Hiện có hơn 600 kháng nguyên , được chia 
thành hơn 30 hệ thống nhóm máu. Sự hiện 
diện hay vắng mặt của các kháng nguyên này 
là rất quan trọng vì nó xác định nhóm máu của 
từng cá thể. 
Ở nhiều nước trên thế giới ngoài việc xác 
định hòa hợp nhóm máu hệ ABO, Rh và một số 
nhóm máu khác thì xét nghiệm sàng lọc kháng 
thể bất thường trước truyền máu đã trở thành 
thường qui bắt buộc. Với những bệnh nhân xác 
định có kháng thể bất thường sẽ được lựa chọn 
tìm ra đơn vị máu có kháng nguyên hồng cầu 
phù hợp. 
Tuy vậy truyền máu cũng là sự xâm nhập 
của kháng nguyên vào cơ thể, sự xuất hiện 
những phản ứng miễn dịch không mong muốn 
kháng lại hồng cầu, bạch cầu, hay tiểu cầu và 
các protein trong máu là điều không thể tránh 
khỏi. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu 
với mục tiêu: 
1. Xác định tỷ lệ kháng thể bất thường ở 
bệnh nhân trước phẫu thuật và truyền máu tại 
Trung tâm tim mạch – Bệnh viện E. 
2. Tỷ lệ kháng thể bất thường liên quan đến 
tuổi, giới và chẩn đoán lâm sàng. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 1680 bệnh nhân 
phẫu thuật điều trị tim mạch tuổi từ 0 tháng đến 
85 tuổi tại Trung tâm tim mạch – Bệnh viện E từ 
tháng 7 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014. Bao 
gồm: 832 nam, 848 nữ. trong đó 966 bệnh nhân 
mắc bệnh tim bẩm sinh, 424 bệnh nhân bệnh van 
tim, 213 bệnh nhân mắc bệnh lý mạch máu, 47 
bệnh nhân bệnh lý lồng ngực khác. 
- Vật liệu và thuốc thử: 
- 4 ml máu của các bệnh nhân trên được lấy 
vào ống nghiệm không chống đông, ly tâm tách 
huyết thanh để lám xét nghiệm sàng lọc kháng thể 
bất thường ngay. 
- Thuốc thử: panel hồng cầu đa giá của 
Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương 
cung cấp. 
- Huyết thanh AHG kháng globulin người, 
anti D, đệm LISS và các kháng huyết thanh chuẩn 
để xác định nhóm máu của hãng CE. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 
- Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt 
ngang. 
- Tiến hành kỹ thuật: 
Huyết thanh của bệnh nhân được sàng lọc 
kháng thể bất thường với Panel hồng cầu của 
Viện Huyết học – Truyền máu trung ương 
bằng kỹ thuật ống nghiệm ở 22ºC, 37ºC, 
Coombs gián tiếp. Kết quả được nhận định 
bằng mắt thường và đọc trên kính hiển vi 
quang học 
- Xử lý kết quả nghiên cứu bằng các phương 
pháp thống kê toán học. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 10 - THÁNG 4/2015 
 42 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: 
3.1. Tỷ lệ kháng thể bất thường ở bệnh nhân tim mạch: 
Bảng 1. Tỷ lệ kháng thể bất thường ở bệnh nhân tim mạch: 
Số mẫu nghiên cứu Số mẫu dương tính Tỷ lệ (%) 
1680 11 0,65 % 
Nhận xét: tỷ lệ xuất hiện kháng thể bất thường ở bệnh nhân trước phẫu thuật là 0,65% 
3.2. Tỷ lệ kháng thể bất thường liên quan đến giới: 
Bảng 2. Tỷ lệ kháng thể bất thường liên quan đến giới 
Giới Số mẫu nghiên cứu Số mẫu (+) Tỷ lệ (%) p 
Nam 832 4 0,48 
Nữ 848 7 0,83 < 0,05 
Tổng số 1680 11 0,65 
Nhận xét: Tỷ lệ kháng thể bất thường ở nữ là 0,83% và ở nam là 0,48% tỷ lệ xuất hiện kháng thể 
bất thường ở nhóm bệnh nhân nữ cao hơn bệnh nhân nam, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê. 
3.3. Tỷ lệ kháng thể bất thường liên quan tới nhóm tuổi: 
Bảng 3. Tỷ lệ kháng thể bất thường liên quan tới nhóm tuổi: 
Nhóm tuổi Số mẫu nghiên cứu Số mẫu (+) Tỷ lệ (%) 
0 – 6 tháng 176 3 1,7 
7 tháng – 18 tuổi 702 4 0.57 
19 – 40 tuổi 207 2 0.97 
41 – 60 tuổi 351 2 0.57 
>60 tuổi 244 0 0 
Tổng số 1680 11 0.65 
Nhận xét: Tỷ lệ kháng thể bất thường ở nhóm tuổi từ 0 đến 6 tháng tuổi là cao nhất 1,7%, sau đó 
là nhóm tuổi từ 19 đến 40 tuổi 0,97%, nhóm tuổi từ 7 tháng đến 18 tuổi và nhóm từ 41 đến 60 tuổi là 
0,57%, nhóm tuổi trên 60 tuổi chúng tôi không gặp trường hợp nào. 
3.4. Tỷ lệ kháng thể bất thường liên quan đến chẩn đoán lâm sàng: 
Nhóm bệnh lý Số mẫu nghiên cứu Số mẫu (+) Tỷ lệ (%) 
Bệnh tim bẩm sinh 966 8 0,83 
Bệnh van tim 424 3 0,71 
Bệnh mạch máu 213 0 0 
Bệnh lý lồng ngực 47 0 0 
Tổng số 1680 11 0,65 
Nhận xét: nhóm bệnh lý tim mạch bẩm sinh có tỷ lệ kháng thể bất thường cao nhất, sau đó là nhóm 
bệnh van tim là 0,71%, còn nhóm bệnh lý mạch máu và lồng ngực chúng tôi không gặp trường hợp nào. 
NGHIÊN CỨU SÀNG LỌC KHÁNG THỂ BẤT THƯỜNG Ở BỆNH NHÂN TRƯỚC PHẪU THUẬT  
 43 
IV. BÀN LUẬN: 
4.1. Tỷ lệ xuất hiện kháng thể bất thường 
ở bệnh nhân trước mổ: 
Kết quả bảng 1 cho thấy qua sàng lọc 1680 
bệnh nhân trước phẫu thuật tại Trung tâm tim 
mạch bệnh viện E tỷ lệ xuất hiện kháng thể bất 
thường là 0.65 %. 
Kết quả này thấp hơn kết quả nghiên cứu của 
Trịnh Xuân Kiếm (1990: 11,4%) và Bùi Thị Mai 
An (2012: 5.7%), Phạm Quang Vinh (2012: 7,86%) 
là do các tác giả trên nghiên cứu ở bệnh nhân có 
phản ứng tan máu muộn, bệnh nhân sau truyền máu 
hoặc bệnh nhân mắc các bệnh lý về máu, kết quả 
của chúng tôi thấp hơn so với các tác giả trên do đối 
tượng nghiên cứu của chúng tôi là toàn bộ những 
bệnh nhân trước phẫu thuật tim mạch hoặc trước 
khi truyền máu, các xét nghiệm sàng lọc kháng thể 
bất thường này thực hiện thường qui và khi bệnh 
nhân có kháng thể bất thường thì được lựa chọn 
đơn vị máu hòa hợp để truyền. 
Kết quả của chúng tôi gần với kết quả của Li 
Hongxin (2011: 0,47%), Tae-Hee Han (2012: 
1,52%), Tanya Sharma (2014: 0,09%) do mẫu 
nghiên cứu của các tác giả này trên quần thể dân 
cư và những người tình nguyện khỏe mạnh, gần 
tương đồng với những mẫu nghiên cứu của chúng 
tôi ở những bệnh nhân trước mổ hầu hết là chưa 
được truyền máu trước đó. 
4.2. Mối liên quan giữa sự xuất hiện 
kháng thể bất thường với một số yếu tố: 
Kết quả ở bảng 2 cho thấy: Tỷ lệ kháng thể 
bất thường ở nữ là 0,83% và ở nam là 0,48% tỷ 
lệ xuất hiện kháng thể bất thường ở nhóm bệnh 
nhân nữ cao hơn bệnh nhân nam nhận xét này 
của chúng tôi phù hợp với Bùi Thị Mai An, 
Trịnh Xuân Kiếm, Li Hongxin. Sở dĩ như vậy 
vì ở phụ nữ có thể xuất hiện kháng thể bất 
thường do bất đồng nhóm máu ngoài hệ ABO 
trong quá trình chửa đẻ. Sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê (p < 0,05). 
Kết quả ở bảng 3 chúng tôi chia độ tuổi của 
bệnh nhân ra các nhóm tuổi, ở nhóm tuổi từ 0 đến 
6 tháng có tỷ lệ kháng thể bất thường cao nhất 
(1,7%), do ở nhóm tuổi này có liên quan đến 
kháng thể của mẹ vẫn còn lưu lại trong cơ thể trẻ 
sau khi sinh. Nhóm tuổi từ 19 đến 40 tuổi có tỷ lệ 
kháng thể bất thường là 0,97%, ở nhóm tuổi này 
các kháng thể trong cơ thể đã hình thành và phát 
triển mạnh mẽ, nhất là sau khi được tiếp xúc với 
các kích thích kháng nguyên cơ thể sẽ sinh ra 
kháng thể chống lại kháng nguyên đó. Nhóm tuổi 
từ 7 tháng đến 18 tuổi và nhóm tuổi từ 41 đến 60 
tuổi có tỷ lệ kháng thể bất thường là 0,57%. 
Riêng nhóm tuổi trên 60 tuổi do số lượng bệnh 
nhân trong nghiên cứu này còn hạn chế nên 
chúng tôi chưa phát hiện được trường hợp nào. 
Do số lượng bệnh nhân nghiên cứu của 
chúng tôi chưa đủ lớn nên sự khác biệt của tỷ lệ 
kháng thể bất thường giữa các nhóm tuổi này 
không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. 
Kết quả ở bảng 4. Nhóm bệnh nhân mắc 
bệnh tim bẩm sinh có tỷ lệ kháng thể bất thường 
cao nhất 0,83%, trong nhóm bệnh tim bẩm sinh 
này thường có độ tuổi trẻ hơn, dễ bội nhiễm 
đường hô hấp. Nhóm bệnh lý của van tim có tỷ lệ 
kháng thể bất thường là 0,71%, nhóm này thường 
liên quan đến nguyên nhân thấp tim, nhiễm khuẩn 
đó cũng là những yếu tố kháng nguyên kích thích 
cơ thể sinh kháng thể. Nhóm bệnh lý mạch máu 
và lồng ngực do số lượng mẫu chưa đủ lớn nên 
chúng tôi chưa gặp bệnh nhân nào có kháng thể 
bất thường. 
Có những kháng thể bất thường xác định 
được bản chất kháng thể, nhưng cũng có nhưng 
kháng thể bất thường mà chưa xác định được bản 
chất của kháng thể bất thường đó. Khi gặp những 
mẫu kháng thể bất thường dương tính chúng tôi 
tiến hành xét nghiêm lựa chọn trước những đơn 
vị máu phù hợp với mẫu máu của bệnh nhân để 
chuẩn bị cho truyền máu trong cuộc phẫu thuật 
đảm bảo an toàn tránh những tai biến tan máu 
muộn sau truyền máu gây nên. Vì vậy sàng lọc 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 10 - THÁNG 4/2015 
 44 
kháng thể bất thường cho tất cả bệnh nhân trước 
truyền máu là rất cần thiết để hạn chế nguy cơ do 
bất đồng miễn dịch. 
V. KẾT LUẬN 
Qua xét nghiệm sàng lọc kháng thể bất 
thường cho 1680 bệnh nhân tim mạch tại 
Trung tâm tim mạch bước đầu chúng tôi rút ra 
kết luận sau: 
1. Tỷ lệ kháng thể bất thường ở bệnh nhân 
tim mạch tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E (từ 
tháng 6 năm 2013 đến tháng 9 năm 2014) qua 
thực hiện xét nghiệm sàng lọc kháng thể bất 
thường là 0,65%. Tỷ lệ dương tính ở bệnh nhân 
nữ 0,83% và bệnh nhân nam là 0,48%. 
2. Tỷ lệ kháng thể bất thường có liên quan 
đến tuổi, giới và chẩn đoán lâm sàng. 
3. Tất cả bệnh nhân có kháng thể bất 
thường đều được xét nghiệm chọn lọc trên 
nhiều túi máu để chọn ra túi máu phù hợp dự 
trữ sẵn sàng cho truyền máu khi phẫu thuật hạn 
chế các tai biến truyền máu muộn. 
VI. KIẾN NGHỊ 
1. Cần làm xét nghiệm sàng lọc kháng thể 
bất thường ở tất cả các bệnh nhân tim mạch có 
chỉ định phẫu thuật. 
2. Đối với các trường hợp kháng thể bất 
thường dương tính cần làm thêm xét nghiệm định 
danh kháng thể bất thường. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bùi Thị Mai An (2012) “nghiên cứu kết quả 
sàng lọc và định danh kháng thể bất thường ở bệnh 
nhân bị bệnh máu tại viện Huyết học- Truyền máu 
Trung ương 2009 - 2011”, tạp chí y học Việt Nam, 
tập 396, trang 484 – 488. 
2. Nguyễn Thị Thanh Mai (2005), Nghiên 
cứu các kháng thể bất thường kháng hồng cầu ở 
một số đối tượng tại Bệnh viện nhi trung ương, 
Luận án tiến sỹ sinh học, Tr. 11-20. 
3. Phạm Quang Vinh (2012), một số đặc 
điểm lâm sàng xét nghiệm ở bệnh nhân bị bệnh 
máu có kháng thể bất thường hệ hồng cầu, tạp chí 
y học Việt Nam, tập 396, trang 428-431. 
4. Quy chế truyền máu – 2007 và một số văn 
bản quy phạm pháp luật về truyền máu. Bộ Y tế. 
5. Trần Văn Bé, Miễn dịch huyết học và truyền 
máu, Lâm sàng huyết học, 1998, tr. 312 – 350. 
6. Trịnh Xuân Kiếm, Bạch Quốc Tuyên, Trịnh 
Kim Ảnh (1990), Kháng thể bất thường, nguyên nhân 
phản ứng tan máu muộn tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Y 
học thực hành số 5 tập 228, tr.14-15. 
Tiếng Anh 
7. Ki-Ho Ko, Byung-Hoon Yoo, Kye-Min 
Kim, Woo-Yong Lee, Jun-Heum Yon, Ki-Hyuk 
Hong, and Tae-Hee Han “Frequency of 
unexpected antibody and consideration during 
transfusion” Korean J Anesthesiol. 2012 May; 62 
(5):412-417 
8. Neeraj Garg, Tanya Sharma, Bharat Singh 
“Prevalence of irregular red blood cell 
antibodies among healthy blood donors in Delhi 
population” Volume 50, Issue 3, June 2014, 
Pages 415–417. 
Xianjun Ma; Jing Fu; Zhonghua Chu; 
Xiuling Cao; Hongxin Li “Irregular-antibody 
Screening in Shandong Region and Clinical 
Impact on Blood Transfusion-a review of case 
from 2008 to 2010” December 2011, Journal of 
Convergence Information Technology; Dec 
2011, Vol. 6 Issue 12, p338. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_sang_loc_khang_the_bat_thuong_o_benh_nhan_truoc_p.pdf