Nghiên cứu phương pháp gây mê không sử dụng thuốc giãn cơ có đặt ống Univent cho phẫu thuật nội soi cắt tuyến ức điều trị bệnh nhược cơ

Nghiên cứu can thiệp trên 90 bệnh nhân nhược cơ (nhóm I, IIA, IIB theo phân loại của Perlo- Ossermann) chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: Nhóm propofol TCI (45 BN) được gây mê bằng propofol TCI và nhóm sevofluran (45 BN) được gây mê bằng sevofluran.

1.Cả hai phương pháp khởi mê bằng sufentanil 0,5µg/kg cân nặng kết hợp với propofol có kiểm soát nồng độ đích với Ce 5µg/ml hoặc không kiểm soát nồng độ đích với liều 2-2,5mg/kg cân nặng đều có hiệu quả vô cảm tốt và an toàn. Tất cả các bệnh nhân đều đặt được ống NKQ Univent thành công sau một lần duy nhất.

2. Duy trì mê bằng sufentanil 0,2µg/kg/giờ kết hợp với hoặc thuốc mê tĩnh mạch propofol có kiểm soát nồng độ đích (Ce= 3,5-4,5µg/ml) hoặc thuốc mê bốc hơi sevofluran (1-1,5MAC) có hiệu quả duy trì mê tốt, an toàn và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm nghiên cứu (p>0,05). Huyết động, hô hấp được duy trì ổn định, phẫu thuật viên hài lòng với phương pháp vô cảm trên tất cả các bệnh nhân.

3. Tất cả các bệnh nhân sau phẫu thuật đều có đầy đủ tiêu chuẩn rút ống NKQ Univent ngay sau mổ tại phòng mổ. Tình trạng hô hấp trong 72 giờ sau phẫu thuật trong giới hạn bình thường. Tổn thương đường thở do đặt ống NKQ chiếm tỷ lệ: 21,11% bao gồm đau họng; khàn tiếng do xung huyết hoặc phù nề thanh quản thanh môn, khí quản. Các tổn thương này mức độ nhẹ, phạm vi hẹp, giảm dần và khỏi trong vòng 3 ngày sau mổ

pdf 9 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu phương pháp gây mê không sử dụng thuốc giãn cơ có đặt ống Univent cho phẫu thuật nội soi cắt tuyến ức điều trị bệnh nhược cơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu phương pháp gây mê không sử dụng thuốc giãn cơ có đặt ống Univent cho phẫu thuật nội soi cắt tuyến ức điều trị bệnh nhược cơ

Nghiên cứu phương pháp gây mê không sử dụng thuốc giãn cơ có đặt ống Univent cho phẫu thuật nội soi cắt tuyến ức điều trị bệnh nhược cơ
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 100 
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP GÂY MÊ KHÔNG SỬ DỤNG THUỐC GIÃN CƠ 
CÓ ĐẶT ỐNG UNIVENT CHO PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TUYẾN ỨC ĐIỀU TRỊ 
BỆNH NHƯỢC CƠ 
Võ Văn Hiển*, Nguyễn Trường Giang*, Mai Văn Viện**, Nguyễn Văn Nam*, Nguyễn Trung Kiên * 
TÓM TẮT 
Nghiên cứu can thiệp trên 90 bệnh nhân 
nhược cơ (nhóm I, IIA, IIB theo phân loại của 
Perlo- Ossermann) chia ngẫu nhiên thành 2 
nhóm: Nhóm propofol TCI (45 BN) được gây mê 
bằng propofol TCI và nhóm sevofluran (45 BN) 
được gây mê bằng sevofluran. 
1.Cả hai phương pháp khởi mê bằng 
sufentanil 0,5µg/kg cân nặng kết hợp với propofol 
có kiểm soát nồng độ đích với Ce 5µg/ml hoặc 
không kiểm soát nồng độ đích với liều 2-2,5mg/kg 
cân nặng đều có hiệu quả vô cảm tốt và an toàn. Tất 
cả các bệnh nhân đều đặt được ống NKQ Univent 
thành công sau một lần duy nhất. 
2. Duy trì mê bằng sufentanil 0,2µg/kg/giờ 
kết hợp với hoặc thuốc mê tĩnh mạch propofol có 
kiểm soát nồng độ đích (Ce= 3,5-4,5µg/ml) hoặc 
thuốc mê bốc hơi sevofluran (1-1,5MAC) có hiệu 
quả duy trì mê tốt, an toàn và không có sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm nghiên 
cứu (p>0,05). Huyết động, hô hấp được duy trì ổn 
định, phẫu thuật viên hài lòng với phương pháp 
vô cảm trên tất cả các bệnh nhân. 
3. Tất cả các bệnh nhân sau phẫu thuật đều 
có đầy đủ tiêu chuẩn rút ống NKQ Univent ngay 
sau mổ tại phòng mổ. Tình trạng hô hấp trong 72 
giờ sau phẫu thuật trong giới hạn bình thường. Tổn 
thương đường thở do đặt ống NKQ chiếm tỷ lệ: 
21,11% bao gồm đau họng; khàn tiếng do xung 
huyết hoặc phù nề thanh quản thanh môn, khí quản. 
Các tổn thương này mức độ nhẹ, phạm vi hẹp, giảm 
dần và khỏi trong vòng 3 ngày sau mổ. 
Từ khóa: Bệnh nhược cơ, propofol TCI, 
sevofluran, thuốc giãn cơ. 
SUMMARY 
ANESTHESIA WITHOUT MUSCULAR 
RELAXANTS AND UNIVENT TUBE 
INTUBATION FOR THORACOSCOPIC 
THYMECTOMY IN MYASTHENIA 
GRAVIS PATIENTS 
90 MG patients (class I, IIA, IIB – according 
to the clacssification of Perlo- Ossermann) 
undergoing thoracoscopic thymectomy randomly 
divided into 2 groups. Propofol TCI group (45 
patients) were anesthetized with propofol TCI and 
sevoflurane group (45 patients) were anesthetized 
with sevoflurane. 
1. Both methods of induction by sufentanil 
(0.5µg/kg) with propofol TCI (Ce: 5μg/ml) or MCI 
(inject by hand) (2 to 2.5mg/kg) had a good and safe 
anesthetic effect. All patients were intubated 
Univent tubes successfully. * 
2. Sufentanil was infused with the rate of 
0.2μg/kg/h in combination with propofol TCI (Ce 
= 3.5-4.5μg/ml) or with sevoflurane (1-1.5MAC) to 
ensure effective and safe anesthesia. Hemodynamic 
and respiratory funtion were maintained stabitility. 
Surgeons were satisfied with the anesthesia method 
applied in both groups. 
3. All the patients met the criteria for 
extubation immediately at the end of surgery in the 
operating room. Respiratory funtion for the first 72 
hours after surgery was normal. Airway injuries 
(21.11%) including sore throat and hoarseness. 
Lesions were determine through laryngotracheal 
* Bệnh viện quân y 103- Học Viện Quân Y 
** Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Trường Giang 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP GÂY MÊ KHÔNG SỬ DỤNG THUỐC GIÃN NỠ CÓ ĐẶT ỐNG UNIVENT... 
 101 
endoscopic include: congestion and edema. The 
lesions of the airway were mild, narrow and lasted 
no longer than 3 days postoperative. 
*Keyword: Mysthenia gravis, propofol TCI, 
sevoflurane, muscle relaxant. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Vô cảm cho phẫu thuật trên bệnh nhân 
(BN) nhược cơ (NC) nói chung và phẫu thuật cắt 
tuyến ức ở BN NC nói riêng luôn là một thách 
thức lớn đối với các nhà gây mê hồi sức. Các BN 
NC thường nhạy cảm với các loại thuốc sử dụng 
trong gây mê như các thuốc ngủ, các thuốc giảm 
đau và các thuốc giãn cơ ở các mức độ khác 
nhau. Đặc biệt, nếu sử dụng thuốc giãn cơ sẽ có 
những nguy cơ cao như không thể rút được ống 
NKQ ngay sau mổ, BN phải thông khí nhân tạo 
kéo dài kéo theo nhiều nguy cơ khác như viêm 
phổi, phế quản, cơn NC, cơn cholinergic làm 
ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Chính vì vậy 
nhiều tác giả cho rằng không nên dùng thuốc giãn 
cơ khi gây mê cho BN NC nhằm tránh các tác 
dụng phụ của thuốc. Tuy nhiên, nếu không dùng 
thuốc giãn cơ thì sử dụng thuốc mê như thế nào 
để đảm bảo cho việc đặt ống NKQ và thuận lợi 
cho phẫu thuật, có gây tổn thương trên đường thở 
do việc đặt ống NKQ hay không, thời điểm rút 
ống NKQ và tình trạng hô hấp sau phẫu thuật như 
thế nào, là những vấn đề chưa được nghiên cứu 
và đánh giá một cách có hệ thống. 
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng 
hai loại thuốc mê là propofol theo kỹ thuật TCI 
(gây mê kiểm soát nồng độ đích) và sevoflurane 
không kèm thuốc giãn cơ, với mục tiêu: 
1. Đánh giá hiệu quả gây mê bằng 
propofol TCI hoặc bằng sevoflurane không kèm 
thuốc giãn cơ ở bệnh nhân nhược cơ có đặt ống 
NKQ Univent cho phẫu thuật nội soi cắt tuyến ức 
ở bệnh nhân nhược cơ. 
2. Thời điểm rút ống nội khí quản sau mổ 
và tình trạng hô hấp sau khi rút ống NKQ. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên 
cứu: Nghiên cứu trên 90 BN được chẩn đoán xác 
định bệnh NC có chỉ định phẫu thuật cắt tuyến ức 
nội soi tại khoa Gây mê Hồi sức – Bệnh viện 
quân y 103 từ tháng 01/2012 đến tháng 1/2016, 
chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: 
- Nhóm 1 (45 BN): Sử dụng phương pháp gây 
mê không dùng thuốc giãn cơ. Khởi mê và duy trì mê 
bằng sufentanil kết hợp với propofol có kiểm soát 
nồng độ đích (propofol TCI). 
- Nhóm 2 (45 BN): Sử dụng phương pháp 
gây mê không dùng thuốc giãn cơ. Khởi mê 
bằng sufentanil kết hợp với propofol theo 
phương pháp tiêm tĩnh mạch bằng tay thông 
thường, duy trì mê bằng sufentanil kết hợp với 
thuốc mê bốc hơi sevofluran. 
Sau khi khởi mê và BN ở cả hai nhóm 
nghiên cứu mất ý thức tiến hành đặt ống NKQ 
Univent (Fuji System- Nhật Bản). Dùng ống nội 
soi phế quản mềm để xác định chính xác vị trí của 
ống nội khí quản và vị trí của cuff chẹn phế quản 
(bronchial blocker). Duy trì thông khí nhân tạo 
hai phổi (TKHP) với mode A/C với các chỉ số 
FiO2= 60%, f=14l/ phút; Vt= 10ml/kg cân nặng 
và được điều chỉnh sao cho giá trị của PetCO2 
trong khoảng 28- 32 mmHg. Khi thông khí một 
phổi (TKMP), tiến hành bơm 5-6ml không khí 
vào cuff chẹn phế quản và cài đặt Vt= 6-8ml/kg, 
f= 16-18 lần/phút, FiO2= 100% được điều chỉnh 
sao cho SpO2> 95%, P-peak < 30 cmH2O, 
PetCO2 < 35mmHg. 
Duy trì nồng độ đích của propofol là 3 – 5 
μg/ml (nhóm 1), duy trì EtSevoflurane mức 1- 1,5 
MAC (với FGF<1l/phút, FiO2= 60%) (nhóm 2). 
Duy trì sufentanil bằng bơm tiêm điện với tốc độ 
truyền thuốc là 0,2 μg/kg/h. 
BN được rút ống NKQ ngay tại phòng mổ 
khi có đủ các điều kiện. Trong trường hợp BN 
không đủ điều kiện rút ống NKQ thì chuyển BN về 
khoa hồi sức tích cực tiếp tục thông khí nhân tạo. 
2.2. Xử lý số liệu: Các số liệu nghiên cứu 
thu được được xử lý theo phần mềm thống kê Y 
học SPSS Statistics 22.0 với kết quả ở dạng tỷ lệ 
%, giá trị trung bình ( X )và độ lệch chuẩn (SD). 
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 102 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Một số đặc điểm của nhóm BN nghiên cứu 
Bảng 3.1. Một số đặc điểm của nhóm BN nghiên cứu 
Đặc điểm Nhóm 1 (n=45) 
Nhóm 2 
(n=45) 
Nam 20(44,44%) 21(46,67%) Giới tính Nữ 25(55,56%) 24(53,33%) 
Tuổi ( X ±SD) (năm) 41,38 ± 15,62 40,87 ± 12,05 
I 15 (33,33%) 13 (28,89%) 
IIa 27 (60,00%) 22(48,89%) Độ NC theo Osserman 
IIb 3 (6,67%) 10(22,22%) 
Thời gian mất phản xạ mi mắt (giây) 96,76± 11,86 45- 120 
117,07±18,06* 
57-155 
Thời gian đạt chỉ số RE, SE <50 (giây) 129,56± 13,38 90- 170 
147,11±16,96* 
100-186 
Thời gian đặt ống NKQ (phút) 6,32± 1,25 4,5- 10,0 
6,61± 1,50 
3,5 – 12,5 
Thời gian phẫu thuật (phút) 115,7 ± 33,5 60 – 180 
127,2 ± 25,6 
60 – 145 
Thời gian gây mê (phút) 145,9 ± 28,7 90- 210 
140,4 ± 20,5 
90-180 
Thời gian tỉnh trở lại (phút) 9,98±2,06 7- 15 
11,57±1,97 
8-15 
Thời gian rút ống NKQ (phút) 13,54 ± 1,96 9.5 – 18 
12,89 ±1,93 
8- 17 
Các mốc 
 thời gian trong 
gây mê 
( X ±SD) 
Thời gian nhận thức bản thân (phút) 15,00 ± 2,06 11-19 
13,94 ± 2,01 
9,5-18 
(*): Khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p< 0,05. 
3.2. Điều kiện đặt ống NKQ và mức độ thuận lợi của phẫu thuật 
3.2.1. Điều kiện đặt ống NKQ 
3.2.1.1. Đánh giá điều kiện đặt ống NKQ theo thang điểm của Viby- Mogensen [5] 
77.78%
22.22%
0.00%
82.22%
17.78%
0.00%
0%
50%
100%
Rất tốt Tốt Kém
Điều kiện đặt ống nội khí quản
Tỷ
 lệ
 % Nhóm 1 Nhóm 2
Hình 3.1: Điều kiện đặt ống NKQ 
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP GÂY MÊ KHÔNG SỬ DỤNG THUỐC GIÃN NỠ CÓ ĐẶT ỐNG UNIVENT... 
 103 
3.2.1.2. Biến đổi huyết động trước và sau khi đặt ống NKQ và tại các thời điểm trong quá trình 
phẫu thuật: Sau khi khởi mê nhịp tim và HAĐM có xu hướng giảm so với thời điểm ban đầu T0 
(p<0,05) ở cả hai nhóm nghiên cứu. Sau khi đặt ống NKQ mạch và HAĐM tăng hơn so với thời điểm 
trước đặt ống NKQ (p<0,05). Các thời điểm khác trong quá trình phẫu thuật, nhịp tim và HAĐM đều ở 
trong giới hạn bình thường và không có sự khác biệt giữa hai nhóm. 
3.2.2. Mức độ thuận lợi của phẫu thuật 
3.2.2.1. Đánh giá mức độ xẹp phổi 
Bảng 3.2. Đánh giá mức độ xẹp phổi 
Nhóm1 
(n=45) 
Nhóm 2 
(n=45) Mức độ 
Số BN Tỷ lệ (%) Số BN Tỷ lệ (%) 
Phổi xẹp hoàn toàn 39 86,67 40 88,89 
Phổi xẹp một phần không ảnh hưởng đến 
trường mổ 
6 13,33 5 11,11 
3.2.2.2. Mức độ hài lòng của phẫu thuật viên đối với phương pháp vô cảm 
Bảng 3.3. Mức độ hài lòng của phẫu thuật viên 
Nhóm 1 
 (n=45) 
Nhóm 2 
(n=45) 
Cộng 
(n=90) Mức độ 
Số BN Tỷ lệ (%) Số BN Tỷ lệ (%) Số BN Tỷ lệ(%) 
Rất hài lòng 40 88,89 40 88,89 80 88,89 
Hài lòng 5 11,11 5 11,11 10 11,11 
3.2.3. Ảnh hưởng của propofol TCI và sevoflurane lên chỉ số TOF 
Hình 3.2. Biến đổi chỉ số TOF tại các thời điểm trong gây mê 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 104 
3.3. Biến đổi hô hấp sau phẫu thuật 
3.3.1. Biến đổi tần số thở và SpO2 sau rút ống NKQ 
Tần số thở và SpO2 sau mổ của hai nhóm nghiên cứu sau khí rút ống NKQ ở cả hai nhóm đều 
nằm trong giới hạn bình thường, không có BN nào phải đặt ống NKQ lại do các biến chứng cơn NC, 
cơn cholinergic hoặc do suy hô hấp sau mổ. 
3.3.2. Biến đổi khí máu động mạch 
Bảng 3.4. Kết quả khí máu động mạch 
pH 
( X ±SD) 
PaCO2(mmHg) 
( X ±SD) 
PaO2(mmHg) 
( X ±SD) 
 Chỉ tiêu 
Nhóm 1 
(n=45) 
Nhóm 2 
(n=45) 
Nhóm 1 
(n=45) 
Nhóm 2 
(n=45) 
Nhóm 1 
(n=45) 
Nhóm 2 
(n=45) 
Trước mổ 7,39± 0,03 7,40±0,03 40,8±2,8 39,8±2,6 90,3±4,2 90,9±3,9 
TKHP 7,41±0,04 7,40±0,04 36,8±2,7 37,0±2,1 227,5±58,0 216,4±56,1* 
TKMP 7,41± 0,04 7,40±0,04 41,4±5,0 40,4±4,1 191,7±51,5 161,8±46,8 
2h sau rút 
NKQ 
7,37± 0,05 7,34±0,03 43,57± 3,16 42,54±3,80 84,84±6,82 89,98±29,96* 
Ngày1 
sau mổ 
7,39±0,04 7,37±0,02 42,00±4,27 40,29±2,0 87,8±8,8 89,0±6,6 
Ngày 2 
sau mổ 
7,39±0,03 7,39±0,02 40,09±3,13 39,64±2,66 91,58±5,15 89,98±3,82 
Ngày 3 
sau mổ 
7,40±0,02 7,38±0,02 40,12±3,01 39,56±2,38 92,38±4,21 93,31±3,12 
(*): Khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm với p<0,05. 
3.4. Mức độ tổn thương thanh khí quản do đặt ống NKQ 
Hình 3.3. Tỷ lệ bệnh nhân và thời gian khàn tiếng và đau họng sau phẫu thuật 
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP GÂY MÊ KHÔNG SỬ DỤNG THUỐC GIÃN NỠ CÓ ĐẶT ỐNG UNIVENT... 
 105 
Bảng 3.5. Tỷ lệ BN có tổn thương đường thở xác định qua nội soi thanh khí quản 
 Nhóm 
Tổn thương 
Nhóm 1 
(n=45) 
Nhóm 2 
(n=45) 
Chung 
(n=90) 
Xung huyết 2 (4,44%) 2(4,44%) 4(4,44%) Thanh quản 
thanh môn Phù nề 2(4,44%) 3(6,67%) 5(5,56%) 
Khí quản Xung huyết 3 (6,67%) 2(4,44%) 5(5,56%) 
Tổn thương xung huyết thanh quản 
thanh môn và khí quản 
1(2,22%) 1(2,22%) 2(2,22%) 
Cộng 8(17,78%) 8(17,78%) 16(17,78%) 
IV. BÀN LUẬN 
Nhược cơ (Myasthenia gravis) là một 
bệnh tự miễn mắc phải có liên quan đến hoạt 
động và bệnh lý của tuyến ức. Nghiên cứu 
của các tác giả trong và ngoài nước đều 
khẳng định phẫu thuật cắt tuyến ức là một 
trong những phương pháp điều trị có hiệu quả 
và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống các 
phương pháp điều trị bệnh NC[1]. Có rất 
nhiều nghiên cứu về các phương pháp gây mê 
khác nhau trên BN NC trong đó có hai 
phương pháp chính là sử dụng thuốc giãn cơ 
hoặc không sử dụng thuốc giãn cơ (with or 
without muscular relaxant). Chevalley C. và 
cộng sự [4], nhận thấy rằng ở BN NC việc 
thông khí nhân tạo sau phẫu thuật thường 
phải áp dụng ở các BN được gây mê cân bằng 
với nguy chỉ số nguy cơ OR= 4,2(p=0,03) và 
khi sử dụng thuốc giãn cơ thì chỉ số này là 
13,9 (p=0,009). Chính vì vậy khi gây mê trên 
BN NC, đa số tác giả đều khuyến cáo nên sử 
dụng các thuốc ít ảnh hưởng đến dẫn truyền 
thần kinh cơ và không nên sử dụng thuốc giãn 
cơ. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng 
hai loại thuốc mê tĩnh mạch propofol hoặc 
thuốc mê bốc hơi sevoflurane, là hai loại 
thuốc mê thông dụng nhất hiện nay có đặc 
tính an toàn, đảm bảo độ mê sâu, ít gây biến 
đổi huyết động, chất lượng tỉnh tốt. Kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khi khởi 
mê bằng propofol TCI (Ce= 5-7 mcg/ml) 
hoặc propofol liều 2,5-3mg/kg cân nặng kết 
hợp với thuốc giảm đau sufentanil 0,5 μg/kg, 
BN nhanh chóng đạt được độ mê thích hợp, 
100% BN ở cả hai nhóm có điều kiện đặt ống 
NKQ đều được chấp nhận trên lâm sàng và 
đều đặt NKQ thành công sau một lần duy 
nhất. Thời gian cần thiết để đặt và chỉnh ống 
vào đúng vị trí tương ứng là 6,32 và 6,61 phút 
(p>0,05). Huyết động trước và sau khi đặt 
ống NKQ cũng như trong quá trình phẫu 
thuật đều nằm trong giới hạn bình thường. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương 
tự như kết quả các các tác giả Heike K. [7], 
Orathy P. S. [9]. Ngoài ra, chúng tôi cũng 
nhận thấy rằng trong phẫu thuật lồng ngực 
nói chung và nội soi lồng ngực nói riêng nhu 
cầu giãn cơ để đảm bảo cho phẫu thuật là 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 106 
không nhiều và ít ảnh hưởng đến thao tác của 
các phẫu thuật viên trong trường mổ. Theo 
đánh giá mức độ hài lòng của phẫu thuật viên 
bao gồm đánh giá về mức độ xẹp phổi và mức 
độ thuận lợi của phẫu thuật thì tỷ lệ rất hài 
lòng (88,89 %) và hài lòng nhiều (11,11%), 
không có trường hợp nào phẫu thuật viên 
không hài lòng với phương pháp chúng tôi áp 
dụng trong nghiên cứu. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng 
cho thấy rằng các BN NC có sự nhạy cảm với 
các thuốc mê bốc hơi. Sevoflurane làm giảm 
chỉ số TOF từ giá trị ban đầu ở thời điểm ban 
đầu là 89,69% xuống các giá trị thấp nhất 
trong cuộc mổ là 75,56% trong khi đó 
propofol TCI chỉ làm giảm chỉ số TOF ở mức 
ban đầu là 92,69% xuống mức 83,14% 
(p<0,05). Tuy nhiên, các giá trị của TOF ở cả 
hai nhóm nghiên cứu đều trở về giá trị ban 
đầu và không có sự khác biệt khi kết thúc 
cuộc mổ (đã ngừng thuốc mê). Điều này 
chứng tỏ rằng các thuốc mê bốc hơi hoặc các 
thuốc mê tĩnh mạch đều không gây ra tình 
trạng giãn cơ kéo dài ở BN NC. Theo 
Bowman [3], sevoflurane có tác dụng ức chế 
dẫn truyền thần kinh cơ do tác dụng ức chế 
giải phóng acetylcholin ở khoang trước synap 
và ức chế thụ cảm thể cholinergic ở màng sau 
synap. Tuy nhiên, nguyên nhân làm mất dần 
các đáp ứng co cơ sau khi kích thích liên tục 
(TOF) là do tác dụng ức chế giải phóng 
acetylcholin ở màng trước synap. Theo nghiên 
cứu Nitahara K. [6] thì mức độ giảm của chỉ số 
TOF phụ thuộc vào nồng độ của sevoflurane: ở 
nồng độ 1,7% làm giảm chỉ số TOF ban đầu ở 
BN NC là 81% xuống mức 64% và ở nồng độ 
3,4% làm giảm xuống mức 43%. 
Về thời điểm rút ống NKQ sau mổ, 
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 100% BN 
đủ điều kiện để rút ống NKQ ngay sau phẫu 
thuật. Sau khi rút ống NKQ các chỉ số về hô 
hấp như tần số thở, SpO2 và các xét nghiệm 
về khí máu trong vòng 72h sau phẫu thuật đều 
nằm trong giới hạn bình thường. Không có 
BN nào phải đặt lại ống NKQ do cơn NC, 
hoặc cơn cholinergic hoặc do suy hô hấp sau 
phẫu thuật. Phạm Văn Đông và cộng sự [2] 
nghiên cứu trên 124 BN chia thành hai nhóm 
được gây mê có và không sử dụng thuốc giãn 
cơ. Tác giả nhận thấy rằng những BN có dùng 
thuốc giãn cơ trong phẫu thuật cắt tuyến ức 
có tỷ lệ suy hô hấp, thở máy và thời gian hậu 
phẫu cao hơn so với BN không dùng thuốc 
giãn cơ. Kết quả nghiên cứu này của chúng 
tôi cũng tương tự như của tác giả , Nitahara K 
và cộng sự [6]; Giorgio D. R [8], Orathy P. S 
và cộng sự [9]. Rút ống NKQ ngay tại phòng 
mổ là một trong những ưu điểm của gây mê 
không sử dụng thuốc giãn cơ ở BN NC. BN 
không phải thở máy, ho khạc tốt, không có 
hiện tượng ứ trệ do tăng tiết dịch đường hô 
hấp do đó tình trạng nhiễm khuẩn đường hô 
hấp và các nhiễm khuẩn do thở máy kéo dài 
được kiểm soát, BN nhanh chóng ổn định sức 
khỏe sau phẫu thuật. Những ưu điểm này sẽ 
làm tăng hiệu quả điều trị bệnh NC, giảm bớt 
ngày nằm điều trị và giảm bớt chi phí cho BN 
và ngành y tế. Hầu hết các tác giả trên thế 
giới khi nghiên cứu về việc gây mê trên BN 
NC đều chưa đánh giá mức độ tổn thương 
thanh khí quản do đặt ống NKQ không dùng 
thuốc giãn cơ. Đặc biệt, với phương pháp cắt 
tuyến ức nội soi BN cần phải đặt ống NKQ có 
tác dụng làm xẹp phổi để làm rộng trường mổ 
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP GÂY MÊ KHÔNG SỬ DỤNG THUỐC GIÃN NỠ CÓ ĐẶT ỐNG UNIVENT... 
 107 
thì nguy cơ gây ra tổn thương đường thở là rất 
cao. Theo Heike K. và cộng sự [7], tỷ lệ tổn 
thương đường thở trên BN phẫu thuật lồng 
ngực cần làm xẹp phổi do đặt ống nội khí 
quản hai nòng (DLT) là 44% lớn hơn tỷ lệ 
này ở các BN được đặt ống chẹn phế quản 
(bronchial blocker) là 17% (p=0,046), trong 
đó chủ yếu là biến chứng khàn tiếng và các 
tổn thương ở dây thanh. Nghiên cứu của 
Zhong và cộng sự [10] sử dụng nhiều loại ống 
chẹn phế quản khác nhau và thấy tỷ lệ tổn 
thương đường thở khi đặt ống Coopdech là 
13%; ống Arndt là 20% và ống Univent là 
30%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho 
thấy biểu hiện lâm sàng hay gặp của tổn 
thương đường thở gặp ở 21,11% số BN trong 
đó bao gồm đau họng (12,22%), khàn tiếng 
(5,56%) hoặc vừa đau họng vừa khàn tiếng 
(3,33%). Các triệu chứng này đều hết trong 
vòng 72h sau mổ và không để lại bất cứ tình 
trạng khó chịu nào cho BN. Ngoài ra, các BN 
trong nghiên cứu còn được soi phế quản bằng 
ống nội soi mềm, là phương pháp đánh giá 
khách quan và chính xác nhất để xác định mức 
độ tổn thương thực thể của đường thờ. Kết quả 
cho thấy các BN có biểu hiện tổn thương đường 
thở này cũng là các bệnh nhân có các triệu 
chứng đau họng và khàn tiếng trên lâm sàng hay 
gặp là tổn thương thanh quản thanh môn (10%) 
với biểu hiện là xung huyết (4,44%) và phù nề 
(5,56%), tổn thương khí quản chủ yếu là xung 
huyết niêm mạc đường thở (5,56%). Các tổn 
thương ở mức độ nhẹ, phạm vi hẹp và không 
gặp các biến chứng nguy hiểm như tụ máu, xuất 
huyết, liệt dây thanh hay đứt rách khí phế 
quản, Các tổn thương thực thể cũng giảm dần 
theo chiều hướng diễn biến của các triệu chứng 
lâm sàng là khàn tiếng và đau họng. Theo Heike 
K. [7] tổn thương đường thở do đặt ống NKQ 
có thể là do thuốc sử dụng trong gây mê, do 
kích thước, chất liệu của ống NKQ, do thao tác 
của bác sỹ gây mê khi đặt ống NKQ hoặc do 
thay đổi tư thế của BN trong quá trình phẫu 
thuật. Trong nghiên cứu của chúng tôi mặc dù 
không sử dụng thuốc giãn cơ nhưng tỷ lệ tổn 
thương đường thở cũng tương tự như của các 
tác giả nói trên là bởi vì chúng tôi sử dụng ống 
NKQ Univent, đây là loại ống chẹn phế quản có 
kích thước (ID) nhỏ hơn và được sản xuất bởi 
chất liệu silicon tương đối mềm so với các loại 
ống NKQ hai nòng thông thường (ống DLT) 
được sản xuất bằng chất liệu plastic. Trước khi 
đặt ống NKQ BN đã được gây mê đủ sâu bằng 
theo dõi độ mê qua các chỉ số RE, SE, đồng thời 
được gây tê thanh khí quản bằng thuốc tê 
lidocain. Việc xác định vị trí của ống chẹn bằng 
nội soi phế quản mềm cũng làm giảm đáng kể 
thời gian và thao tác của bác sỹ gây mê trong 
quá trình đặt ống NKQ. 
V. KẾT LUẬN 
Gây mê bằng propofol TCI hoặc bằng 
sevoflurane không sử dụng thuốc giãn cơ và 
có đặt ống Univent đảm bảo hiệu quả vô cảm 
tốt cho phẫu thuật cắt tuyến ức nội soi điều trị 
bệnh NC. 100% BN rút được ống NKQ ngay 
sau cuộc mổ, không có BN nào phải đặt ống 
NKQ trở lại do suy hô hấp sau phẫu thuật. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Lê Việt Anh, Mai Văn Viện (2012), 
Đánh giá kết quả cắt tuyến ức nội soi điều trị 
bệnh nhược cơ bằng phẫu thuật nội soi lồng 
ngực, Tạp chí phẫu thuật Tim mạch và Lồng 
ngực Việt Nam, 2, 46-50. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 108 
2. Phạm Văn Đông, Nguyễn Thị Thảo 
Trang (2014), Gây mê hồi sức trong mổ cắt u 
tuyến ức điều trị bệnh nhược cơ tại bệnh viên 
Chợ Rẫy từ năm 2004-2012, Tạp chí Y học 
thực hành, 939, 55-58. 
3. Bowman W. C (1980), Prejunctional 
and postjunctional cholinoreceptors at the 
neuromuscular junction, Anesth Analg, 
59, 935-43. 
4. Chevalley C, Spiliopoulos A, Perrot 
M, et al. (2001), Perioperative medical 
management and outcome following 
thymectomy for myasthenia gravis, General 
anesthesia, 48(5), 446-451. 
5. Viby-Mogensen J, Engbaek J, 
Eriksson L. I, et al. (1996), Good clinical 
research practice (GCRP) in 
pharmacodynamic studies of neuromuscular 
blocking agents, Acta Anaesthesiol Scand, 
40, 59-74. 
6. Nitahara K, Sugi Y, Higaand K, et al. 
(2007), Neuromuscular effects of sevoflurane 
in myasthenia gravis patients, Bristish 
Journal of Anesthesia 98 (3), 337-41. 
7. Heike Knoll, Stephan Ziegeler, Jan- 
Uwe Schreiberand et al. (2006), Airway 
injuries after one-lung ventilation: A 
comparision between double - lumen tube and 
endobronchial blocker, Anesthesiology, 
105, 471-477. 
8. Giorgio D. R, Cecilia C, Laura D, et 
al. (2003), Propofol or sevoflurane anesthesia 
without muscle relaxants allow the early 
extubation of myasthenic patients, General 
anesthesia, 50 (6), 547-552. 
9. Orathy Patangi Sanjay, Parvatha 
Prashanth, Ponnuswamy Karpagamand, et al. 
(2004), Propofol or sevoflurane anesthesia 
without muscle relaxants for thymectomy in 
myasthenia gravis, Indian Journal Thorac 
Cardiovasc Surg, 20, 83-87. 
10. Zhong T, Wang W, Chen Jand, et 
al. (2009), Sore throat or hoarse voice with 
bronchial blockers or double-lumen tubes for 
lung isolation: a randomised, prospective 
trial, Anaesth Intensive Care, 37, 441-6. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_phuong_phap_gay_me_khong_su_dung_thuoc_gian_co_co.pdf