Nghiên cứu một số đặc điểm giải phẫu ứng dụng đầu trên và thân xương đùi ở người Việt Nam đo trên CT-Scan

Đặt vấn đề: Gãy đầu gần và thân xương đùi là một trong số những loại gãy xương thường gặp. Đinh nội

tủy ngày càng được sử dụng rộng rãi do cơ chế chia sẻ lực, giúp cho sự liền xương diễn ra tối ưu. Sự bất tương

hợp giữa các đặc điểm hình thái đầu trên và thân xương đùi với các loại đinh nội tủy sử dụng hiện nay trên dân

số Việt Nam gây nên những khó khăn và biến chứng trong và sau quá trình điều trị. Do đó cần thiết có nghiên

cứu trên dân số Việt Nam giúp cho việc lựa chọn và thiết kế dụng cụ.

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca. Gồm các bệnh nhân trưởng thành

được chụp CT-Scan mạch máu chi dưới do bệnh lí tắc mạch cấp hay mạn tính, sau chấn thương tại Khoa Chẩn

đoán hình ảnh Bệnh viện Chợ Rẫy.

pdf 6 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu một số đặc điểm giải phẫu ứng dụng đầu trên và thân xương đùi ở người Việt Nam đo trên CT-Scan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu một số đặc điểm giải phẫu ứng dụng đầu trên và thân xương đùi ở người Việt Nam đo trên CT-Scan

Nghiên cứu một số đặc điểm giải phẫu ứng dụng đầu trên và thân xương đùi ở người Việt Nam đo trên CT-Scan
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 122 
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM 
GIẢI PHẪU ỨNG DỤNG ĐẦU TRÊN VÀ THÂN XƯƠNG ĐÙI 
Ở NGƯỜI VIỆT NAM ĐO TRÊN CT- SCAN 
Nguyễn Minh Dương1, Phạm Quang Vinh2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Gãy đầu gần và thân xương đùi là một trong số những loại gãy xương thường gặp. Đinh nội 
tủy ngày càng được sử dụng rộng rãi do cơ chế chia sẻ lực, giúp cho sự liền xương diễn ra tối ưu. Sự bất tương 
hợp giữa các đặc điểm hình thái đầu trên và thân xương đùi với các loại đinh nội tủy sử dụng hiện nay trên dân 
số Việt Nam gây nên những khó khăn và biến chứng trong và sau quá trình điều trị. Do đó cần thiết có nghiên 
cứu trên dân số Việt Nam giúp cho việc lựa chọn và thiết kế dụng cụ. 
Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca. Gồm các bệnh nhân trưởng thành 
được chụp CT-Scan mạch máu chi dưới do bệnh lí tắc mạch cấp hay mạn tính, sau chấn thương tại Khoa Chẩn 
đoán hình ảnh Bệnh viện Chợ Rẫy. 
Kết quả: Lòng tủy xương đùi cong trên không gian 3 chiều: Bán kính góc cong trước có giá trị trung bình 
906,12± 163,47 mm, 95% nằm trong khoảng 600 - 1200 mm. Lòng tủy xương đùi đoạn 1/3 dưới cong hơn 2/3 
trên thân xương đùi. Góc cong bên thân xương đùi có giá trị trung bình 1,75 ± 3,41º, 63,33% mẫu NC có LFB 
trên 2º cho thấy độ cong xương đùi trên mặt phẳng trán tương đối lớn. Lòng tủy tại vị trí eo xương đùi có dạng 
hình elip với đường kính trong- ngoài nhỏ hơn trước- sau, giữa hai kích thước này có mối tương quan thuận, 
mạnh. Chỉ số độ rộng lòng tủy trung bình 4,34 ± 0,36 cho thấy lòng tủy đoạn gần xương đùi rộng ở trên và hẹp 
dần khi xuống tới vùng eo xương đùi. Góc ngã trước cổ xương đùi có giá trị trung bình 15,52 ± 6,00º với khoảng 
dao động tương đối rộng từ -2º đến 36,12º. 
Kết luận: Các đặc điểm hình thái học đầu trên và thân xương đùi ở dân số Việt Nam có sự khác biệt với các 
dân số khác nhau trên thế giới. Nắm rõ các đặc điểm này giúp cho việc điều trị đạt được kết quả tối ưu. 
Từ khóa: bán kính góc cong trước thân xương đùi, góc cong bên thân xương đùi, góc ngã trước cổ xương 
đùi, ghỉ số độ rộng lòng tủy 
ABSTRACT 
ANATOMICAL STUDY OF PROXIMAL FEMUR AND FEMORAL SHAFT IN VIETNAMESE 
POPULATION ON CT-SCAN 
Nguyen Minh Duong, Pham Quang Vinh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 122 - 127 
Background: The proximal femur and femoral shaft fracture is one of the most common fractures. The 
intramedullarry nailing is more and more widely used due to its force-sharing mechanism, which helps with 
optimal bone healing. The incompatibility between the morphological features of the proximal femur, femoral shaft 
and intramedullary nailing which currently used in the Vietnamese population causes difficulties and 
complications during and after treatment. Therefore, we need for researching on the Vietnamese population to 
assist in fixation selection and design. 
Objectives: The purpose of the study was to identify anatomical characteristics of the proximal femur and 
femoral shaft in Vietnamese population. 
1Bệnh viện Sài Gòn ITO 2Bộ môn Chấn Thương Chỉnh Hình-Phục Hồi Chức Năng ĐH Y Dược TP. HCM 
Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Minh Dương ĐT:0347686979 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 123 
Methods: Serial case study. We studied 120 CT-Scan images of 60 patients who have been taken CT scan of 
the lower limb vasculature due to acute or chronic embolism, after trauma at the Department of Diagnostic 
Imaging of Cho Ray Hospital. 
Results: The femoral bone marrow is curved in three-dimensional space: The anterior radius of curvature 
has the average value of 906.12 ± 163.47 mm, 95% in the range of 600 - 1200 mm. The lower third of the femoral 
shaft is more curved than upper two third of the femur shaft. The lateral femoral bowing has an average value of 
1.75 ± 3.41º, 63.33% of the studying samples with LFB over 2º showed a relatively large femoral curvature on the 
frontal plane. The femoral medullary at the waist has an elliptical shape with the medial- lateral diameter smaller 
than the anterior- posterior diameter, there is a strong positive correlation between these two dimensions. Canal 
flare index (CFI) has an average value of 4.34 ± 0.36 showed that medullary femoral segment was broad above and 
narrowed gradually as it descended to the waist. The femoral neck anteverion has an average value of 15.52 ± 
6.00º with a relatively wide range from -2 to 36.12º. 
Conclusions: The morphological characteristics of the proximal femur and femoral shaft in the 
Vietnamese population differ from other populations in the world. Knowing these features helps to achieve 
optimal treatment results. 
Keywords: anterior radius of curvature, lateral femoral bowing, femoral neck anteversion, canal flare index 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Hiện nay gãy xương vẫn đang là vấn đề 
thường gặp mà các phẫu thuật viên chỉnh hình 
đang phải đối mặt hằng ngày. Trong đó gãy 
xương đùi là một trong số những loại gãy xương 
thường gặp nhất. Đinh nội tủy ngày càng được 
sử dụng rộng rãi do cơ chế chia sẻ lực, giúp cho 
sự liền xương diễn ra tối ưu. Đinh nội tủy xương 
đùi liên tục có những cải tiến về cấu hình cũng 
như các đặc điểm cơ sinh học phù hợp với đặc 
điểm giải phẫu của những chủng tộc hay nhóm 
dân số nhất định. Với sự phổ biến của việc đóng 
đinh nội tủy trong điều trị gãy thân và đầu gần 
xương đùi, ngày càng xuất hiện nhiều khó khăn 
cũng như biến chứng xảy ra trong và sau quá 
trình điều trị như lệch trục, di lệch xoay sau mổ, 
giảm sự tiếp xúc giữa đinh và vỏ xương đặc biệt 
ở vỏ sau dẫn đến chậm hay không lành xương, 
khó khăn trong quá trình tháo đinh sau khi 
xương đã lành, cấn đầu xa của đinh với vỏ trước, 
vỡ vỏ trước, gãy xương trong quá trình đóng 
đinh hay không thể chốt được vít xa(1,2,3,4) Do 
vậy để đạt được sự tối ưu trong điều trị cần phải 
hiểu rõ về các đặc điểm giải phẫu học, hình thái 
học xương đùi cũng như cơ sinh học của các 
phương tiện kết hợp xương. Các thông số của 
đinh nội tủy và dụng cụ thay khớp được sử 
dụng phổ biến hiện nay được chế tạo chủ yếu 
dựa trên những số liệu thu thập từ mẫu dân số 
Bắc Mỹ và Châu Âu. Do vậy nhiều nghiên cứu 
đã ghi nhận tỉ lệ biến chứng khi đóng đinh nội 
tủy cao hơn ở dân số người Châu Á(5,6). Tại Việt 
Nam gãy xương đùi ngày càng thường gặp, nhu 
cầu kết hợp xương bằng đinh nội tủy ngày càng 
gia tăng. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên 
cứu đánh giá các đặc điểm hình thái lòng tủy 
xương đùi ở người Việt Nam cũng như các chỉ 
số hình thái học của đầu trên và thân xương đùi. 
Từ thực tế này chúng tôi tiến hành đề tài 
“Nghiên cứu một số đặc điểm giải phẫu ứng 
dụng đầu trên và thân xương đùi ở người Việt 
Nam đo trên CT-Scan”. 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
120 mẫu CT-Scan dựng hình xương đùi của 
các bệnh nhân (BN) trên 18 tuổi được chụp CT- 
Scan mạch máu chi dưới tại khoa Chẩn đoán 
hình ảnh Bệnh viện Chợ Rẫy. 
Tiêu chí đưa vào 
Các BN được chụp CT - Scan mạch máu chi 
dưới do bệnh lí tắc mạch cấp hay mạn tính, sau 
chấn thương, không có biến dạng xương đùi 
trên đại thể. 
Tiêu chí loại trừ 
Chúng tôi loại ra những mẫu xương đùi biến 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 124 
dạng, dị tật bẩm sinh hay mắc phải, hình ảnh 
CT- Scan không chụp đủ hai bên hay với các lát 
cắt không trải dài từ khớp háng tới khớp gối. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca. 
Cỡ mẫu 
120 mẫu CT- Scan dựng hình xương đùi trên 
60 BN. 
Hình ảnh được xử lí và phân tích bằng phần 
mềm RadiAnt DICOM Viewer 2020.1, các số đo 
được đo 2 lần sau đó lấy giá trị trung bình. 
Thu thập và xử lý số liệu 
Các số liệu thu thập sẽ được xử lý bằng 
Microsoft Excel 2016 và phần mềm thống kê 
STATA 14.0. 
Các biến số được kiểm định tính phân phối, 
mô tả bởi số trung bình, độ lệch chuẩn và các giá 
trị cực đại. So sánh giữa 2 biến định lượng được 
thực hiện bằng phép kiểm t-test. 
Dựa vào kết quả thu được, chúng tôi tiến 
hành so sánh với các nghiên cứu khác đã được 
công bố trên thế giới. Từ đó, chúng tôi đưa ra 
những nhận xét và kết luận về sự tương đồng 
cũng như sự khác biệt. 
Các biến số nghiên cứu 
Chiều dài xương đùi: Khoảng cách từ điểm 
cao nhất của chỏm xương đùi tới điểm thấp nhất 
của lồi cầu trong theo trục thẳng đứng 
ROC trước của thân và từng đoạn thân 
xương: Độ cong của thân xương đùi trên mặt 
phẳng đứng dọc được xem như một phần của 
hình tròn với bán kính được xem là ROC trước 
của thân xương đùi 
Góc cong bên thân xương đùi: là góc hợp 
bởi 2 đường thẳng tương ứng qua tâm lòng 
tủy của hai đoạn 1/4 trên và 1/4 dưới thân 
xương đùi, thể hiện độ cong của thân xương 
đùi trên mặt phẳng trán. 
Góc ngã trước cổ xương đùi: là góc hợp bởi 
trục cổ xương đùi và trục ngang của khớp gối, 
thể hiện mức độ xoay của cổ xương đùi so với 
mặt phẳng trán. 
Đường kính eo xương đùi: Đường kính của 
lòng tủy tại eo xương đùi trên bình diện thẳng 
và nghiêng (Trong đó eo xương đùi là vị trí mà 
lòng tủy xương đùi có đường kính bé nhất). 
Khoảng cách từ MCB đến eo xương đùi: 
Khoảng cách từ điểm nhô cao nhất của MCB đến 
mặt phẳng vuông góc với trục cơ học xương đùi 
qua eo xương đùi. 
CFI: là tỉ số giữa đường kính lòng tủy M-L 
tại vị trí trên MCB 20 mm và vị trí eo xương đùi. 
Đây là một chỉ số đánh giá hình dạng lòng tủy 
đoạn gần xương đùi. 
Y đức 
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng 
đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh số: 29/HĐĐĐ ngày 
06/01/2020. 
KẾT QUẢ 
Phân bố theo độ tuổi 
Bảng 1: Phân bố tuổi theo giới tính (N=60) 
Nhóm Số lượng Tuổi trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất 
Nam 48 54,62 ± 18,21 21 85 
Nữ 12 59,00 ± 19,27 24 89 
Cỡ mẫu 60 55,93 ± 18,48 21 89 
Bán kính góc cong trước thân và từng đoạn 
thân xương đùi 
Giá trị trung bình ROC trước thân xương đùi 
trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi là 906,12 ± 
163,47 mm, giá trị lớn nhất là 1320 mm gấp hơn 
2 lần so với giá trị nhỏ nhất chỉ 589,5 mm cho 
thấy khoảng dao động tương đối rộng của giá trị 
này (Bảng 1). 
Bảng 2: Giá trị bán kính góc cong trước thân và từng 
đoạn thân xương đùi (N=120) 
Bán kính góc cong 
trước 
Trung bình ± SD 
(mm) 
GTLN - GTNN 
(mm) 
Thân xương đùi 906,12 ± 163,47 1320 - 589,5 
Đoạn 1/3 trên 1140,1 ± 300,64 1960,8 - 499,9 
Đoạn 1/3 giữa 1130,59 ± 222,53 1687,5 - 664,4 
Đoạn 1/3 dưới 714,71 ± 182,62 1257,4 - 381,2 
Lòng tủy xương đùi đoạn 1/3 dưới cong hơn 
2/3 trên thân xương đùi (Bảng 2). 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 125 
Góc cong bên thân xương đùi 
Giá trị trung bình LFB trong mẫu NC của 
chúng tôi là 1,75 ± 3,41º, giá trị lớn 
nhất và nhỏ nhất ghi nhận được lần lượt là 9,86º 
và -6,21º (Bảng 3). 
Bảng 3: Phân bố giá trị góc cong bên thân xương đùi 
(LFB). (N=120) 
Giá trị LFB (º) Tần suất Tỷ lệ (%) 
≤ -2 22 18,33 
-2 < LFB ≤ 0 19 15,83 
0 < LFB ≤ 2 25 20,84 
2 < LFB ≤ 4 21 17,5 
4 < LFB ≤ 6 21 17,5 
> 6 12 10 
Khoảng 63,33% mẫu NC có giá trị tuyệt đối 
LFB trên 2º trong đó: 45% có LFB trên 2º và 
18,33% nhỏ hơn -2º, cho thấy độ cong xương đùi 
trên mặt phẳng trán tương đối lớn. 
Góc ngã trước cổ xương đùi (FNA) 
Giá trị FNA trung bình trong mẫu NC của 
chúng tôi là 15,52 ± 6,00º, giá trị lớn nhất và nhỏ 
nhất ghi nhận được lần lượt là 36,12º và -2º cho 
thấy khoảng dao động tương đối rộng của giá trị 
FNA (Bảng 4). 
Bảng 4: Giá trị trung bình FNA (N=120) 
FNA 
Trung bình ± 
SD (º) 
GTLN; GTNN 
(º) 
P* 
Chung (n=120) 15,52 ± 6,00 36,12; -2 
Bên phải (n=60) 15,55 ± 5,83 32,12; -1,67 
0,9605 
Bên trái (n=60) 15,49 ± 6,22 36,12; -2 
Nam (n=42) 15,51 ± 6,28 36,12; -2 
0,7692 
Nữ (n=18) 15,53 ± 5,40 28,27; 8,01 
Đường kính eo xương đùi 
Eo xương đùi có dạng hình elip với đường 
kính trong- ngoài nhỏ hơn đường kính trước- 
sau với giá trị trung bình lần lượt là 9,90± 1,49 
mm và 13,54 ± 1,90 mm, Phương trình hồi quy 
giữa hai kích thước trên như sau: 
ISTHML=2,2183 + 0,5675 x ISTHAP (mm) 
(ISTHML: Đường kính eo trong- ngoài, ISTHAP: 
Đường kính eo trước- sau). 
Chỉ số độ rộng lòng tủy (CFI) 
Giá trị trung bình CFI trong mẫu NC của 
chúng tôi là 4,34 ± 0,36, giá trị lớn nhất và nhỏ 
nhất ghi nhận được lần lượt là 5,01 và 2,85 (Bảng 
5). 
Bảng 5: Giá trị trung bình CFI (N=120) 
CFI (N= 120) Trung bình ± SD GTLN - GTNN P* 
Chung (n=120) 4,34 ± 0,36 5,01 - 2,85 
Bên phải (n=60) 4,33 ± 0,36 4,97 - 2,91 
0,6765 
Bên trái (n=60) 4,36 ± 0,36 5,01 - 2,85 
Nam (n=42) 4,39 ± 0,32 5,01 - 3,54 
0,0536 
Nữ (n=18) 4,24 ± 0,44 4,97 - 2,85 
BÀN LUẬN 
Bán kính góc cong trước thân và từng đoạn 
xương đùi 
Nhìn chung giá trị ROC trước thân xương 
đùi ở dân số Việt Nam nhỏ hơn so với dân số 
Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Phi, Nhật Bản và có sự 
tương đồng với dân số Trung Quốc, Thái Lan. 
Điều này cho thấy xương đùi của người Việt 
Nam nói riêng và dân số Châu Á nói chung cong 
trên mặt phẳng đứng dọc hơn dân số Châu Âu, 
Bắc Mỹ và Châu Phi. 
Bảng 6: Giá trị bán kính góc cong trước thân xương đùi theo một số nghiên cứu 
Tác giả Năm Cỡ mẫu Phương pháp Quốc gia ROC (mm) 
Onoue Y
(7)
 1979 160 X-Quang Nhật 1159 ± 122 
Egol KA
(8)
 2004 892 Xương khô Mỹ 1200 
Chantarapanich N
(9)
 2008 99 CT- Scan Thái Lan 895,46 ± 238,06 
Wang YQ
(10)
 2009 18 Xương khô Trung Quốc 888,89 ± 160,47 
Maratt J
(11)
 2014 3922 CT- Scan 
Da trắng 
Châu Phi 
Châu Á 
1104 ± 243 
1222 ± 327 
1011 ± 230 
Buford WL
(12)
 2014 19 X-Quang Da trắng 1446 ± 397 
Ndeleva B
(3)
 2016 66 Xương khô Kenya 964 ± 256,1 
Chúng tôi 2020 120 CT- Scan Việt Nam 906,12 ± 163,47 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 126 
Trong phẫu thuật kết hợp xương cho các 
trường hợp gãy đầu gần và thân xương đùi bằng 
đinh nội tủy, góc cong trước thân xương đùi có 
ảnh hưởng rất lớn đến kết quả nắn, cũng như 
khả năng duy trì cấu hình vững chắc giữa 
xương- dụng cụ kết hợp xương giúp cho quá 
trình liền xương diễn ra tối ưu. Sự bất tương hợp 
giữa ROC trước của xương đùi và đinh nội tủy 
có thể dẫn đến nhiều khó khăn và biến chứng 
trong và sau phẫu thuật, bao gồm: Lệch trục, 
giảm sự tiếp xúc giữa đinh và vỏ xương đặc biệt 
ở vỏ sau dẫn đến chậm hay không lành xương, 
cấn đầu xa của đinh vào vỏ trước, vỡ vỏ trước, 
gãy xương trong quá trình đóng đinh, không thể 
chốt được vít xa(1,2,3,4). 
Do đó, độ cong của lòng tủy xương đùi trên 
mặt phẳng đứng dọc là một yếu tố quan trọng 
cần được đánh giá trước mổ trong các phẫu 
thuật kết hợp xương đùi bằng đinh nội tủy cũng 
như phẫu thuật thay khớp gối, khớp háng sử 
dụng chuôi dài hay các phẫu thuật tái tạo lại 
xương đùi sau các phẫu thuật cắt rộng bướu 
xương vùng đùi. Việc đánh giá chính xác sẽ giúp 
phẫu thuật viên lựa chọn được các dụng cụ 
phẫu thuật thích hợp cũng như lường trước 
được những khó khăn trong lúc mổ để mang lại 
kết quả điều trị tối ưu. 
Góc cong bên thân xương đùi 
Độ cong xương đùi trên mặt phẳng trán 
tương đối lớn với 63,33% mẫu nghiên cứu có giá 
trị tuyệt đối góc cong bên trên 2º. Góc cong bên 
thân xương đùi được đặc biệt quan tâm trong 
các phẫu thuật thay khớp gối sử dụng hệ thống 
định vị trong lòng tủy. Ngoài ra góc cong bên 
còn đóng vai trò trong cơ chế bệnh sinh của các 
trường hợp gãy xương đùi không điển hình, hay 
phẫu thuật kết hợp xương đùi bằng đinh nội tủy 
ở những xương đùi có góc cong trên mặt phẳng 
trán lớn(13,14). 
Do vậy đánh giá góc cong bên thân xương 
đùi trước mổ đối với các trường hợp gãy xương 
đùi không điển hình hết sức quan trọng và cần 
phải thực hiện để lường trước được những khó 
khăn cũng như lựa chọn phương pháp và dụng 
cụ phẫu thuật thích hợp giúp mang lại kết quả 
điều trị tối ưu. 
Góc ngã trước cổ xương đùi 
Khi điều trị các trường hợp gãy liên mấu 
chuyển hay gãy thân xương đùi bằng đinh nội 
tủy, một yếu tố quan trọng cần lưu ý trong mổ là 
kiểm soát di lệch xoay. Di lệch xoay của xương 
đùi được thể hiện là sự khác biệt góc ngã trước 
cổ xương đùi giữa chi phẫu thuật và chi lành. 
Một số nghiên cứu lâm sàng đánh giá di lệch 
lệch xoay dưới 15º so với bên chi đối diện sau 
mổ thì sẽ ít gây nên biến chứng cũng như giới 
hạn về mặt chức năng sau mổ(15,16). Để hạn chế di 
lệch xoay khi kết hợp xương bằng đinh nội tủy 
với vít chốt cổ bên cạnh việc nắn chỉnh thật tốt ổ 
gãy trong mổ cần phải có sự tương thích giữa 
góc ngã trước của cổ xương đùi và đinh nội tủy. 
Giá trị trung bình góc ngã trước cổ xương đùi 
trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi là 15,52 ± 
6,0º. Các đinh nội tủy với vít chốt cổ được sử 
dụng để điều trị các dạng gãy liên mấu chuyển 
phổ biến hiện nay có góc ngã trước 10º. Nếu di 
lệch xoay sau mổ chấp nhận được là nhỏ hơn 15º 
và phẫu thuật viên thực hiện việc nắn chỉnh 
xương gãy tốt trong mổ thì các dạng đinh nội 
tủy với vít chốt cổ ngày nay hoàn toàn có thể 
được sử dụng trên dân số Việt Nam. 
Các đặc điểm hình thái học lòng tủy của đoạn 
gần và eo xương đùi 
Hình thái lòng tủy đoạn gần và eo xương 
đùi ở dân số Việt Nam trong mẫu nghiên cứu 
của chúng tôi nói riêng và của dân số Châu Á 
nói chung có sự khác biệt với dân số Bắc Mỹ và 
Châu Âu. Do vậy chúng tôi nhận thấy cần có 
thêm những nghiên cứu lâm sàng đánh giá sự 
tương hợp giữa hình thái lòng tủy xương đùi 
trên dân số Việt Nam với các dụng cụ khớp 
háng sử dụng phổ biến hiện nay, nếu sự khác 
biệt này lớn có thể phải thiết kế dụng cụ khớp 
háng riêng cho dân số Việt Nam. 
KẾT LUẬN 
Các đặc điểm hình thái học đầu trên và thân 
xương đùi ở dân số Việt Nam có sự khác biệt với 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 127 
các nhóm dân số khác nhau trên thế giới và có sự 
bất tương hợp giữa các đặc điểm này với các chỉ 
số của các dụng cụ kết hợp xương và thay khớp 
sử dụng hiện nay trên dân số Việt Nam. Nghiên 
cứu của chúng tôi cho giá trị tham khảo cho việc 
chế tạo và sử dụng các dụng cụ kết hợp xương 
và thay khớp trong điều trị. Cần có thêm các 
nghiên cứu lâm sàng để củng cố kết quả có được 
từ nghiên cứu. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Grisso JA, Kelsey JL, Strom BL, Chiu GY, et al (1991). Risk 
factors for falls as a cause of hip fracture in women. The 
Northeast Hip Fracture Study Group. N Engl J Med, 
324(19):1326-1331. 
2. Jones HW, Johnston P, Parker M (2006). Are short femoral nails 
superior to the sliding hip screw? A meta-analysis of 24 studies 
involving 3,279 fractures. Int Orthop, 30(2):69-78. 
3. Lakati KC, Ndeleva B (2016). The anterior curve of the adult 
femur in a Kenyan population and its mismatch with available 
intramedullary nails. East African Orthopaedic Journal, 10:51-54. 
4. Ramanoudjame M, Guillon P, Dauzac C, Meunier C, et al (2010). 
CT evaluation of torsional malalignment after intertrochanteric 
fracture fixation. Orthop Traumatol Surg Res, 96(8):844-848. 
5. Chang SM, Song DL, Ma Z, Tao YL, et al (2014). Mismatch of the 
short straight cephalomedullary nail (PFNA-II) with the anterior 
bow of the Femur in an Asian population. J Orthop Trauma, 
28(1):17-22. 
6. Soren OO (2010). Outcome of surgical implant generation 
network nail initiative in treatment of long bone shaft fractures 
in Kenya. East African Orthopaedic Journal, 3:87-96. 
7. Onoue Y, Sunami Y, Fujiwara H, Sadakane T, et al (1979). 
Treatment of the femoral shaft fracture with a curved heat-
treated COP clover-leaf nail. Int Orthop, 3(3):203-210. 
8. Egol KA, Chang EY, Cvitkovic J, Kummer FJ, et al (2004). 
Mismatch of current intramedullary nails with the anterior bow 
of the femur. J Orthop Trauma, 18(7):410-415. 
9. Chantarapanich N, Sitthiseripratip K, Mahaisavariya B, 
Wongcumchang M, et al (2008). 3D geometrical assessment of 
femoral curvature: a reverse engineering technique. J Med Assoc 
Thai, 91(9):1377-1381. 
10. Wang YQ, Hu YC, Xu ZM, Zhao YW, et al (2009). An 
intramedullary nail with multifunctional interlocking for all 
types of fracture in both femurs. Orthop Surg, 1(2):121-126. 
11. Maratt J, Schilling PL, Holcombe S, Dougherty R, et al (2014). 
Variation in the femoral bow: a novel high-throughput analysis 
of 3922 femurs on cross-sectional imaging, J Orthop Trauma, 
28(1):6-9. 
12. Buford WL Jr, Turnbow BJ, Gugala Z, Lindsey RW (2014). 
Three-dimensional computed tomography-based modeling of 
sagittal cadaveric femoral bowing and implications for 
intramedullary nailing. J Orthop Trauma, 28(1):10-16. 
13. Huang TW, Hsu WH, Peng KT, Hsu RW (2011). Total knee 
replacement in patients with significant femoral bowing in the 
coronal plane: a comparison of conventional and computer-
assisted surgery in an Asian population. J Bone Joint Surg Br, 
93(3):345-350. 
14. Yau WP, Chiu KY, Tang WM, Ng TP (2007). Coronal bowing of 
the femur and tibia in Chinese: its incidence and effects on total 
knee arthroplasty planning J Orthop Surg, 15(1):32-36. 
15. Bråten M, Terjesen T, Rossvoll I (1993). Torsional deformity after 
intramedullary nailing of femoral shaft fractures. Measurement 
of anteversion angles in 110 patients. J Bone Joint Surg Br, 
75(5):799-803. 
16. Kim TY, Lee YB, Chang JD, Lee SS, et al (2015). Torsional 
malalignment, how much significant in the trochanteric 
fractures? Injury, 46(11):2196-2200. 
Ngày nhận bài báo: 30/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 01/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_mot_so_dac_diem_giai_phau_ung_dung_dau_tren_va_th.pdf