Nghiên cứu rối loạn dung nạp glucose ở phụ nữ quanh mãn kinh

Mục tiêu:Đánh giá tỉ lệ đái tháo đường và

tiền đái tháo đường ở phụ nữ quanh mãn kinh

và tìm hiểu mối liên quan, tương quan giữa

đái tháo đường, tiền đái tháo đường với một

số yếu tố như tuổi, huyết áp, thể trọng và tình

trạng rối loạn lipid máu. Đối tượng và

phương pháp: Một nghiên cứu mô tả cắt

ngang 75 phụ nữ quanh mãn kinh bằng thực

hiện nghiệm pháp dung nạp glucose tại Bệnh

viện Đa khoa khu vực Bồng Sơn tỉnh Bình

Định, năm 2018.

pdf 7 trang phuongnguyen 600
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu rối loạn dung nạp glucose ở phụ nữ quanh mãn kinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu rối loạn dung nạp glucose ở phụ nữ quanh mãn kinh

Nghiên cứu rối loạn dung nạp glucose ở phụ nữ quanh mãn kinh
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
25 
NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN DUNG NẠP GLUCOSE 
Ở PHỤ NỮ QUANH MÃN KINH 
 Phan Long Nhơn 
Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn, Bình Định 
DOI: 10.47122/vjde.2020.43.4 
ABSTRACT 
Study on glucose tolerable disorder in 
women's period around of menopause 
Objective: To evaluate the percentage of 
diabetes and pre-diabetes of women's period 
around of menopause and learn about the 
relationship, correlation between diabetes, 
pre-diabetes and factors such as: Age, blood 
pressure, BMI and lipid disorders of women's 
period around of menopause. Subjects and 
Methods: A cross-sectional descriptive study 
of 75 women's period around of menopause 
by glucose tolerance test at Bong Son general 
hospital, Binh Dinh province since 2018. 
Result: 1. Results of glucose tolerable 
disorder; 66.66% of women's period around 
of menopause had normal blood glucose; 
21.34% of women's period around of 
menopause had diabetes.12% of women's 
period around of menopause had diabetes type 
2; 2. Results of the relationship and 
correlation: There was a relationship between 
BMI and prediabetes and type 2 diabetes; - 
There was a correlation between G2 and 
systolic blood pressure, diastolic blood 
pressure and total cholesterol of women's 
period around of menopause. There was not 
correlation between G0 and age, blood 
pressure, BMI and lipid parameters. 
Conclusion: There was a high percentage of 
diabetes and pre-diabetes of women's period 
around of menopause. Should be controlled 
early to treat for patient. 
Keywords: Glucose tolerable disorder, 
glucose tolerable test, women's period around 
of menopause 
TÓM TẮT 
Mục tiêu:Đánh giá tỉ lệ đái tháo đường và 
tiền đái tháo đường ở phụ nữ quanh mãn kinh 
và tìm hiểu mối liên quan, tương quan giữa 
đái tháo đường, tiền đái tháo đường với một 
số yếu tố như tuổi, huyết áp, thể trọng và tình 
trạng rối loạn lipid máu. Đối tượng và 
phương pháp: Một nghiên cứu mô tả cắt 
ngang 75 phụ nữ quanh mãn kinh bằng thực 
hiện nghiệm pháp dung nạp glucose tại Bệnh 
viện Đa khoa khu vực Bồng Sơn tỉnh Bình 
Định, năm 2018. Kết quả: 1. Kết quả rối loạn 
dung nạp glucose: Có 66,66% phụ nữ quanh 
mãn kinh glucose huyết bình thường; Có 
21,34% phụ nữ quanh mãn kinh bị tiền đái 
tháo đường; Có 12% phụ nữ quanh mãn kinh 
bị đái tháo đường tip 2; 2. Kết quả liên quan, 
tương quan: Có mối liên quan giữa BMI với 
tiền đái tháo đường và đái tháo đường tip2; 
Có tương quan giữa G2 với huyết áp tâm thu, 
huyết áp tâm trương và cholesterol toàn phần 
của phụ nữ quanh mãn kinh; Không có tương 
quan giữa G0 với các thông số tuổi, huyết áp, 
thể trọng và lipid máu. Kết luận: Có một tỷ lệ 
cao phụ nữ quanh mãn kinh bị đái tháo đường 
và tiền đái tháo đường. Rất cần thực hiện 
nghiệm pháp dung nạp glucose cho nhóm đối 
tượng này giúp phát hiện đái tháo đường và 
tiền đái tháo đường sớm để điều trị, dự phòng. 
Từ khóa:Rối loạn dung nạp glucose huyết, 
nghiệm pháp dung nạp glucose, phụ nữ quanh 
mãn kinh. 
Chịu trách nhiệm chính: Phan Long Nhơn 
Ngày nhận bài: 25/10/2020 
Ngày phản biện khoa học: 08/11/2020 
Ngày duyệt bài: 12/12/2020 
Email: [email protected] 
Điện thoại: 0914152385 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ngày nay bệnh đái tháo đường đã được 
đánh giá là một bệnh nội tiết chuyển hóa rất 
phổ biến trên thế giới và có xu hướng ngày 
càng gia tăng. Đái tháo đường đã thật sự là 
một gánh nặng của nền y tế mà tất cả các quốc 
gia đều tốn rất nhiều tiền và công sức cho việc 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
26 
điều trị, ngăn ngừa và khống chế. 
Trước khi phát triển thành đái tháo đường 
typ2 thì phần lớn bệnh nhân luôn có tiền đái 
tháo đường nghĩa là mức đường máu cao hơn 
bình thường nhưng chưa đủ tiêu chuẩn để 
chẩn đoán xác định đái tháo đường. Hai thể 
của tiền đái tháo đường là giảm dung nạp 
glucose và rối loạn glucose đói, đặc biệt rối 
loạn dung nạp glucose mà trước đây dã được 
quan niệm là đái tháo đường không triệu 
chứng “tiềm tàng” hay là đái tháo đường “sinh 
hóa”, ngày càng được lưu tâm nghiên cứu 
nhiều hơn vì lẽ nó được xem là có liên quan 
đến việc gia tăng nguy cơ tim mạch và tỷ lệ tử 
vong chung cho tất cả các nguyên nhân. Tiền 
đái tháo đường cần phải được phát hiện và 
điều trị sớm để giảm tỷ lệ mắc đái tháo đường 
thực thụ. 
Phụ nữ ở giai đoạn quanh mãn kinh là giai 
đoạn có nhiều sự thay đổi về tâm sinh lý, vóc 
dáng và nhất là về nội tiết, vì vậy cũng là giai 
đoạn tiềm ẩn của nhiều bệnh như béo phì, 
tăng huyết áp, mạch vành, rối loạn lipide máu 
và đặc biệt là tiền đái tháo đường và đái tháo 
đường, mà trong đó tiền đái tháo đường là giai 
đoạn bệnh chúng ta có thể phát hiện được 
không quá khó khăn thông qua một số xét 
nghiệm và kỷ thuật như nghiệm pháp dung 
nạp glucose. Tại Bệnh vện Đa khoa khu vực 
Bồng Sơn Bình Định nói chung và Khoa Nội 
tổng hợp nói riêng, hàng năm có một tỷ lệ rất 
lớn phụ nữ quanh mãn kinh điều trị mà trong 
đó đa phần chưa được chẩn đoán xác định bị 
tiền đái tháo đường hay đái tháo đường thực 
thụ. Xuất phát từ vấn đề cần thiết trên chúng 
tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu rối loạn 
dung nạp glucose ở phụ nữ quanh mãn 
kinh” nhằm 2 mục tiêu: 
1. Đánh giá tỷ lệ đái tháo đường và tiền 
đái tháo đường ở phụ nữ quanh mãn kinh. 
2. Tìm hiểu mối liên quan, tương quan 
giữa đái tháo đường, tiền đái tháo đường với 
một số yếu tố như tuổi, huyết áp, thể trọng và 
tình trạng rối loạn lipid máu. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh 
nhân nữ lứa tuổi 45-55 chưa mãn kinh, đang 
điều trị tại Khoa Nội tổng hợp BVĐKKV Bồng 
Sơn năm 2018. Loại trừ đã có bệnh ĐTĐ đã 
được chẩn đoán xác định, phụ nữ đang có thai, 
cho con bú. Bệnh nhân đang dùng thuốc hạ 
đường huyết và một số thuốc có liên quan nội 
tiết tố. Bênh nhân suy gan, suy thận nặng. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Theo 
phương pháp mô tả cắt ngang. 
2.3. Phương pháp đánh giá: Chỉ số BMI, 
phân độ béo gầy theo WHO 2000 Châu Á 
Thái Bình Dương. Tỷ vòng bung/vòng mông 
(VB/VM). Đánh giá quanh mãn kinh theo 
WHO 1996 (Phụ nữ 45-55 tuổi và còn hành 
kinh). Đánh giá rối loạn dung nạp glucose 
theo WHO-IDF 2013. ĐTĐ khi: 
Go>=126mg/dl (>=7mmol/l). Hoặc 
G2≥200mg/dl (>=11,1mmol/l). Rối loạn 
glucose đói (IFG - Tiền ĐTĐ) khi: 110mg/dl 
(6,1mmol/l) ≤Go <126mg/dl (7mmol/l) và G2 
< 140mg/dl (7,8mmol/L). Giảm dung nạp 
glucose (IGT –Tiền ĐTĐ khi: 
Go<126mmg/dl. Và 140mg/dl 
(7,8mmol/L)≤G2<200mg/dl (<11,1mmol. 
2.4. Phương pháp xử lý số liệu: 
Theo Medcalc version 9.0. và Exel 2010. 
3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Đặc điểm mẫu: Có 75 PNQMK chọn vào mẫu nghiên cứu. Tuổi TB 50,49 ± 4,39, nhỏ 
nhất 45 và lớn nhất 55.Có 14,67%gầy,70,67% trung bình, 4% tăng cân và 6,6% thể trọng béo 
phì. 13,33% có tỷ VB/VM bình thường và có 86,67% béo phì dạng nam. 
3.1.1. Đặc điểm nồng độ glucose TB của nhóm bình thường, TĐTĐ và ĐTĐ:Nồng độ 
glucose TB PNQMK TĐTĐ là: G0: 5,43±1,50mmol/L, G2: 8,98±2,97mmol/L. Của nhóm 
PNQMK ĐTĐ typ2 là: G0:7,51±1,31mmol/L,G2: 12,38±5,84mmol/L. 
3.1.2. Đặc điểm lipid máu và HA: Có 2,69% PNQMK có lipide máu bình thường, 46,66% 
rối loạn 1 thành tố lipide, 22,66% rối loạn 2 thành tố, 22,66% rối loạn 3 thành tố và có 5,33% rối 
loạn 4 thành tố lipide máu. Có 84% HA bình thường và 16% THA. 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
27 
3.2. Kết quả rối loạn dung nạp glucose 
3.2.1. Tỷ lệ tiền đái tháo đường và ĐTĐ typ2 
Bảng 3.1. Tỷ lệ TĐTĐ, ĐTĐ typ2 
Thông số 
BN 
p 
n Tỷ lệ % 
BT(1) 50 66,66 
P(1)(2)(3)<0,001 
P(2)(3)>0,05 
TĐTĐ(2) 16 21,34 
ĐTĐ(3) 9 12,00 
Tổng 75 100 
*Nhận xét: Có 66,66% PNQMK bình thường,21,34% TĐTĐ vá 12% ĐTĐ. 
Bảng 3.2. Tỷ lệ GDNG và RLGĐ 
Thông số 
BN 
p 
n Tỷ lệ % 
GDNG(IGT) 12 (1) 16,00 
P(1)(2)>0,05 
RLGĐ(IFG) 4 (2) 5,34 
ĐTĐ typ2 9 12,00 
BT 50 66,66 
Tổng 75 100 
*Nhận xét: Có 16% GDNG và 5,34% phụ nữ quanh mãn kinh có RLGĐ. 
3.2. Kết quả liên quan 
3.2.1. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với BMI 
Bảng 3.3. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với BMI 
BMI TĐTĐ (n=16) (%) ĐTĐ (n=9) (%) p 
Gầy 1 (6,25) 1 (11,15) 
<0,05 
Trung bình 15 (93,75) 4 (44,40) 
Tăng cân 0 1 (11,15) 
Béo phì 0 3 (33,30) 
Tổng 16 9 
*Nhận xét: Có mối liên quan giữa BMI với TĐTĐ và ĐTĐ typ2. 
3.2.2. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với VB/VM 
Bảng 3.4. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với VB/VM 
VB/VM TĐTĐ (n%) ĐTĐ (n%) p 
Bình thường 8 (50,00) 1 (11,10) 
>0,05 
Béo phì dạng nam 8 (50,00) 8 (88,90) 
Tổng 16 9 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
28 
*Nhận xét: Không có mối liên quan giữa VB/VM với TĐTĐ và ĐTĐ typ2. 
3.2.3. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với HA 
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với HA 
HA TĐTĐ (n%) ĐTĐ (n%) p 
HA Bình thường 8 (50,00) 3 (33,30) 
>0,05 
THA 8 (50,00) 6 (66,70) 
Tổng 16 9 
*Nhận xét: Không có mối liên quan giữa huyết áp với TĐTĐ và ĐTĐ typ2. 
3.2.4. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với rối loạn lipid máu 
Bảng 3.6. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với rối loạn lipid máu 
Lipide máu TĐTĐ (n%) ĐTĐ (n%) p 
Lipid bình thường 0 0 
>0,05 
Rối loạn lipid máu 16 (100) 9 (100) 
Tổng 16 9 
*Nhận xét: Không có mối liên quan giữa lipid máu với TĐTĐ và ĐTĐ typ2. 
3.3. Kết quả tương quan 
3.3.1. Mối tương quan giữa G0 với: Tuổi, HA, BMI và lipid máu 
Bảng 3.7. Mối tương quan giữa G0 với: Tuổi, HA, BMI và lipid máu 
G0 
Thông số 
Hệ số R2 p Phương trình tương quan tuyến tính 
Tuổi 0,0142 >0,05 Không tương quan 
HATT (mmHg) 0,0270 >0,05 Không tương quan 
HATTr (mmHg) 0,0081 >0,05 Không tương quan 
BMI 0,0139 >0,05 Không tương quan 
CHOL (mmol/l) 0,0146 >0,05 Không tương quan 
TG (mmol/l) 0,0005 >0,05 Không tương quan 
HDL-C (mmol/l) 0,0022 >0,05 Không tương quan 
LDL-C (mmoll/) 0,0043 >0,05 Không tương quan 
3.3.2. Mối tương quan giữa G2 với: Tuổi, HA, BMI và lipid máu 
Bảng 3.8. Mối tương quan giữa G2 với tuổi, HA, BMI và lipid máu 
 G2 
Thông số 
Hệ số R2 p Phương trình tương quan tuyến tính 
Tuổi 0,0147 >0,05 Không tương quan 
HATT (mmHg) 0,0894 <0,05 y = 1,4347 + 0,04236 x 
HATTr (mmHg) 0,0942 <0,05 y = -0,09773 + 0,09154 x 
BMI 0,0112 >0,05 Không tương quan 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
29 
CHOL (mmol/l) 0,0584 <0,05 y = 3,0169 + 0,7860 x 
TG (mmol/l) 0,0148 >0,05 Không tương quan 
HDL-C (mmol/l) 0,0022 >0,05 Không tương quan 
LDL-C (mmoll/) 0,0179 >0,05 Không tương quan 
4. BÀN LUẬN 
4.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu 
Nghiên cứu 75 PNQMK, mẫu nghiên cứu 
chúng tôi có tuổi TB 50,49 ± 4,39, tuổi nhỏ 
nhất 45 và tuổi lớn nhất 55. Kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi về thể trọng cho thấy có 
14,67% gầy, 70,67% thể trạng trung bình, 4% 
thể trạng tăng cân và có 10% béo phì. Trong 
nghiên cứu này cho kết quả thể trọng trung 
bình chiếm ưu thế. 
Điều này phù hợp với kết quả của nhiều 
nghiên cứu khác liên quan đến thể trọng 
người dân địa bàn Bắc Bình Định. Với bệnh 
nhân THA hể trạng trung bình chiếm 48,28%, 
PNMK THA, thể trọng trung bình chiếm 
62,58%. Ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim 
mạch, thể trạng TB chiếm 68,90%.Có 13,33% 
phụ nữ quanh mãn kinh có tỷ VB/VM bình 
thường và có 86,67% PNQMK có tỷ VB/VM 
béo phì dạng nam. Tỷ béo phì dạng nam là ưu 
thế, kết quả này cũng phù hợp với đặc điểm 
thể trọng của người dân địa bàn. Với bệnh 
nhân THA béo phì dạng nam 62,59%, phụ nữ 
mãn kinh THA, béo phì dạng nam chiếm 
76,32%. 
4.1.1.Đặc điểm nồng độ TB glucose của 
nhóm bình thường, TĐTĐ và ĐTĐ typ2 
- Nồng độ glucose trung bình của nhóm 
PNQMK TĐTĐ là: G0: 5,43±1,50mmol/L, 
G2 : 8,98±2,97mmol/L. Nồng độ glucose 
trung bình của nhóm PNQMK ĐTĐ typ2 là: 
G0: 7,51±1,31mmol/L, G2: 
12,38±5,84mmol/L Khác biệt có ý nghĩa 
thống kê p<0,05 của G0 giữa n hóm TĐTĐ 
với nhóm ĐTĐ Typ2. Không có khác biệt có 
ý nghĩa thống kê về nồng độ trung bình G2 
giữa nhóm TĐTĐ và ĐTĐ typ2 p>0,05. 
4.1.2. Đặc điểm lipid máu: Kết quả bảng 
3.4 Có 2,69% PNQMK có lipide máu bình 
thường.Có 46,66% rối loạn 1 thành tố lipide. 
Có 22,66% rối loạn 2 thành tố lipide máu. Có 
22,66% rối loạn 3 thành tố lipide máu. Và có 
5,33% PNQMK có rối loạn 4 thành tố lipide 
máu.Khác biệt có ý nghĩa giữa bình thường 
và rối loạn lipid máu p<0,001. 
Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ 
PNQMK không rối loạn lipid máu chỉ 2,96%. 
Đồng nghĩa với một tỷ lệ rối loạn lipid máu là 
rất cao 97,31%. Rõ ràng đây là một yếu tố 
nguy cơ rất quan trọng mà chưa được quan 
tâm ở đối tượng này. 
Kết quả rối loạn lipid máu rất cao này 
cũng hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của 
người dân địa bàn này. Qua nghiên cứu 140 
phụ nữ mãn kinh THA của nhóm tác giả Phan 
Long Nhơn, Bùi Thị Thanh Thủy, cho kết quả 
rối loạn lipid máu chiếm 62,58%. Ở bệnh 
nhân THA lớn tuổi tầng nguy cơ tim mạch 
cao và rất cao, tỷ lệ này lên đến 62,11% và đa 
phần đều có tăng cholesterol toàn phần, tăng 
LDL-C và giảm HDL-L. Điều này cho thấy 
PNQMK có RLLPM là rất cao và đây là nguy 
cơ của nhiều bệnh lý khác nhất là bệnh lý tim 
mạch mà cần phải có kế hoạch điều trị dự 
phòng sớm. 
4.2. Về rối loạn dung nạp glucose 
4.2.1. Tỷ lệ GDNG và RLGĐ: 
Kết quả bảng 3.2 về tỷ lệ GDNG và 
RLGĐ cho thấy: 16% PNQMK GDNG và có 
5,34% PNQMK có RLGĐ. Khác biệt không 
có ý nghĩa p>0,05. 
Như vậy kết quả nghiên cứu này cho thấy 
RLDNG của PNQMK là rất cao : 16% của 
GDNG và 5,34% của RLGĐ. Đồng thời kết 
quả bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ TĐTĐ, ĐTĐ typ 2 
như sau: Có 66,66% PNQMK bình thường, 
21,34% PNQMK có TĐTĐ và có 12% 
PNQMK có ĐTĐ typ2. Khác biệt có ý nghĩa 
p<0,001. 
Như vậy tỷ lệ TĐĐTĐ chiếm 21,34%, đây 
là một tỷ lệ rất cao và là yếu tố nguy cơ lớn 
mà phải quan tâm đến đối tượng này chưa kể 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
30 
còn phát hiện được 12% ĐTĐ typ2 thông qua 
nghiệm pháp dung nạp glucose. Một nghiên 
cứu về thực trạng TĐTĐ chưa được chẩn 
đoán cho mọi lứa tuổi cùng địa bàn đánh giá 
dựa vào HbA1C cho kết quả 53,38% TĐTĐ 
và lứa tuổi 45-60 chiếm 27,10%, nữ chiếm ưu 
thế 63,56%. 
Như vậy có vai trò quan trọng của 
PNQMK với kết quả trên. Kết quả nghiên cứu 
chúng tôi ở PNQMK có tỷ lệ tương đương 
với nghiên cứu cứu cả nhóm tác giả : Lê Anh 
Tuấn, Nguyễn Hải Thủy, Nguyễn Văn Thắng, 
26,4% TĐTĐ đánh giá dựa vào rối loạn 
đường huyết lúc đói và/hoặc rối loạn dung 
nạp glucose. 
Kết quả TĐTĐ ở PNQMK có thấp hơn đối 
tượng THA. Nghiên cứu Cao Mỹ Phượng, 
Đinh Thanh Huề, Nguyễn Hải Thủy cho thấy 
tỷ lệ này chiếm 40,5%. Như vậy nhiều nghiên 
cứu ở nhiều đối tượng đều cho thấy tỷ lệ 
TĐTĐ đều rất cao và thực tế việc đề cập đến 
điều trị TĐTĐ cũng chưa quan tâm đúng 
mức, đây là vấn đề còn thiếu sót của y học. 
4.2.2. Kết quả một số mối liên quan 
- Liên quan giữa BMI, VB/VM với TĐTĐ 
và ĐTĐ typ2: Kết quả bảng 3.3 cho thấy 
nhóm PNQMK có BMI trung bình chiếm cao 
nhất và có liên quan với TĐTĐ và ĐTĐ typ2, 
p<0,05. Điều này cho thấy có mối liên quan 
giữa thể trọng BMI đối với TĐTĐ và ĐTĐ 
typ2. Ngược lại với béo phì dạng nam, tính 
theo tỷ lệ VB/VM, kết quả nghiên cứu bảng 
3.4 cho thấy không có mối liên quan với 
TĐTĐ và ĐTĐ typ2. 
- Liên quan giữa HA với TĐTĐ và ĐTĐ 
typ2: Vai trò của huyết áp có liên quan gì với 
TĐTĐ và ĐTĐ, chúng tôi cũng tiến hành phân 
tích 2 nhóm đối tượng TĐTĐ và ĐTĐ có THA 
và HA bình thường. Bảng 3.5 cho thấy không 
có mối liên quan giữa TĐTĐ và ĐTĐ typ2 với 
tình trạng HA của PNQMK. Điều này cũng 
phù hợp với nghiên cứu về thực trạng tiền đái 
tháo đường tại địa bàn cũng cho thấy trong 63 
bệnh nhân được chẩn đoán TĐTĐ, có 30,15% 
THA và kết quả này cũng cho thấy không có 
mối liên quan p>0,05. 
- Liên quan giữa loạn lipid máu với TĐTĐ 
và ĐTĐ typ2: Bảng 3.6 cho thấy có 100% 
PNMK bị TĐTĐ đều bị rối loạn lipid máu và 
100% PNMK bị ĐTĐ đều bị rối loạn lipid máu 
nhưng qua phân tích thì vẫn không có mối liên 
quan với TĐTĐ và ĐTĐ typ2 p>0,05. 
4.3. Về mối tương quan 
4.3.1. Mối tương quan giữa G0 với tuổi, 
HA, BMI và lipid máu 
Trong nghiên cứu này Không có một mối 
tương quan nào giữa nồng độ glucose ớ thời 
điểm G0 với các thông số trên. Ngược lại với 
G2, kết quả nghiên cứu chúng tôi cho thấy có 
mối tương quan thuận vừa giữa HATT với G2 
với phương trình tuyến tính 
y = 1,4347+ 0,04236 x và cũng có mối tương 
quan thuận vừa giữa g2 với HATTr với 
phường trình tuyến tính y = -
0,09773 + 0,09154 x. 
Về tương quan giữa G2 với lipid máu, 
trong nghiên cứu chúng tôi cho kết quả chỉ có 
cholesterol toàn phần là có tương quan thuận 
mức độ vừa giữa G2 với nồng độ cholesterol 
toàn phần củ PNMK. Phương trình tương 
quan y = 3,0169 + 0,7860 x. 
Ngoài ra không có tương quan giữa G2 với 
tuổi, BMI và các thông số khác của lipid máu. 
Dù sao thì đây cũng chỉ là nghiên cứu bước 
đầu, hy vọng có nhiều nghiên cứu với cỡ mẫu 
lớn hơn nữa để khẳng định vấn đề này. 
5. KẾT LUẬN 
Qua nghiên cứu 75 PNQMK bằng nghiệm 
pháp dung nạp glucose, kết luận: 
- Có 66,66% PNMK glucose huyết bình 
thường. Có 21,34% PNQMK bị TĐTĐ.Có 
12% PNQMK bị ĐTĐ typ2. 
- Có mối liên quan giữa BMI với tiền đái 
tháo đường và đái tháo đường typ2.Có tương 
quan giữa G2 với HATT, HATTr và 
cholesterol toàn phần của PNQMK. Không 
tương quan giữa G0 với các thông số tuổi, 
HA, thể trọng và lipid máu. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Lê Văn Bàng (2008), “Tiền đái tháo 
đường”, Nxb Y học thực hành, Số 
616+617 Tr.79. 
2. Trần Hữu Dàng (2001), “Tỉ lệ đái tháo 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
31 
đường và giảm dung nạp glucose ở bệnh 
nhân tăng huyết áp”, Tạp chí Thông tin y 
dược Bộ Y tế, Số 0868-3891, Tr 130-133. 
3. Bùi Thị Thu Hoa, Nguyễn Hải Thủy 
(2008), “Khảo sát tăng glucose máu ở 
bệnh nhân gan nhiễm mỡ”, Nxb Y học 
thực hành, Số 616+617, Tr 587-593. 
4. Trần Thừa Nguyên, Trần Hữu Dàng, 
Phạm Minh, (2008), “Nghiên cứu rối 
loạn dung nạp glucose máu trên đối tượng 
cao tuổi bị gan nhiễm mỡ”, Nxb Y học 
thực hành, Số 616+617, Tr 671-677. 
5. Phan Long Nhơn, Bùi Thị Thanh Thủy 
(2008), “Nghiên cứu rối loạnlipid máu ở phụ 
nữ mãn kinh tăng huyết áp tại Bệnh viện đa 
khoa Bồng Sơn Bình Định”, Tạp chí Y học 
thực hành Số 616-617, tr 722-729. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_roi_loan_dung_nap_glucose_o_phu_nu_quanh_man_kinh.pdf