Nghiên cứu rối loạn dung nạp glucose ở phụ nữ quanh mãn kinh
Mục tiêu:Đánh giá tỉ lệ đái tháo đường và
tiền đái tháo đường ở phụ nữ quanh mãn kinh
và tìm hiểu mối liên quan, tương quan giữa
đái tháo đường, tiền đái tháo đường với một
số yếu tố như tuổi, huyết áp, thể trọng và tình
trạng rối loạn lipid máu. Đối tượng và
phương pháp: Một nghiên cứu mô tả cắt
ngang 75 phụ nữ quanh mãn kinh bằng thực
hiện nghiệm pháp dung nạp glucose tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Bồng Sơn tỉnh Bình
Định, năm 2018.
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu rối loạn dung nạp glucose ở phụ nữ quanh mãn kinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu rối loạn dung nạp glucose ở phụ nữ quanh mãn kinh
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 25 NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN DUNG NẠP GLUCOSE Ở PHỤ NỮ QUANH MÃN KINH Phan Long Nhơn Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn, Bình Định DOI: 10.47122/vjde.2020.43.4 ABSTRACT Study on glucose tolerable disorder in women's period around of menopause Objective: To evaluate the percentage of diabetes and pre-diabetes of women's period around of menopause and learn about the relationship, correlation between diabetes, pre-diabetes and factors such as: Age, blood pressure, BMI and lipid disorders of women's period around of menopause. Subjects and Methods: A cross-sectional descriptive study of 75 women's period around of menopause by glucose tolerance test at Bong Son general hospital, Binh Dinh province since 2018. Result: 1. Results of glucose tolerable disorder; 66.66% of women's period around of menopause had normal blood glucose; 21.34% of women's period around of menopause had diabetes.12% of women's period around of menopause had diabetes type 2; 2. Results of the relationship and correlation: There was a relationship between BMI and prediabetes and type 2 diabetes; - There was a correlation between G2 and systolic blood pressure, diastolic blood pressure and total cholesterol of women's period around of menopause. There was not correlation between G0 and age, blood pressure, BMI and lipid parameters. Conclusion: There was a high percentage of diabetes and pre-diabetes of women's period around of menopause. Should be controlled early to treat for patient. Keywords: Glucose tolerable disorder, glucose tolerable test, women's period around of menopause TÓM TẮT Mục tiêu:Đánh giá tỉ lệ đái tháo đường và tiền đái tháo đường ở phụ nữ quanh mãn kinh và tìm hiểu mối liên quan, tương quan giữa đái tháo đường, tiền đái tháo đường với một số yếu tố như tuổi, huyết áp, thể trọng và tình trạng rối loạn lipid máu. Đối tượng và phương pháp: Một nghiên cứu mô tả cắt ngang 75 phụ nữ quanh mãn kinh bằng thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Bồng Sơn tỉnh Bình Định, năm 2018. Kết quả: 1. Kết quả rối loạn dung nạp glucose: Có 66,66% phụ nữ quanh mãn kinh glucose huyết bình thường; Có 21,34% phụ nữ quanh mãn kinh bị tiền đái tháo đường; Có 12% phụ nữ quanh mãn kinh bị đái tháo đường tip 2; 2. Kết quả liên quan, tương quan: Có mối liên quan giữa BMI với tiền đái tháo đường và đái tháo đường tip2; Có tương quan giữa G2 với huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và cholesterol toàn phần của phụ nữ quanh mãn kinh; Không có tương quan giữa G0 với các thông số tuổi, huyết áp, thể trọng và lipid máu. Kết luận: Có một tỷ lệ cao phụ nữ quanh mãn kinh bị đái tháo đường và tiền đái tháo đường. Rất cần thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose cho nhóm đối tượng này giúp phát hiện đái tháo đường và tiền đái tháo đường sớm để điều trị, dự phòng. Từ khóa:Rối loạn dung nạp glucose huyết, nghiệm pháp dung nạp glucose, phụ nữ quanh mãn kinh. Chịu trách nhiệm chính: Phan Long Nhơn Ngày nhận bài: 25/10/2020 Ngày phản biện khoa học: 08/11/2020 Ngày duyệt bài: 12/12/2020 Email: [email protected] Điện thoại: 0914152385 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay bệnh đái tháo đường đã được đánh giá là một bệnh nội tiết chuyển hóa rất phổ biến trên thế giới và có xu hướng ngày càng gia tăng. Đái tháo đường đã thật sự là một gánh nặng của nền y tế mà tất cả các quốc gia đều tốn rất nhiều tiền và công sức cho việc Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 26 điều trị, ngăn ngừa và khống chế. Trước khi phát triển thành đái tháo đường typ2 thì phần lớn bệnh nhân luôn có tiền đái tháo đường nghĩa là mức đường máu cao hơn bình thường nhưng chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán xác định đái tháo đường. Hai thể của tiền đái tháo đường là giảm dung nạp glucose và rối loạn glucose đói, đặc biệt rối loạn dung nạp glucose mà trước đây dã được quan niệm là đái tháo đường không triệu chứng “tiềm tàng” hay là đái tháo đường “sinh hóa”, ngày càng được lưu tâm nghiên cứu nhiều hơn vì lẽ nó được xem là có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ tim mạch và tỷ lệ tử vong chung cho tất cả các nguyên nhân. Tiền đái tháo đường cần phải được phát hiện và điều trị sớm để giảm tỷ lệ mắc đái tháo đường thực thụ. Phụ nữ ở giai đoạn quanh mãn kinh là giai đoạn có nhiều sự thay đổi về tâm sinh lý, vóc dáng và nhất là về nội tiết, vì vậy cũng là giai đoạn tiềm ẩn của nhiều bệnh như béo phì, tăng huyết áp, mạch vành, rối loạn lipide máu và đặc biệt là tiền đái tháo đường và đái tháo đường, mà trong đó tiền đái tháo đường là giai đoạn bệnh chúng ta có thể phát hiện được không quá khó khăn thông qua một số xét nghiệm và kỷ thuật như nghiệm pháp dung nạp glucose. Tại Bệnh vện Đa khoa khu vực Bồng Sơn Bình Định nói chung và Khoa Nội tổng hợp nói riêng, hàng năm có một tỷ lệ rất lớn phụ nữ quanh mãn kinh điều trị mà trong đó đa phần chưa được chẩn đoán xác định bị tiền đái tháo đường hay đái tháo đường thực thụ. Xuất phát từ vấn đề cần thiết trên chúng tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu rối loạn dung nạp glucose ở phụ nữ quanh mãn kinh” nhằm 2 mục tiêu: 1. Đánh giá tỷ lệ đái tháo đường và tiền đái tháo đường ở phụ nữ quanh mãn kinh. 2. Tìm hiểu mối liên quan, tương quan giữa đái tháo đường, tiền đái tháo đường với một số yếu tố như tuổi, huyết áp, thể trọng và tình trạng rối loạn lipid máu. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân nữ lứa tuổi 45-55 chưa mãn kinh, đang điều trị tại Khoa Nội tổng hợp BVĐKKV Bồng Sơn năm 2018. Loại trừ đã có bệnh ĐTĐ đã được chẩn đoán xác định, phụ nữ đang có thai, cho con bú. Bệnh nhân đang dùng thuốc hạ đường huyết và một số thuốc có liên quan nội tiết tố. Bênh nhân suy gan, suy thận nặng. 2.2. Phương pháp nghiên cứu: Theo phương pháp mô tả cắt ngang. 2.3. Phương pháp đánh giá: Chỉ số BMI, phân độ béo gầy theo WHO 2000 Châu Á Thái Bình Dương. Tỷ vòng bung/vòng mông (VB/VM). Đánh giá quanh mãn kinh theo WHO 1996 (Phụ nữ 45-55 tuổi và còn hành kinh). Đánh giá rối loạn dung nạp glucose theo WHO-IDF 2013. ĐTĐ khi: Go>=126mg/dl (>=7mmol/l). Hoặc G2≥200mg/dl (>=11,1mmol/l). Rối loạn glucose đói (IFG - Tiền ĐTĐ) khi: 110mg/dl (6,1mmol/l) ≤Go <126mg/dl (7mmol/l) và G2 < 140mg/dl (7,8mmol/L). Giảm dung nạp glucose (IGT –Tiền ĐTĐ khi: Go<126mmg/dl. Và 140mg/dl (7,8mmol/L)≤G2<200mg/dl (<11,1mmol. 2.4. Phương pháp xử lý số liệu: Theo Medcalc version 9.0. và Exel 2010. 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Đặc điểm mẫu: Có 75 PNQMK chọn vào mẫu nghiên cứu. Tuổi TB 50,49 ± 4,39, nhỏ nhất 45 và lớn nhất 55.Có 14,67%gầy,70,67% trung bình, 4% tăng cân và 6,6% thể trọng béo phì. 13,33% có tỷ VB/VM bình thường và có 86,67% béo phì dạng nam. 3.1.1. Đặc điểm nồng độ glucose TB của nhóm bình thường, TĐTĐ và ĐTĐ:Nồng độ glucose TB PNQMK TĐTĐ là: G0: 5,43±1,50mmol/L, G2: 8,98±2,97mmol/L. Của nhóm PNQMK ĐTĐ typ2 là: G0:7,51±1,31mmol/L,G2: 12,38±5,84mmol/L. 3.1.2. Đặc điểm lipid máu và HA: Có 2,69% PNQMK có lipide máu bình thường, 46,66% rối loạn 1 thành tố lipide, 22,66% rối loạn 2 thành tố, 22,66% rối loạn 3 thành tố và có 5,33% rối loạn 4 thành tố lipide máu. Có 84% HA bình thường và 16% THA. Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 27 3.2. Kết quả rối loạn dung nạp glucose 3.2.1. Tỷ lệ tiền đái tháo đường và ĐTĐ typ2 Bảng 3.1. Tỷ lệ TĐTĐ, ĐTĐ typ2 Thông số BN p n Tỷ lệ % BT(1) 50 66,66 P(1)(2)(3)<0,001 P(2)(3)>0,05 TĐTĐ(2) 16 21,34 ĐTĐ(3) 9 12,00 Tổng 75 100 *Nhận xét: Có 66,66% PNQMK bình thường,21,34% TĐTĐ vá 12% ĐTĐ. Bảng 3.2. Tỷ lệ GDNG và RLGĐ Thông số BN p n Tỷ lệ % GDNG(IGT) 12 (1) 16,00 P(1)(2)>0,05 RLGĐ(IFG) 4 (2) 5,34 ĐTĐ typ2 9 12,00 BT 50 66,66 Tổng 75 100 *Nhận xét: Có 16% GDNG và 5,34% phụ nữ quanh mãn kinh có RLGĐ. 3.2. Kết quả liên quan 3.2.1. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với BMI Bảng 3.3. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với BMI BMI TĐTĐ (n=16) (%) ĐTĐ (n=9) (%) p Gầy 1 (6,25) 1 (11,15) <0,05 Trung bình 15 (93,75) 4 (44,40) Tăng cân 0 1 (11,15) Béo phì 0 3 (33,30) Tổng 16 9 *Nhận xét: Có mối liên quan giữa BMI với TĐTĐ và ĐTĐ typ2. 3.2.2. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với VB/VM Bảng 3.4. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với VB/VM VB/VM TĐTĐ (n%) ĐTĐ (n%) p Bình thường 8 (50,00) 1 (11,10) >0,05 Béo phì dạng nam 8 (50,00) 8 (88,90) Tổng 16 9 Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 28 *Nhận xét: Không có mối liên quan giữa VB/VM với TĐTĐ và ĐTĐ typ2. 3.2.3. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với HA Bảng 3.5. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với HA HA TĐTĐ (n%) ĐTĐ (n%) p HA Bình thường 8 (50,00) 3 (33,30) >0,05 THA 8 (50,00) 6 (66,70) Tổng 16 9 *Nhận xét: Không có mối liên quan giữa huyết áp với TĐTĐ và ĐTĐ typ2. 3.2.4. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với rối loạn lipid máu Bảng 3.6. Mối liên quan giữa ĐTĐ, TĐTĐ với rối loạn lipid máu Lipide máu TĐTĐ (n%) ĐTĐ (n%) p Lipid bình thường 0 0 >0,05 Rối loạn lipid máu 16 (100) 9 (100) Tổng 16 9 *Nhận xét: Không có mối liên quan giữa lipid máu với TĐTĐ và ĐTĐ typ2. 3.3. Kết quả tương quan 3.3.1. Mối tương quan giữa G0 với: Tuổi, HA, BMI và lipid máu Bảng 3.7. Mối tương quan giữa G0 với: Tuổi, HA, BMI và lipid máu G0 Thông số Hệ số R2 p Phương trình tương quan tuyến tính Tuổi 0,0142 >0,05 Không tương quan HATT (mmHg) 0,0270 >0,05 Không tương quan HATTr (mmHg) 0,0081 >0,05 Không tương quan BMI 0,0139 >0,05 Không tương quan CHOL (mmol/l) 0,0146 >0,05 Không tương quan TG (mmol/l) 0,0005 >0,05 Không tương quan HDL-C (mmol/l) 0,0022 >0,05 Không tương quan LDL-C (mmoll/) 0,0043 >0,05 Không tương quan 3.3.2. Mối tương quan giữa G2 với: Tuổi, HA, BMI và lipid máu Bảng 3.8. Mối tương quan giữa G2 với tuổi, HA, BMI và lipid máu G2 Thông số Hệ số R2 p Phương trình tương quan tuyến tính Tuổi 0,0147 >0,05 Không tương quan HATT (mmHg) 0,0894 <0,05 y = 1,4347 + 0,04236 x HATTr (mmHg) 0,0942 <0,05 y = -0,09773 + 0,09154 x BMI 0,0112 >0,05 Không tương quan Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 29 CHOL (mmol/l) 0,0584 <0,05 y = 3,0169 + 0,7860 x TG (mmol/l) 0,0148 >0,05 Không tương quan HDL-C (mmol/l) 0,0022 >0,05 Không tương quan LDL-C (mmoll/) 0,0179 >0,05 Không tương quan 4. BÀN LUẬN 4.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu Nghiên cứu 75 PNQMK, mẫu nghiên cứu chúng tôi có tuổi TB 50,49 ± 4,39, tuổi nhỏ nhất 45 và tuổi lớn nhất 55. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về thể trọng cho thấy có 14,67% gầy, 70,67% thể trạng trung bình, 4% thể trạng tăng cân và có 10% béo phì. Trong nghiên cứu này cho kết quả thể trọng trung bình chiếm ưu thế. Điều này phù hợp với kết quả của nhiều nghiên cứu khác liên quan đến thể trọng người dân địa bàn Bắc Bình Định. Với bệnh nhân THA hể trạng trung bình chiếm 48,28%, PNMK THA, thể trọng trung bình chiếm 62,58%. Ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch, thể trạng TB chiếm 68,90%.Có 13,33% phụ nữ quanh mãn kinh có tỷ VB/VM bình thường và có 86,67% PNQMK có tỷ VB/VM béo phì dạng nam. Tỷ béo phì dạng nam là ưu thế, kết quả này cũng phù hợp với đặc điểm thể trọng của người dân địa bàn. Với bệnh nhân THA béo phì dạng nam 62,59%, phụ nữ mãn kinh THA, béo phì dạng nam chiếm 76,32%. 4.1.1.Đặc điểm nồng độ TB glucose của nhóm bình thường, TĐTĐ và ĐTĐ typ2 - Nồng độ glucose trung bình của nhóm PNQMK TĐTĐ là: G0: 5,43±1,50mmol/L, G2 : 8,98±2,97mmol/L. Nồng độ glucose trung bình của nhóm PNQMK ĐTĐ typ2 là: G0: 7,51±1,31mmol/L, G2: 12,38±5,84mmol/L Khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,05 của G0 giữa n hóm TĐTĐ với nhóm ĐTĐ Typ2. Không có khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ trung bình G2 giữa nhóm TĐTĐ và ĐTĐ typ2 p>0,05. 4.1.2. Đặc điểm lipid máu: Kết quả bảng 3.4 Có 2,69% PNQMK có lipide máu bình thường.Có 46,66% rối loạn 1 thành tố lipide. Có 22,66% rối loạn 2 thành tố lipide máu. Có 22,66% rối loạn 3 thành tố lipide máu. Và có 5,33% PNQMK có rối loạn 4 thành tố lipide máu.Khác biệt có ý nghĩa giữa bình thường và rối loạn lipid máu p<0,001. Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ PNQMK không rối loạn lipid máu chỉ 2,96%. Đồng nghĩa với một tỷ lệ rối loạn lipid máu là rất cao 97,31%. Rõ ràng đây là một yếu tố nguy cơ rất quan trọng mà chưa được quan tâm ở đối tượng này. Kết quả rối loạn lipid máu rất cao này cũng hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của người dân địa bàn này. Qua nghiên cứu 140 phụ nữ mãn kinh THA của nhóm tác giả Phan Long Nhơn, Bùi Thị Thanh Thủy, cho kết quả rối loạn lipid máu chiếm 62,58%. Ở bệnh nhân THA lớn tuổi tầng nguy cơ tim mạch cao và rất cao, tỷ lệ này lên đến 62,11% và đa phần đều có tăng cholesterol toàn phần, tăng LDL-C và giảm HDL-L. Điều này cho thấy PNQMK có RLLPM là rất cao và đây là nguy cơ của nhiều bệnh lý khác nhất là bệnh lý tim mạch mà cần phải có kế hoạch điều trị dự phòng sớm. 4.2. Về rối loạn dung nạp glucose 4.2.1. Tỷ lệ GDNG và RLGĐ: Kết quả bảng 3.2 về tỷ lệ GDNG và RLGĐ cho thấy: 16% PNQMK GDNG và có 5,34% PNQMK có RLGĐ. Khác biệt không có ý nghĩa p>0,05. Như vậy kết quả nghiên cứu này cho thấy RLDNG của PNQMK là rất cao : 16% của GDNG và 5,34% của RLGĐ. Đồng thời kết quả bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ TĐTĐ, ĐTĐ typ 2 như sau: Có 66,66% PNQMK bình thường, 21,34% PNQMK có TĐTĐ và có 12% PNQMK có ĐTĐ typ2. Khác biệt có ý nghĩa p<0,001. Như vậy tỷ lệ TĐĐTĐ chiếm 21,34%, đây là một tỷ lệ rất cao và là yếu tố nguy cơ lớn mà phải quan tâm đến đối tượng này chưa kể Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 30 còn phát hiện được 12% ĐTĐ typ2 thông qua nghiệm pháp dung nạp glucose. Một nghiên cứu về thực trạng TĐTĐ chưa được chẩn đoán cho mọi lứa tuổi cùng địa bàn đánh giá dựa vào HbA1C cho kết quả 53,38% TĐTĐ và lứa tuổi 45-60 chiếm 27,10%, nữ chiếm ưu thế 63,56%. Như vậy có vai trò quan trọng của PNQMK với kết quả trên. Kết quả nghiên cứu chúng tôi ở PNQMK có tỷ lệ tương đương với nghiên cứu cứu cả nhóm tác giả : Lê Anh Tuấn, Nguyễn Hải Thủy, Nguyễn Văn Thắng, 26,4% TĐTĐ đánh giá dựa vào rối loạn đường huyết lúc đói và/hoặc rối loạn dung nạp glucose. Kết quả TĐTĐ ở PNQMK có thấp hơn đối tượng THA. Nghiên cứu Cao Mỹ Phượng, Đinh Thanh Huề, Nguyễn Hải Thủy cho thấy tỷ lệ này chiếm 40,5%. Như vậy nhiều nghiên cứu ở nhiều đối tượng đều cho thấy tỷ lệ TĐTĐ đều rất cao và thực tế việc đề cập đến điều trị TĐTĐ cũng chưa quan tâm đúng mức, đây là vấn đề còn thiếu sót của y học. 4.2.2. Kết quả một số mối liên quan - Liên quan giữa BMI, VB/VM với TĐTĐ và ĐTĐ typ2: Kết quả bảng 3.3 cho thấy nhóm PNQMK có BMI trung bình chiếm cao nhất và có liên quan với TĐTĐ và ĐTĐ typ2, p<0,05. Điều này cho thấy có mối liên quan giữa thể trọng BMI đối với TĐTĐ và ĐTĐ typ2. Ngược lại với béo phì dạng nam, tính theo tỷ lệ VB/VM, kết quả nghiên cứu bảng 3.4 cho thấy không có mối liên quan với TĐTĐ và ĐTĐ typ2. - Liên quan giữa HA với TĐTĐ và ĐTĐ typ2: Vai trò của huyết áp có liên quan gì với TĐTĐ và ĐTĐ, chúng tôi cũng tiến hành phân tích 2 nhóm đối tượng TĐTĐ và ĐTĐ có THA và HA bình thường. Bảng 3.5 cho thấy không có mối liên quan giữa TĐTĐ và ĐTĐ typ2 với tình trạng HA của PNQMK. Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu về thực trạng tiền đái tháo đường tại địa bàn cũng cho thấy trong 63 bệnh nhân được chẩn đoán TĐTĐ, có 30,15% THA và kết quả này cũng cho thấy không có mối liên quan p>0,05. - Liên quan giữa loạn lipid máu với TĐTĐ và ĐTĐ typ2: Bảng 3.6 cho thấy có 100% PNMK bị TĐTĐ đều bị rối loạn lipid máu và 100% PNMK bị ĐTĐ đều bị rối loạn lipid máu nhưng qua phân tích thì vẫn không có mối liên quan với TĐTĐ và ĐTĐ typ2 p>0,05. 4.3. Về mối tương quan 4.3.1. Mối tương quan giữa G0 với tuổi, HA, BMI và lipid máu Trong nghiên cứu này Không có một mối tương quan nào giữa nồng độ glucose ớ thời điểm G0 với các thông số trên. Ngược lại với G2, kết quả nghiên cứu chúng tôi cho thấy có mối tương quan thuận vừa giữa HATT với G2 với phương trình tuyến tính y = 1,4347+ 0,04236 x và cũng có mối tương quan thuận vừa giữa g2 với HATTr với phường trình tuyến tính y = - 0,09773 + 0,09154 x. Về tương quan giữa G2 với lipid máu, trong nghiên cứu chúng tôi cho kết quả chỉ có cholesterol toàn phần là có tương quan thuận mức độ vừa giữa G2 với nồng độ cholesterol toàn phần củ PNMK. Phương trình tương quan y = 3,0169 + 0,7860 x. Ngoài ra không có tương quan giữa G2 với tuổi, BMI và các thông số khác của lipid máu. Dù sao thì đây cũng chỉ là nghiên cứu bước đầu, hy vọng có nhiều nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn nữa để khẳng định vấn đề này. 5. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu 75 PNQMK bằng nghiệm pháp dung nạp glucose, kết luận: - Có 66,66% PNMK glucose huyết bình thường. Có 21,34% PNQMK bị TĐTĐ.Có 12% PNQMK bị ĐTĐ typ2. - Có mối liên quan giữa BMI với tiền đái tháo đường và đái tháo đường typ2.Có tương quan giữa G2 với HATT, HATTr và cholesterol toàn phần của PNQMK. Không tương quan giữa G0 với các thông số tuổi, HA, thể trọng và lipid máu. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lê Văn Bàng (2008), “Tiền đái tháo đường”, Nxb Y học thực hành, Số 616+617 Tr.79. 2. Trần Hữu Dàng (2001), “Tỉ lệ đái tháo Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 31 đường và giảm dung nạp glucose ở bệnh nhân tăng huyết áp”, Tạp chí Thông tin y dược Bộ Y tế, Số 0868-3891, Tr 130-133. 3. Bùi Thị Thu Hoa, Nguyễn Hải Thủy (2008), “Khảo sát tăng glucose máu ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ”, Nxb Y học thực hành, Số 616+617, Tr 587-593. 4. Trần Thừa Nguyên, Trần Hữu Dàng, Phạm Minh, (2008), “Nghiên cứu rối loạn dung nạp glucose máu trên đối tượng cao tuổi bị gan nhiễm mỡ”, Nxb Y học thực hành, Số 616+617, Tr 671-677. 5. Phan Long Nhơn, Bùi Thị Thanh Thủy (2008), “Nghiên cứu rối loạnlipid máu ở phụ nữ mãn kinh tăng huyết áp tại Bệnh viện đa khoa Bồng Sơn Bình Định”, Tạp chí Y học thực hành Số 616-617, tr 722-729.
File đính kèm:
nghien_cuu_roi_loan_dung_nap_glucose_o_phu_nu_quanh_man_kinh.pdf

