Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ estradiol với rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh và hiệu quả điều trị

Mục tiêu: Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ estradiol với rối loạn

niệu dục ở phụ nữ mãn kinh. Đánh giá hiệu quả điều trị rối loạn niệu dục

ở phụ nữ mãn kinh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và

nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau trên 415 phụ nữ mãn kinh tự nhiên

thật sự, không có kinh trở lại sau 1 năm và không dùng liệu pháp nội tiết

thay thế, có các dấu hiệu rối loạn chức năng và có nồng độ estradiol <25pg>

ml đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế trong thời gian từ

tháng 6 đến tháng 12 năm 2014 và được mời đến đánh giá lại từ tháng 6

năm 2015 đến tháng 01 năm 2016. Nghiên cứu được tiến hành thông qua

bộ câu hỏi dành cho mỗi đối tượng nghiên cứu, khám phụ khoa, đo điện

tâm đồ, siêu âm vú, siêu âm kiểm tra độ dày nội mạc tử cung, chụp nhũ

ảnh vú. Sau đó những đối tượng không mắc các bệnh lý tim mạch, không

có các khối u phụ khoa, không có hiện tượng dày niêm mạc tử cung, có

triệu chứng rối loạn niệu dục hoặc có các triệu chứng rối loạn chức năng

chung nhưng trong đó triệu chứng rối loạn niệu dục là nổi trội sẽ được dùng

estriol 1mg để điều trị. Chúng tôi chọn được 157 trường hợp để điều trị. Sau

kết thúc điều trị 2 tháng chúng tôi tiến hành đánh giá lại.

Kết quả: Có mối tương quan nghịch giữa nồng độ estradiol với các triệu

chứng rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh với hệ số tương quan mạnh

(r=0,70). Các triệu chứng rối loạn niệu dục đã được cải thiện đáng kể, thể

hiện rõ nhất là các triệu chứng rối loạn tiểu tiện. Điểm trung bình của chất

lượng sống tăng 9,47 và điểm trung bình của chức năng tình dục tăng

11,36 điểm so với trước điều trị.

Kết luận: Tỷ lệ rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh chiếm tỷ lệ tương đối

cao và tình trạng này được cải thiện đáng kể sau khi dùng estriol

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ estradiol với rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh và hiệu quả điều trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ estradiol với rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh và hiệu quả điều trị

Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ estradiol với rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh và hiệu quả điều trị
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
97
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 97 - 102, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Nguyễn Đình Phương Thảo(1), Nguyễn Vũ Quốc Huy(2), Cao Ngọc Thành(2) 
(1) Đại học Kỹ thuật Y-Dược Đà Nẵng, (2) Đại học Y Dược Huế
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ 
ESTRADIOL VỚI RỐI LOẠN NIỆU DỤC
Ở PHỤ NỮ MÃN KINH VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Đình Phương Thảo, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Tóm tắt
Mục tiêu: Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ estradiol với rối loạn 
niệu dục ở phụ nữ mãn kinh. Đánh giá hiệu quả điều trị rối loạn niệu dục 
ở phụ nữ mãn kinh. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và 
nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau trên 415 phụ nữ mãn kinh tự nhiên 
thật sự, không có kinh trở lại sau 1 năm và không dùng liệu pháp nội tiết 
thay thế, có các dấu hiệu rối loạn chức năng và có nồng độ estradiol <25pg/
ml đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế trong thời gian từ 
tháng 6 đến tháng 12 năm 2014 và được mời đến đánh giá lại từ tháng 6 
năm 2015 đến tháng 01 năm 2016. Nghiên cứu được tiến hành thông qua 
bộ câu hỏi dành cho mỗi đối tượng nghiên cứu, khám phụ khoa, đo điện 
tâm đồ, siêu âm vú, siêu âm kiểm tra độ dày nội mạc tử cung, chụp nhũ 
ảnh vú. Sau đó những đối tượng không mắc các bệnh lý tim mạch, không 
có các khối u phụ khoa, không có hiện tượng dày niêm mạc tử cung, có 
triệu chứng rối loạn niệu dục hoặc có các triệu chứng rối loạn chức năng 
chung nhưng trong đó triệu chứng rối loạn niệu dục là nổi trội sẽ được dùng 
estriol 1mg để điều trị. Chúng tôi chọn được 157 trường hợp để điều trị. Sau 
kết thúc điều trị 2 tháng chúng tôi tiến hành đánh giá lại. 
Kết quả: Có mối tương quan nghịch giữa nồng độ estradiol với các triệu 
chứng rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh với hệ số tương quan mạnh 
(r=0,70). Các triệu chứng rối loạn niệu dục đã được cải thiện đáng kể, thể 
hiện rõ nhất là các triệu chứng rối loạn tiểu tiện. Điểm trung bình của chất 
lượng sống tăng 9,47 và điểm trung bình của chức năng tình dục tăng 
11,36 điểm so với trước điều trị. 
Kết luận: Tỷ lệ rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh chiếm tỷ lệ tương đối 
cao và tình trạng này được cải thiện đáng kể sau khi dùng estriol.
Abstract 
RELATIONSHIP BETWEEN SERUM ESTRADIOL 
LEVEL AND GENITOURINARY DISORDERS IN 
1. Đặt vấn đề
Mãn kinh là tình trạng không hành kinh vĩnh 
viễn và không còn khả năng sinh sản tự nhiên, là 
một hiện tượng sinh lý bình thường do buồng trứng 
suy tàn, các hormon sinh dục không còn được chế 
tiết dẫn đến những biến đổi và rối loạn tạm thời 
một số chức năng tâm sinh lý ở phụ nữ mãn kinh 
[3], [4], [17].
Bước vào tuổi mãn kinh, phụ nữ có nguy cơ cao 
đối với bệnh tật do tình trạng thiếu hụt estrogen (là 
nguyên nhân chính) và gánh nặng của tuổi tác cũng 
như môi trường sống và điều kiện xã hội. Bên cạnh 
những rối loạn vận mạch và tâm sinh lý như bốc 
hỏa, vã mồ hôi đêm, rối loạn giấc ngủ, dễ cáu gắt, 
hay buồn chán thì những triệu chứng rối loạn niệu 
dục đã làm cho người phụ nữ mãn kinh dễ bị viêm 
âm đạo, đau khi giao hợp, giảm ham muốn tình 
dục, són tiểu, tiểu rắt, tiểu đêm Những rối loạn 
này đã làm giảm chất lượng sống của phụ nữ mãn 
kinh và hiệu quả lao động của xã hội bị ảnh hưởng.
Với tuổi thọ trung bình của phụ nữ ngày càng 
tăng, tuổi thọ trung bình của phụ nữ hiện nay 
là 76 tuổi và tuổi mãn kinh trung bình là 51. Ở 
Việt Nam, với quy mô dân số 90,7 triệu người 
vào năm 2014 [5], [8], một tỷ lệ không nhỏ phụ 
nữ đã và đang vào mãn kinh cần được chăm sóc 
sức khỏe. 
Theo khuyến cáo của Hiệp hội Mãn kinh Quốc 
tế, cửa sổ thời gian tốt nhất để điều trị những triệu 
chứng rối loạn chức năng ở phụ nữ mãn kinh là 
thời gian mãn kinh dưới 10 năm và phụ nữ mãn 
kinh dưới 60 tuổi, bởi vì ở lứa tuổi này nếu được 
điều trị sẽ đem lại kết quả và nhiều lợi ích hơn và 
sẽ làm giảm nguy cơ bệnh tật so với nhóm phụ nữ 
mãn kinh trên 60 tuổi [11].
Điều trị rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh là 
rất quan trọng nhằm góp phần nâng cao sức khỏe 
cũng như chất lượng sống mà đảm bảo chi phí hiệu 
quả cho phụ nữ mãn kinh, vì vậy chúng tôi tiến 
hành đề tài: “Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng 
độ estradiol với rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn 
kinh và hiệu quả điều trị” nhằm (1) tìm hiểu mối 
liên quan giữa nồng độ estradiol với rối loạn niệu 
dục ở phụ nữ mãn kinh; (2) Đánh giá hiệu quả điều 
trị rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh.
NGUYỄN ĐÌNH PHƯƠNG THẢO, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, CAO NGỌC THÀNH
98
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
POSTMENOPAUSAL WOMEN AND EFFECTS OF THERAPY 
Objectives: Relationships between serum estradiol concentration and genitourinary disorders in post-
menopausal women. Assessment effects of therapy in genitourinary disorders in post-menopausal women. 
Materials & methods: A cross-sectional study and community intervention of 415 postmenopausal 
women, not using hormone replacement therapy, there are signs of dysfunction, seen at hospital of Hue 
University of Medicine and Pharmacy from June to December, 2014. Data collection was implemented 
by conducting questionnaires with respondents and gynecological examination, ECG, breast ultrasound, 
endometrium ultrasound and Mammography. Participants without cardiovascular diseases and 
gynecological tumors, no phenomenon of thick membrane of the uterus, having symptoms of genitourinary 
disorders will treated by estriol 1mg (specific Ovestin). We selected 157 cases for treatment. 
Results: There were contrast relationship between serum estradiol concentration and genitourinary 
disorders in postmenopausal women (r=0.70). Symptoms of genitourinary disorders was significant 
improve, specially urogenital disorders. Mean score of UQoL and CSFQ increase significantly in 
comparision with before (UQoL increase 9,47 and CSFQ increase 11,36).
Conclusion: Genitourinary disorders rate in postmenopausal women is the highest and this situation 
has been improved significantly.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
99
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 97 - 102, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là 
những phụ nữ mãn kinh có rối loạn chức năng sau 
khi đã được phỏng vấn và thăm khám tại các Trạm 
Y tế trong thành phố Huế, được mời đến khám 
tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế trong 
thời gian từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 12 năm 
2014, và được mời đến tái khám trong thời gian từ 
tháng 6 năm 2015 đến tháng 01 năm 2016.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng: Những phụ nữ đã 
mãn kinh tự nhiên thật sự, không có kinh trở lại sau 
1 năm, tuổi không quá 65 tuổi, không sử dụng liệu 
pháp nội tiết, có triệu chứng rối loạn vận mạch hoặc 
có triệu chứng rối loạn chức năng chung nhưng 
trong đó triệu chứng vận mạch là triệu chứng nổi 
trội, đồng ý tham gia nghiên cứu và tình trạng sức 
khỏe đủ điều kiện để chọn giải pháp can thiệp.
Tiêu chuẩn loại trừ: Những phụ nữ mắc bệnh ác 
tính, tâm thần. Những phụ nữ đã phẫu thuật cắt tử 
cung và hai phần phụ trước và sau mãn kinh. Phụ 
nữ không còn minh mẫn để có thể trả lời chính xác 
các câu hỏi được phỏng vấn, những phụ nữ mắc 
bệnh nội khoa mãn tính như: Đái tháo đường, suy 
tuyến yên, suy tuyến thượng thận, cao huyết áp. 
Những phụ nữ có chống chỉ định dùng thuốc nội 
tiết, những phụ nữ đang dùng liệu pháp nội tiết điều 
trị và phụ nữ từ chối tham gia vào mẫu nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt 
ngang và can thiệp so sánh trước sau.
Với cách chọn mẫu cụm ngẫu nhiên phân bố có 
tỷ lệ 1/5 với tổng số phụ nữ mãn kinh. Chúng tôi 
chọn được 1110 phụ nữ mãn kinh đang sinh sống 
tại các phường trong thành phố Huế. Nghiên cứu 
được tiến hành thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn 
trực tiếp các đối tượng, sau đó xác định các rối loạn 
chức năng của phụ nữ mãn kinh. Các đối tượng 
nghiên cứu được lấy máu tĩnh mạch để xét nghiệm 
nồng độ estradiol huyết thanh và xét nghiệm Pap/
smear để sàng lọc ung thư cổ tử cung. Dựa vào 
mối liên quan giữa nồng độ estradiol với các rối 
loạn chức năng ở phụ nữ mãn kinh, chúng tôi chọn 
được 415 phụ nữ mãn kinh trên 1 năm có những 
rối loạn chức năng và có nồng độ estradiol giảm. 
Sau đó các đối tượng được tiến hành khám phụ 
khoa và thực hiện một số xét nghiệm như: Đo điện 
tâm đồ, chụp nhũ ảnh, siêu âm vú, siêu âm kiểm tra 
độ dày nội mạc tử cung. Những đối tượng không 
mắc các bệnh lý về tim mạch, u vú hoặc khối u phụ 
khoa cũng như không có hiện tượng dày nội mạc 
tử cung, có triệu chứng rối loạn niệu dục hoặc có 
triệu chứng rối loạn chức năng chung nhưng trong 
đó triệu chứng rối loạn niệu dục là nổi trội sẽ được 
chọn điều trị estriol 1mg (cụ thể là Ovestin), uống 
liều 2mg/ngày trong thời gian 30 ngày. Chúng tôi 
chọn được 157 trường hợp để điều trị. Sau kết thúc 
điều trị 2 tháng, chúng tôi tiến hành đánh giá lại.
Số liệu được nhập, được tính toán xử lý qua 
phần mềm SPSS 19.0 và các thuật toán thống kê 
được sử dụng trong Y học: sử dụng Chi-Square test 
và test t, Chi bình phương của Mc’Nemar để so 
sánh hiệu quả trước sau theo tỷ lệ, sử dụng phương 
trình hồi quy tuyến tính có hệ số hồi quy (hệ số 
chặn và hệ số góc-hay độ dốc) để tính mối tương 
quan của hai biến X và Y.
3. Kết quả 
Tuổi mãn kinh trung bình trong nghiên cứu của 
chúng tôi là 49,47 ± 3,49. Tuổi mãn kinh lớn nhất 
là 59 tuổi, tuổi mãn kinh nhỏ nhất là 36 tuổi. Mãn 
kinh trên 55 tuổi chiếm tỷ lệ 1,9%, mãn kinh dưới 
40 tuổi chiếm 5,7%. Đa số phụ nữ mãn kinh trong 
độ tuổi 40 – 55, chiếm 92,4%.
Biểu đồ 1: Phân bố mẫu nghiên cứu theo tuổi mãn kinh
4	
vú, siêu âm kiểm tra độ dày nội mạc tử cung. Những đối tượng không mắc các bệnh lý về tim 
mạch, u vú hoặc khối u phụ khoa cũng như không có hiện tượng dày nội mạc tử cung, có 
triệu chứng rối loạn niệu d c hoặc có triệu c ứng rối loạn chức năng chung nhưng trong đó 
triệu chứng rối loạn niệu dục là nổi trội sẽ được chọn điều trị estriol 1mg (cụ thể là Ovestin), 
uống liều 2mg/ngày trong thời gian 30 ngày. Chúng tôi chọn được 157 trường hợp để điều 
trị. Sau kết thúc điều trị 2 tháng, chúng tôi tiến hành đánh giá lại. 
Số liệu được nhập, được tính toán xử lý qua phần mềm SPSS 19.0 và các thuật toán 
thống kê được sử dụng trong Y học: sử dụng Chi-Square test và test t, Chi bình phương của 
Mc'Nemar để so sánh hiệu quả trước sau theo tỷ lệ, sử dụng phương trình hồi quy tuyến tính 
có hệ số hồi quy (hệ số chặn và hệ số góc-hay độ dốc) để tính mối tương quan của hai biến X 
và Y. 
3. Kết quả 
5,7%
92,4%
1,9%
< 40 tuổi 
40-55 tuổi
> 55 tuổi
 Biểu đồ 1: Phân bố mẫu nghiên cứu theo tuổi mãn kinh 
Tuổi mãn kinh trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 49,47 ± 3,49. Tuổi mãn 
kinh lớn nhất là 59 tuổi, tuổi mãn kinh nhỏ nhất là 36 tuổi. Mãn kinh trên 55 tuổi chiếm tỷ lệ 
1,9%, mãn kinh dưới 40 tuổi chiếm 5,7%. Đa số phụ nữ mãn kinh trong độ tuổi 40 – 55, 
chiếm 92,4%. 
Biểu đồ 2: Tương quan giữa Estradiol với triệu chứng rối loạn niệu dục trước can thiệp
5	
 Chart Title
y = -3,5723x + 25,699
R2 = 0,4965
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
50
0 2 4 6 8 
Biểu đồ 2: Tương quan giữa Estradiol với triệu chứng rối loạn niệu dục trước can thiệp 
Nồng độ estradiol tương quan tỷ lệ nghịch có ý nghĩa thống kê với các triệu chứng rối 
loạn niệu dục với phương trình hồi quy tuyến tính y = -3,5723x + 25,699. Hệ số tương quan 
r = 0,70 (Mức độ tương quan mạnh). 
Bảng 1: Hiệu quả của estriol trong điều trị rối loạn tiết niệu ở phụ nữ mãn kinh 
Triệu chứng 
Rối loạn tiết niệu 
n = 157 
Tiểu 
nhiều lần 
Tiểu gấp Tiểu đau Tiểu đêm 
> 1 lần 
Són tiểu 
gắng sức 
Tiểu 
khó 
Trước 
điều trị 
n 64 30 37 119 86 35 
% 40,8 19,1 23,6 75,8 54,8 22,3 
Sau 
điều trị 
n 3 4 0 8 33 2 
% 1,9 2,5 0,0 5,1 21,0 1,3 
p 
(McNemar) 
<0,01 <0,01 * <0,01 <0,01 <0,01 
Các triệu chứng rối loạn tiết niệu chiếm tỷ lệ khá cao trước can thiệp. Sau can thiệp, 
Triệu chứng niệu dục
Nồ
ng
 độ
 es
tra
dio
l h
uy
ết 
tha
nh
NGUYỄN ĐÌNH PHƯƠNG THẢO, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, CAO NGỌC THÀNH
100
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Nồng độ estradiol tương quan tỷ lệ nghịch 
có ý nghĩa thống kê với các triệu chứng rối loạn 
niệu dục với phương trình hồi quy tuyến tính y = 
-3,5723x + 25,699. Hệ số tương quan r = 0,70 
(Mức độ tương quan mạnh).
Các triệu chứng rối loạn tiết niệu chiếm tỷ lệ 
khá cao trước can thiệp. Sau can thiệp, các triệu 
chứng này cải thiện đáng kể, thể hiện rõ nhất là 
triệu chứng tiểu nhiều lần và tiểu khó. Tiểu nhiều 
lần còn 1,9% so với trước điều trị (40,8%); tiểu đau 
hầu như đã cải thiện hoàn toàn so với trước điều 
trị; tiểu đêm >1 lần còn 5,1% so với trước điều trị 
(75,8%); són tiểu gắng sức còn 21% so với trước 
điều trị (54,8%). Sự khác nhau giữa các triệu chứng 
trước và sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p 
(McNemar) < 0,01.
Các triệu chứng về sinh dục cũng cải thiện 
đáng kể sau can thiệp. Cảm giác bỏng rát âm 
đạo, âm đạo khô, âm đạo có xung huyết dạng 
mảng hay dạng chấm và sinh hoạt tình dục đau 
cải thiện rõ rệt. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
giữa các triệu chứng trước và sau can thiệp với p 
(McNemar) < 0,01.
Triệu chứng
Rối loạn tiết niệu n = 157
Tiểu nhiều 
lần Tiểu gấp Tiểu đau
Tiểu đêm 
> 1 lần
Són tiểu 
gắng sức Tiểu khó
Trước điều trị
n 64 30 37 119 86 35
% 40,8 19,1 23,6 75,8 54,8 22,3
Sau điều trị
n 3 4 0 8 33 2
% 1,9 2,5 0,0 5,1 21,0 1,3
p (McNemar) <0,01 <0,01 * <0,01 <0,01 <0,01
Bảng 1: Hiệu quả của estriol trong điều trị rối loạn tiết niệu ở phụ nữ mãn kinh
Triệu chứng
Rối loạn sinh dục n = 157
Cảm giác 
bỏng rát 
âm đạo
Âm 
đạo 
khô
Âm 
đạo 
mỏng
Âm đạo có 
xuất huyết 
dạng mảng 
dạng chấm
Âm đạo 
có rỉ 
máu
SHTD 
đau
Không 
còn 
SHTD
Trước điều trị
n 91 153 66 126 53 114 42
% 58,0 97,5 42,0 80,3 33,8 72,6 26,8
Sau điều trị
n 2 1 23 1 0 2 34
% 1,3 0,6 14,6 0,6 0,0 1,3 21,7
p (McNemar) <0,01 <0,01 <0,01 <0,01 * <0,01 *
Bảng 2: Hiệu quả của estriol trong điều trị rối loạn sinh dục ở phụ nữ mãn kinh
Thang điểm
Điểm trung bình
Hiệu trung bình Số trường hợp p
Trước điều trị Sau điều trị
UQoL 61,30 ± 5,12 70,77 ± 4,73 9,47 ± 4,13 157 <0,001
CSFQ 23,44 ± 6,86 34,80 ± 10,78 11,36 ± 7,18 157 < 0,001
Bảng 3: Chất lượng sống và chức năng tình dục trước và sau điều trị 
Điểm trung bình của chất lượng sống và chức 
năng tình dục ở phụ nữ mãn kinh cải thiện đáng 
kể sau thời gian điều trị với Ovestin. Điểm trung 
bình của chất lượng sống tăng 9,47 và chức 
năng tình dục tăng 11,36 so với trước điều trị. 
Sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p<0,001).
4. Bàn luận 
4.1. Tuổi mãn kinh trung bình
Tuổi mãn kinh trung bình trong nghiên cứu 
của chúng tôi là 49,47 ± 3,49, tuổi mãn kinh 
nhỏ nhất là 36, tuổi mãn kinh lớn nhất là 59, 
có 92,4% các phụ nữ mãn kinh ở độ tuổi 40-
55. Kết quả này cũng phù hợp với một số tác 
giả, Nguyễn Thị Ngọc Phượng (HCM-2003) là 
48,6 tuổi [7], Lê Thanh Bình (Hải Phòng-2014) 
là 49,26 tuổi [1]. Tuổi mãn kinh trung bình trong 
nghiên cứu của chúng tôi nằm trong dao động 
tuổi mãn kinh trung bình ở các nước Châu Á từ 
47-50 tuổi: Chim Harvey (Singapore - 2002) là 
49 tuổi [12], Ấn Độ 45,8 tuổi [9], Trung Quốc 
50 tuổi [14]. Nghiên cứu của chúng tôi có 92,4% 
phụ nữ mãn kinh ở nhóm tuổi từ 40 – 55. Điều 
này cho thấy rằng hầu hết phụ nữ thành phố 
Huế có tuổi mãn kinh nằm trong giới hạn bình 
thường. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với 
nhận định cho rằng tuổi mãn kinh tự nhiên trung 
bình xảy ra ở độ tuổi 45 - 55 [2].
4.2. Tương quan giữa estradiol với 
các triệu chứng rối loạn niệu dục ở nhóm 
nghiên cứu trước điều trị
Biểu đồ 2 cho thấy nồng độ estradiol tương 
quan tỷ lệ nghịch với các triệu chứng rối loạn niệu 
dục ở nhóm điều trị với Ovestin. Đặc biệt khi nồng 
độ estradiol giảm xuống khoảng 15pg/ml thì tần 
suất xuất hiện các triệu chứng rối loạn niệu dục 
tăng lên với hệ số tương quan khá chặt (r=0,70).
4.3. Hiệu quả của estriol trong điều trị 
rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh
Các triệu chứng rối loạn niệu dục chiếm tỷ lệ 
tương đối cao trước can thiệp. Sau can thiệp các 
triệu chứng này cải thiện đáng kể, thể hiện rõ nhất 
là triệu chứng rối loạn tiểu tiện. Tiểu nhiều lần còn 
1,9% so với trước điều trị (40,8%), tiểu gấp còn 
2,5% so với trước điều trị (19,1%), tiểu đau hầu 
như đã cải thiện hoàn toàn so với trước can thiệp, 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
101
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 97 - 102, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
tiểu đêm >1 lần còn 5,1% so với trước điều trị 
(75,8%), són tiểu gắng sức còn 21% so với trước 
điều trị (54,8%), tiểu khó còn 1,3% so với trước 
điều trị (22,3%).
Estrogen đóng một vai trò quan trọng trong 
việc duy trì biểu mô của bàng quang và niệu đạo. 
Thiếu hụt estrogen làm thay đổi hầu hết về giải 
phẫu, tế bào, vi trùng và sinh lý ở hệ niệu sinh 
dục sau mãn kinh. Thiếu estrogen đáng kể gây 
ra những thay đổi teo ở những cơ quan này, làm 
tăng viêm teo bàng quang với đặc điểm là gây 
tiểu gấp, són tiểu, tiểu nhiều lần [6]. Trutnovsky 
G và cộng sự khi nghiên cứu ảnh hưởng của mãn 
kinh và liệu pháp nội tiết trên những triệu chứng 
của són tiểu gắng sức và tiểu gấp không kiểm 
soát ở 382 phụ nữ mãn kinh đã ghi nhận rằng 
són tiểu gắng sức chiếm tỷ lệ 76% và tiểu gấp 
không kiểm soát chiếm tỷ lệ 72%. Tác giả cũng 
đã kết luận rằng tiểu gấp có liên quan đến tuổi 
mãn kinh [18].
Cody JD và cộng sự khi tiến hành 33 nghiên 
cứu trên 19.313 phụ nữ mãn kinh có rối loạn tiểu 
tiện, trong đó có 9417 phụ nữ mãn kinh được 
nhận liệu pháp estrogen (dùng estrogen đặt âm 
đạo hoặc estrogen dạng kem). Tác giả đã kết 
luận rằng liệu pháp estrogen cải thiện rõ rệt triệu 
chứng rối loạn tiểu tiện ở phụ nữ mãn kinh [13]. 
Các triệu chứng thiểu dưỡng âm đạo cũng cải 
thiện rõ rệt. Cảm giác bỏng rát âm đạo còn 1,3% 
so với trước điều trị (58%), âm đạo khô còn 0,6% 
so với trước điều trị (97,5%), âm đạo có xung 
huyết dạng mảng hay dạng chấm còn 0,6% so 
với trước điều trị (80,3%), âm đạo có rỉ máu hầu 
như không còn so với trước điều trị, sinh hoạt tình 
dục đau còn 1,3% so với trước điều trị (72,6%).
Bachmann GA và cộng sự khi sử dụng 
estradiol vòng đặt âm đạo để điều trị triệu chứng 
viêm teo âm đạo ở phụ nữ mãn kinh, liệu pháp 
điều trị được so sánh với viên giả dược. Sau 12 
tuần điều trị, triệu chứng rối loạn ở âm đạo được 
báo cáo là 8% so với 24,4% nhóm bệnh nhân 
dùng thuốc giả dược. Cũng với một thử nghiệm 
khác, dùng 3,5mg estriol đặt âm đạo. Sau 16 
tuần dùng thuốc, phụ nữ mãn kinh nhận dùng 
estriol, các triệu chứng khô teo âm đạo, đau khi 
giao hợp được cải thiện đáng kể so với nhóm 
bệnh nhân dùng viên giả dược [10]. 
Thiếu kích thích của estrogen nên tổ chức 
collagen trở nên đặc lại và lượng nước chứa 
trong tổ chức này cũng giảm đi, lớp mỡ dưới da 
tổ chức collagen giảm làm cho các mô ở thành 
âm đạo giảm tính đàn hồi, vách âm đạo trở nên 
khô, mỏng và nhợt nhạt, nếp âm đạo biến mất, 
niêm mạc bị teo mỏng khiến lòng âm đạo hẹp. 
Mặc khác, tế bào biểu mô âm đạo chứa ít chất 
glycogen hơn, quần thể lactobacillus giảm và pH 
âm đạo tăng. Vì vậy đã dẫn đến hậu quả là khô 
âm đạo, đau khi giao hợp và âm đạo dễ bị tổn 
thương cũng như nhiễm trùng [6], [16].
4.4. Chất lượng sống và chức năng 
tình dục trước và sau điều trị
Kết quả ở bảng 3 cho thấy điểm trung bình 
của chất lượng sống và điểm trung bình của chức 
năng tình dục cải thiện đáng kể sau điều trị với 
Ovestin. Điểm trung bình của chất lượng sống 
tăng 9,47 và điểm trung bình của chức năng tình 
dục tăng 11,36 so với trước điều trị. Sự khác biệt 
có ý nghĩa thống kê (p<0,001).
Nghiên cứu của Nastri và cộng sự về liệu 
pháp nội tiết đối với chức năng tình dục ở phụ 
nữ quanh mãn kinh và hậu mãn kinh đã kết luận 
rằng liệu pháp estrogen đơn thuần hoặc estrogen 
phối hợp với progestogens có liên quan đến cải 
thiện chức năng tình dục ở phụ nữ mãn kinh, 
đặc biệt là giao hợp đau. Hiệu quả này được 
ghi nhận ở phụ nữ có triệu chứng rối loạn mãn 
kinh hoặc ở những phụ nữ mới mãn kinh trong 
5 năm [15].
5. Kết luận
5.1. Liên quan giữa nồng độ estradiol 
với rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh
Có mối tương quan nghịch giữa nồng độ 
estradiol với các triệu chứng rối loạn niệu dục với 
hệ số tương quan mạnh (r=0,70).
5.2. Hiệu quả của estriol trong điều trị 
rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh
- Các triệu chứng rối loạn niệu dục cải thiện 
đáng kể sau can thiệp, thể hiện rõ nhất là các triệu 
chứng rối loạn tiểu tiện. 
- Điểm trung bình của chất lượng sống tăng 
9,47 và chức năng tình dục tăng 11,36 điểm so 
với trước điều trị.
NGUYỄN ĐÌNH PHƯƠNG THẢO, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, CAO NGỌC THÀNH
102
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Tài liệu tham khảo
1. Lê Thanh Bình, Nguyễn Thu Trang, Vũ Thu Hương (2014), “Tuổi mãn 
kinh và nhu cầu cải thiện sức khỏe quanh tuổi mãn kinh của phụ nữ 
thành phố Hải Phòng”, Tạp chí Phụ Sản, 12(03), tr.40 – 44.
2. Bộ môn Phụ Sản - Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh (2005), “Thời 
mãn kinh”, Sản Phụ khoa, NXB TP Hồ Chí Minh, tr.789-795.
3. Bộ môn Sinh lý học, Trường Đại học Y Hà Nội (2000), “Sinh lý sinh 
sản nữ”, Sinh lý học Tập II, NXB Y học Hà Nội, tr.135-164.
4. Dương Thị Cương (2004), “Tuổi mãn kinh”, Bách khoa thư bệnh học, 
NXB Y học Nội, tr. 280 – 283.
5. Niên giám Thống kê ASEAN (2014) – Tổng cục Thống kê Dân số 
Việt Nam 2014, “Dân số Việt Nam 2014”, web: www.gso.gov.vn
6. Nguyễn Thị Ngọc Phượng và cộng sự (dịch-1998), “Thiếu hụt 
estrogen và mãn kinh”, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, Tài liệu lưu hành 
nội bộ, tập 1.
7. Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Mai Công Danh và cộng sự (2004), “Hiệu 
quả của hormon thay thế trong điều trị rối loạn mãn kinh – Thái độ của 
phụ nữ hiện nay đối với hormon thay thế”, Tập san Hội nghị Việt – Pháp 
về sản phụ khoa vùng Châu Á Thái Bình Dương lần IV, tr.180 – 187.
8. Nguyễn Thị Ngọc Phượng (2012), “Mãn kinh”, Nội tiết sinh sản, NXB 
Y học, tr.201–227.
9. Aarti K (2011), “Age of Menopause and Menopausal Symptoms 
among Urban Women in Pune, Maharashtra”, The Journal of Obstetrics 
and Gynecology of India, pp.323-326.
10. Bachmann GA, Johnston SL, Kessel Bruce et al (2007), “The role of 
local vaginal estrogen for treatment of vaginal atrophy in postmenopausal 
women; 2007 position statement of The North American Menopause 
Society”, The Journal of The North American Menopause Society, 14(3), 
p.p.357-365.
11. Baber R.J, Panay N (2016), “2016 IMS Recommendations on 
women/s midlife health and menopause hormon therapy”, Climacteric, 
19(2), p.p. 109-150.
12. Chim Harvey, Tan B.H.I, Ang C.C et al (2002), “The prevalence of 
menopausal symptoms in a community in Singapore”, Maturitas, 41, 
p.p.275-282.
13. Cody JD, Richardson K, Moehrer B (2009), “Oestrogen therapy for 
urinary incontinence in post-menopusal women (Review)”, The Cochrane 
Collaboration, 4, p.p1-105.
14. Li Lin, Wu Jie, Pu Danhua et al (2012), “Factors associated with 
the age of natural menopause and menopausal symptoms in Chinese 
women”, Maturitas, 73, p.p.354-360.
15. Nastri C.O, Lara L.A, Ferriani R.A et al (2013), “Hormone therapy 
for sexual function in perimenopausal and postmenopausal women 
(Review)”, Cochrane Database of Systematic Reviews, 6, p.p.1-125.
16. Reid Robert, Abramson BL, Blake Jennifer et al (2014), “Managing 
Menopause”, Journal of Obstetrics and Gynaecology Canada, 311(222), 
p.p.S1-S81.
17. Santoro N (2008), “Symptoms of menopause: hot flushes”, Clin 
Obstet Gynecol, 51(3), p.p. 539-548.
18. Trutnovsky G, Rojas R.G, Mann K.P et al (2013), “Urinary 
incontinence: the role of menopause”, Menopause: The Journal of The 
North American Menopause Society, 21(4), p.p.399-402.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_moi_lien_quan_giua_nong_do_estradiol_voi_roi_loan.pdf