Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ung thư vòi tử cung

Ung thư vòi tử cung (UTVTC) là ung thư phụ khoa hiếm gặp, chiếm

tỷ lệ khoảng 0,14% - 1,8% trrong tổng số ung thư phụ khoa.

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị

bệnh ung thư vòi tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPSTƯ)

từ 2011 đến 2015.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bao gồm 15 trường hợp UTVTC

được chẩn đoán và điều trị tại BVPSTU từ 2011 đến 2015. Thiết kế

nghiên cứu: Mô tả cắt ngang hồi cứu.

Kết quả: Các triệu chứng ra máu bất thường và đau chướng bụng

là phổ biến nhất (40%). Nồng độ CA 125 huyết thanh trước mổ trung

bình: 715,33 ± 1787,074 U/l. Typ ung thư biểu mô tuyến nhú kém biệt

hoá chiếm nhiều nhất (53,3%). Giai đoạn IIA chiếm nhiều nhất (40%).

Có 11 bệnh nhân được hoá trị, trong đó phác đồ Taxoter + Carboplatin

chiếm 63,6%. Các kết quả nghiên cứu đã được so sánh và bàn luận.

Kết luận: Ung thư vòi tử cung nguyên phát là ung thư ác tính đường

sinh dục hiếm gặp. Các triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, không đặc hiệu

nên không trường hợp nào chẩn đoán chính xác là UTVTC trước phẫu

thuật. Phẫu thuật và hóa trị liệu kéo dài thời gian sống sót của bệnh.

pdf 5 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ung thư vòi tử cung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ung thư vòi tử cung

Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ung thư vòi tử cung
VŨ BÁ QUYẾT, NGÔ PHAN THANH THÚY
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
142
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Vũ Bá Quyết, Ngô Phan Thanh Thúy
 Bệnh viên Phụ Sản Trung ương
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG,
CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÒI TỬ CUNG
Tóm tắt
Ung thư vòi tử cung (UTVTC) là ung thư phụ khoa hiếm gặp, chiếm 
tỷ lệ khoảng 0,14% - 1,8% trrong tổng số ung thư phụ khoa. 
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị 
bệnh ung thư vòi tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPSTƯ) 
từ 2011 đến 2015. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bao gồm 15 trường hợp UTVTC 
được chẩn đoán và điều trị tại BVPSTU từ 2011 đến 2015. Thiết kế 
nghiên cứu: Mô tả cắt ngang hồi cứu. 
Kết quả: Các triệu chứng ra máu bất thường và đau chướng bụng 
là phổ biến nhất (40%). Nồng độ CA 125 huyết thanh trước mổ trung 
bình: 715,33 ± 1787,074 U/l. Typ ung thư biểu mô tuyến nhú kém biệt 
hoá chiếm nhiều nhất (53,3%). Giai đoạn IIA chiếm nhiều nhất (40%). 
Có 11 bệnh nhân được hoá trị, trong đó phác đồ Taxoter + Carboplatin 
chiếm 63,6%. Các kết quả nghiên cứu đã được so sánh và bàn luận.
 Kết luận: Ung thư vòi tử cung nguyên phát là ung thư ác tính đường 
sinh dục hiếm gặp. Các triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, không đặc hiệu 
nên không trường hợp nào chẩn đoán chính xác là UTVTC trước phẫu 
thuật. Phẫu thuật và hóa trị liệu kéo dài thời gian sống sót của bệnh.
Từ khóa: Ung thư vòi tử cung, phẫu thuật, hoá trị liệu,
Abstract 
A REVIEW OF CLINICAL, SUBCLINICAL SIGNS 
AND TREATMENT OF PRIMARY FALLOPIAN 
TUBE CARCINOMA
Primary fallopian tube carcinoma is very rare, responsible for 0.14% 
- 1.8% of genital malignancies. 
The purpose of this study is to review of the diagnosis, treatment 
and prognosis of this cancer in National Hospital for Obstetrics and 
Gynecology from 2011 to 2015. 
Subjects and methods: retrospective descriptive. 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Ngô Phan Thanh Thúy, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):20/04/2016
Từ khoá: Ung thư vòi tử cung, 
phẫu thuật, hoá trị liệu, 
Keywords: Primary fallopian tube 
carcinoma, epithelial ovarian 
cancer, surgery, chemotherapy,..
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 142 - 146, 2016
143
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Results: Abnormal bloody discharge and abdominal pain are the best common signs (40%). 
Preoperative serum CA 125 levels average: 715.33 ± 1787.074 U/l. As stage, the IIA accounts for 
40%. Only 11 cases received chemotherapy, among them Taxotere + Carboplatin 63.6%.
Conclusion: Primary fallopian tube carcinoma is a rare malignancy of the female genital tract. Its 
preoperative diagnosis is easy to miss or delay because of a lack of specific signs and symtomps. 
Surgery and chemotherapy provide possibility of disease-free or overall survival. 
Keyword: Primary fallopian tube carcinoma, epithelial ovarian cancer, surgery, chemotherapy,..
1. Đặt vấn đề
Ung thư vòi tử cung là một bệnh ác tính hiếm 
gặp. Bệnh được chia làm 2 loại là ung thư vòi 
tử cung nguyên phát và ung thư vòi tử cung thứ 
phát. Trong đó, UTVTC thứ phát hay gặp hơn, đó 
là do di căn của ung thư buồng trứng hoặc ung 
thư niêm mạc tử cung [1]. UTVTC nguyên phát 
hiếm khi chẩn đoán được trên lâm sàng do thiếu 
các dấu hiệu đặc hiệu, thiếu các phương pháp 
kiểm tra, kinh nghiệm lâm sàng còn hạn chế dẫn 
đến bệnh được chẩn đoán sau phẫu thuật phụ 
khoa khác [2]. Chẩn đoán UTVTC trước phẫu 
thuật là hiếm và thường được chẩn đoán bởi các 
nhà mô bệnh học. Phương pháp phẫu thuật, theo 
dõi và điều trị hoá trị liệu của bệnh tương tự như 
ung thư biểu mô buồng trứng. Giai đoạn bệnh 
và phần u còn lại sau phẫu thuật có giá trị tiên 
lượng quan trọng nhất. Mặc dù vậy, tiên lượng 
của bệnh nhân UTVTC rất dè dặt [3]. Vì đây là 
bệnh lý hiếm gặp nên hầu hết các dữ liệu công 
bố trên y văn thế giớ thường là mô tả từng trường 
hợp bệnh. Các nguyên nhân gây bệnh còn chưa 
được hiểu biết đầy đủ. Một số yếu tố được cho 
là làm tăng nguy cơ UTVTC được nói đến như là 
nội tiết, sinh đẻ, di truyền. Một số tác giả đã báo 
cáo không có mối tương quan có ý nghĩa thống 
kê giữa UTVTC với tuổi, cân nặng, trình độ học 
vấn, chủng tộc, viêm nhiễm vùng chậu, vô sinh, 
tiền sử cắt tử cung, lạc nội mạc tử cung hoặc 
hút thuốc lá [4]. Ở Việt Nam, UTVTC nguyên 
phát rất hiếm gặp và chưa có nghiên cứu nào đề 
cập về bệnh lý này. Vì vậy, chúng tôi thực hiện 
nghiên cứu này nhằm mục tiêu: Mô tả một số đặc 
điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương pháp 
điều trị UTVTV tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 
từ 2011 đến 2015.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 15 trường hợp UTVTC được chẩn 
đoán và điều trị tại BVPSTƯ trong thời gian từ 2011 
đến 2015. 
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Có chẩn đoán mô bệnh học sau mổ là UTVTC 
nguyên phát.
+ Có hồ sơ được ghi chép đầy đủ rõ ràng về 
hành chính, các triệu chứng lâm sàng, cận lâm 
sàng và phương pháp điều trị.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Tất cả các trường hợp không thỏa mãn bất kỳ 
điều kiện chọn mẫu nào nêu trên.
+ Bệnh nhân có 2 ung thư hoặc bệnh nhân 
UTVTC đã điều trị ở tuyến dưới gửi đến điều trị tiếp.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang hồi cứu.
- Biến số nghiên cứu: 
+ Tuổi trung bình
+ Triệu chứng lâm sàng: Đau bụng, ra máu bất 
thường, sờ thấy u.
+ Xét nghiệm cận lâm sàng: Nồng độ CA 125 
huyết thanh, kết quả chẩn đoán CT, MRI và typ mô 
bệnh học.
+ Kết quả chẩn đoán trước phẫu thuật, phân 
loại giai đoạn theo FIGO.
+ Các phương pháp điều trị.
2.3. Xử lý số liệu: Theo phương pháp thống 
kê y học thông thường.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm lâm sàng
- Độ tuổi trung bình của bệnh nhân lúc phát 
hiện bệnh là 57,13 tuổi (từ 29 – 75 tuổi)
VŨ BÁ QUYẾT, NGÔ PHAN THANH THÚY
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
144
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nhận xét: Tất cả các trường hợp UTVTC nguyên 
phát đều là u biểu mô, trong đó typ ung thư biểu mô 
tuyến nhú kém biệt hoá chiếm nhiều nhất (53,3%).
- Phân loại giai đoạn theo FIGO: giai đoạn IC 
có 1 trường hợp (6,7%), giai đoạn IIA có 6 trường 
hợp (40%), giai đoạn IIB có 2 trường hợp (13,3%), 
giai đoạn IIIB có 5 trường hợp (33,3%) và giai 
đoạn IV có 1 trường hợp (6,7%).
3.3. Điều trị
Nhận xét: Trong số 3 bệnh nhân bỏ điều trị thì 
có 2 bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn IIIB, 
bệnh nhân suy kiệt xin ra viện không điều trị tiếp; 
01 bệnh nhân UTVTC giai đoạn IV sau mổ đã điều 
trị được 2 đợt hoá chất thì có biểu hiện lơ mơ, chẩn 
đoán di căn não, gia đình xin ra viện.
Nhận xét: Có 1 bệnh nhân sau phẫu thuật điều 
trị 6 đợt hoá chất Taxoltere + Carboplatin nhưng 
nghi ngờ còn khối u ở động mạch chủ và CA 125 
giảm chậm nên chuyển xạ thêm. Các bệnh nhân 
khác không phải qua xạ trị.
4. Bàn luận 
Trên thực tế, ung thư vòi tử cung nguyên phát rất 
hiếm gặp. Nhiều nghiên cứu trên thế giới hiện nay 
cũng chưa hiểu biết hết về bệnh. Chúng tôi đưa 
ra nghiên cứu phân tích hồi cứu này để cung cấp 
thêm một vài đặc điểm trên lâm sàng, chẩn đoán, 
xử trí ở bệnh lý này và so sánh với các nghiên cứu 
- Trong số những trường hợp này có 10 người 
đã mãn kinh chiếm 66,7%, thời gian trung bình từ 
khi mãn kinh là 13,5 năm (từ 2 – 21 năm).
Nhận xét: Có 6 trường hợp mãn kinh ra máu 
âm đạo hoặc chảy máu âm đạo bất thường (40%), 
6 trường hợp đau bụng hay có cảm giác tức bụng. 
1 trường hợp không có triệu chứng, phát hiện khi 
đi khám phụ khoa. 1 trường hợp tự sờ thấy khối u 
và 1 trường hợp được tuyến dưới chuyển đến vì sau 
mổ u buồng trứng xuất hiện khối u.
Nhận xét: 8 bệnh nhân được chẩn đoán trước 
mổ là u buồng trứng; 5 bệnh nhân chẩn đoán là 
ung thư buồng trứng. Không có bệnh nhân nào 
được chẩn đoán ung thư VTC trước phẫu thuật. 
3.2. Đặc điểm cận lâm sàng
- Nồng độ CA 12-5 huyết thanh
X ± SD: 715,33 ± 1787,074 U/l ( 10,5 – 
7008 U/l)
Trongnghiên cứu này, bệnh nhân có nồng 
độ CA 12-5 cao trên 35U/l chiếm 73,3% (11 
trường hợp) 
- Chẩn đoán hình ảnh: Có 3 trường hợp được 
chụp MRI và 1 trường hợp được chụp CT scanner 
hỗ trợ chẩn đoán nhưng không có phát hiện hình 
ảnh bất thường của vòi tử cung.
- Phân loại mô bệnh học sau phẫu thuật
Biểu đồ 1. Các biểu hiện lâm sàng
Biểu đồ 2. Các chẩn đoán trước phẫu thuật
Typ mô bệnh học Số lượng Tỷ lệ %
Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp 4 26,7
Ung thư biểu mô tuyến nhú kém biệt hoá 8 53,3
Ung thư biểu mô tuyến thanh dịch 1 6,7
Ung thư biểu mô tế bào sáng 2 13,3
Tổng 15 100,0
Bảng 1. Phân loại mô bệnh học
Số lượng Tỷ lệ %
Điều trị hoá chất 11 73,3
Bỏ điều trị 3 20
Chuyển viện K 1 6,7
Tổng 15 100,0
Bảng 2. Điều trị sau phẫu thuật
Hoá chất Số lượng Tỷ lệ %
Taxolter + Carboplatin 7 63,6
Cisplatin + Endoxan 3 27,3
Carboplatin + Endoxan 1 9,1
Tổng 11 100,0
Bảng 3. Điều trị hoá chất sau phẫu thuật
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 142 - 146, 2016
145
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
trên thế giới. Tuổi trung bình của bệnh nhân trong 
nghiên cứu là 57 tuổi. Theo y văn, bệnh thường 
xảy ra ở nhóm tuổi 40 đến 60. Kết quả của chúng 
tôi phù hợp với báo cáo của các tác giả như Ying 
Ma là 57 tuổi [5]. Ul’rikh EA nghiên cứu 69 ca kết 
luận tuổi trung bình bệnh là 55 tuổi [6]. Tuy nhiên, 
có báo cáo ung thư VTC ở người trẻ tuổi (17 – 19 
tuổi) [6]. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng 
10 bênh nhân đã mãn kinh (66,7%) phù hợp với 
số liệu báo cáo của Ying Ma [5]. Như vậy, phụ nữ 
sau mãn kinh dễ mắc bệnh này. Bệnh nhân ung thư 
VTC có biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng không 
rõ ràng, không đặc hiệu với các dấu hiệu phổ biến 
như đau tức bụng và ra máu âm đạo. Do vậy, ở 
các trường hợp bệnh nhân chảy máu bất thường 
đã được làm tế bào âm đạo cổ tử cung hoặc/ và 
hút buồng tử cung (bệnh nhân mãn kinh). Chỉ có 1 
trường hợp bệnh nhân mãn kinh hút buồng tử cung 
xác nhận ung thư, còn lại các trường hợp chỉ cho 
kết quả hoại tử huyết. Tế bào âm đạo cổ tử cung 
trong nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy tế 
bào bất thường. Nhận xét này của chúng tôi tương 
tự như các nghiên cứu [5], [6].
Chẩn đoán trước mổ ung thư VTC chỉ chiếm tỷ lệ 
khoảng từ 0 – 10%. Baekelandt và cộng sự [7] báo 
cáo chỉ chẩn đoán được 2%. Cai SQ và cộng sự 
tổng kết 23 bệnh nhân ung thư vòi TC nguyên phát 
đưa ra 57% trường hợp không được phát hiện trước 
phẫu thuật [8]. Tuy nhiên, Vaughan và cộng sự đã 
đưa kết luận chẩn đoán được 21% trường hợp trước 
mổ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi không chẩn 
đoán được trường hợp nào là ung thư VTC trước mổ. 
Trên 50% bệnh nhân được chẩn đoán là u buồng 
trứng. Những trường hợp này đều được phát hiện 
nhờ các nhà mô bệnh học sau phẫu thuật.
Chỉ số CA 125 thường cao hơn 35 U/l. Kết quả 
của chúng tôi phù hợp với tác giả Ying Ma với 36 
trường hợp bệnh. Ông cũng cho thấy sự dao động 
của kết quả CA 125 là rất lớn từ 11,7 – 7600U/l. 
Khi phân tích thống kê cho thấy, CA125 cao trước 
phẫu thuật có tương quan với giá trị tiên lượng và 
giảm CA125 trong điều trị có tương quan với hiệu 
quả lâm sàng. CA 125 tăng cao khi bệnh tái phát 
hoặc tiến triển. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra 
rằng, chỉ số CA125 có độ nhạy và độ dặc hiệu tốt 
trong quá trình theo dõi bệnh nhân ung thư VTC. 
Nhiều bệnh nhân có CA125 cao trước phẫu thuật, 
sau đó giảm xuống bình thường sau hoá trị liệu và 
vẫn ở mức bình thường nếu không có tái phát hoặc 
di căn. Gần đây, nhiều nghiên cứu khoa học về 
các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán sớm bệnh được 
thực hiện trong đó phải nói đến chụp MRI. Ung 
thư VTC có hình ảnh là một khối kích thước nhỏ, tổ 
chức đăc, hình giống như súc sích, tín hiệu đồng 
nhất, tăng cường mức độ nhẹ hoặc trung bình, 
hoặc tích tụ dịch trong tử cung. Chụp MRI có giá trị 
hữu ích trong chẩn đoán bệnh ung thư VTC [8], [9].
Mô bệnh học được phân tích sau phẫu thuật 
cho thấy trên 50 % là ung thư biểu mô tuyến nhú 
kém biệt hoá (bảng 1). Trong đó có 1 bệnh nhân 
phối hợp ung thư VTC và ung thư biểu mô chế nhầy 
ở buồng trứng. 14 trường hợp còn lại là ung thư 
nguyên phát VTC. Vì vòi tử cung rất gần với buồng 
trứng và tử cung nên đôi khi rất khó để xác định tổn 
thương nguyên phát ở những bệnh nhân ung thư 
tiến triển. Bệnh nhân ung thư VTC có thể có buồng 
trứng hoặc niêm mạc tử cung bình thường, hoặc 
có thể di căn sang tổ chức lân cận do sự lưu thông 
của hệ bạch huyết. Ying Ma trong nghiên cứu của 
mình cũng nhận thấy có trường hợp ung thư VTC 
phối hợp kèm ung thư nội mạc tử cung, ung thư 
buồng trứng [5].
Phân loại giai đoạn theo FIGO thì có 40% 
trường hợp ở giai đoạn III và IV. Chỉ có 1 trường 
hợp ở giai đoạn IC chiếm tỷ lệ 6,7%. Điều này 
cho thấy bệnh thường được chẩn đoán ở giai đoạn 
muộn. Có 4 trường hợp bệnh nhân ở giai đoạn 
muộn, không đáp ứng với điều trị đã tử vong. Có 7 
trường hợp phát hiện ở giai đoạn I và II sau điều trị 
hoá chất bổ trợ hiện ổn định ra viện theo dõi ngoại 
trú. Chỉ có 1 trường hợp BN ở giai đoạn IIA sau 
phẫu thuật đã điều trị thêm 6 đợt hoá chất nhưng 
do còn khối u ở động mạch chủ được chuyển viện 
tia xạ bổ trợ. Như vậy, việc chẩn đoán sớm, phần u 
còn lại, mức độ di căn và chỉ số CA 125 cao trước 
phẫu thuật có liên quan đến giá trị tiên lượng [5].
Trong nghiên cứu này, BN được điều trị 6 
đợt hoá chất. Có 7 BN được điều trị Taxotere và 
cisplatin (TP), 3 BN điều trị Cisplatin và Endoxan 
(Cyclophosphamide). Hiện nay, phác đồ điều trị 
hoá trị liệu của bệnh ung thư VTC tương tự như 
ung thư biểu mô buồng trứng. Các phác đồ hoá 
chất có thể sử dụng trong điều trị bổ trợ sau 
phẫu thuật như là Paclitaxel + ciplatin (TP) hoặc 
VŨ BÁ QUYẾT, NGÔ PHAN THANH THÚY
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
146
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Cisplatin + Cyclophosphamide (PC) hoặc Cisplatin 
+ Adriamycin + Cyclophosphamide (PAC). Liu L và 
cộng sự nghiên cứu hồi cứu 66 bệnh nhân ung thư 
VTC từ 1988 đến 2013 có điều trị hoá chất đã 
đưa ra kết luận: việc điều trị hoá chất cơ bản là 
Paclitaxel có mối tương quan với kéo dài thời gian 
sống sót trung bình của bệnh [10].
5. Kết luận
Qua nghiên cứu hồi cứu 15 trường hợp UTVTC 
tại Bệnh viện PSTƯ từ 2011 đến 2015 về một số 
đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương pháp 
điều trị, chúng tôi rút ra kết luận sau:
- Ung thư vòi tử cung nguyên phát là ung thư ác 
tính đường sinh dục hiếm gặp.
- Các triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, không đặc 
hiệu nên không trường hợp nào chẩn đoán chính xác 
là UTVTC trước phẫu thuật. Các triệu chứng ra máu bất 
thường và đau chướng bụng là phổ biến nhất (40%).
- Nồng độ CA 125 huyết thanh trước mổ trung 
bình: 715,33 ± 1787,074 U/l. 
- Typ ung thư biểu mô tuyến nhú kém biệt hoá 
chiếm nhiều nhất (53,3%). Giai đoạn IIA chiếm 
nhiều nhất (40%).
- Có 11 bệnh nhân được hoá trị, trong đó phác 
đồ Taxolter + Carboplatin chiếm 63,6%.
Tài liệu tham khảo
1. Mulvany NJ, Arnstein MB, et al. Pronogsis significance of fallopian 
tuber cytology: a study of 99 endometrial malignancies. Pathology. 
2000; 32:5-9.
2. Nanaiah SP, Rathod PS, et al. Primary carcinoma of the fallopian 
tube: a review of a single institution experience of 8 cases. Sci World 
J; 2014: 630-731.
3. Pectasides D, et al. Fallopian tube carcinoma: a review. The 
Oncologist. 2006;vol. 11 no.8:902-912.
4. Kokcu A, Celik H, et al. Co-existence of primary fallopian tube 
carcinoma and uterine carcinosarcoma. J Obstet Gynaecol. 2014:1-2.
5. Ying Ma and Wei Duan. Clinical and survival analysis of 36 cases of 
primary fallopian tube carcinoma. World J Surg Oncol. 2014; 12:311.
6. Ul’rikh EA, Papunidi MD, et al. Fallopian tube carcinoma: clinical and 
morphological features, analysis of 69 cases. Vopr Onkol. 2014; 60(3):375-8.
7. Baekelandt M, et al. Primary adenocarcinoma of the fallopian tube: 
review of the literature. Int J Gynecol Cancer. 1993; 3:65-71.
8. Cai SQ, Ma FH, et al. Primary fallopian tube carcinoma: correlation 
between magnetic resonance and diffuse weighted imaging 
characteristics and histopathologic findings. J Comput Assist Tomogr. 
2015; 39(2):270-5.
9. Ma FH, Cai SQ, et al. MRI of differentiating primary fallopian tube 
carcinoma from epithelial ovarian cancer. JMagn Reson Imaging. 
2015;42(1):42-7.
10. Liu L, Xu X, et al. Primary fallopian tube carcinoma: a retrospective 
analysis of 66 cases. Eur J Gynaecol Oncol. 2015; 36(2):161-7.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_mot_so_dac_diem_lam_sang_can_lam_sang_va_dieu_tri.pdf