Nghiên cứu mối liên quan giữa đặc điểm giải phẫu tinh hoàn với các thông số tinh dịch đồ ở bệnh nhân vô sinh nam

Mục tiêu: Nghiên cứu mối liên quan giữa đặc điểm giải phẫu tinh hoàn với các thông số tinh

dịch đồ ở bệnh nhân vô sinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Gồm 162 bệnh nhân

vô sinh nam đến khám tại Trung tâm Nội tiết Phụ khoa và Y học sinh sản, Trường Đại học Y

Dược Huế có kết quả tinh dịch đồ bất thường theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (1999)

từ 06/2009-06/2011. Kết quả: Thể tích trung bình tinh hoàn đo bằng thước Prader và siêu âm

lần lượt là 10,9±8,0 ml và 9,4±8,0 cm3. Thể tích tinh hoàn ở các bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch

thừng tinh (6,6±5,1cm3) nhỏ hơn một cách đáng kể so với các bệnh nhân không có giãn tĩnh

mạch thừng tinh (11,0±8,9cm3, p≤0,001). Trong các bất thường ở bìu được phát hiện qua siêu

âm, giãn tĩnh mạch thừng tinh chiếm tỉ lệ cao nhất: 36,4%. Có sự tương quan thuận giữa một

số thông số tinh dịch đồ với thể tích tinh hoàn. Ở điểm cắt 9,9749cm3, diện tích dưới đường

cong bằng 0,839, p<0,0001, thể="" tích="" tinh="" hoàn="" cho="" độ="" nhạy="" và="" độ="" đặc="" hiệu="" tối="" ưu="" trong="">

đoán phân biệt mật độ tinh trùng ít và bình thường (94,9% và 85,7%). Các bệnh nhân bị giãn

tĩnh mạch thừng tinh có chất lượng tinh dịch đồ thấp hơn so với các trường hợp không bị

dãn tĩnh mạch thừng tinh (p<0,05).>

pdf 10 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mối liên quan giữa đặc điểm giải phẫu tinh hoàn với các thông số tinh dịch đồ ở bệnh nhân vô sinh nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu mối liên quan giữa đặc điểm giải phẫu tinh hoàn với các thông số tinh dịch đồ ở bệnh nhân vô sinh nam

Nghiên cứu mối liên quan giữa đặc điểm giải phẫu tinh hoàn với các thông số tinh dịch đồ ở bệnh nhân vô sinh nam
Phạm Chí Kông/Lê Minh Tâm/Cao Ngọc Thành l 215
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM 
GIẢI PHẪU TINH HOÀN VỚI CÁC THÔNG SỐ 
TINH DỊCH ĐỒ Ở BỆNH NHÂN VÔ SINH NAM
Phạm Chí Kông*, Lê Minh Tâm**, Cao Ngọc Thành**
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu mối liên quan giữa đặc điểm giải phẫu tinh hoàn với các thông số tinh 
dịch đồ ở bệnh nhân vô sinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Gồm 162 bệnh nhân 
vô sinh nam đến khám tại Trung tâm Nội tiết Phụ khoa và Y học sinh sản, Trường Đại học Y 
Dược Huế có kết quả tinh dịch đồ bất thường theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (1999) 
từ 06/2009-06/2011. Kết quả: Thể tích trung bình tinh hoàn đo bằng thước Prader và siêu âm 
lần lượt là 10,9±8,0 ml và 9,4±8,0 cm3. Thể tích tinh hoàn ở các bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch 
thừng tinh (6,6±5,1cm3) nhỏ hơn một cách đáng kể so với các bệnh nhân không có giãn tĩnh 
mạch thừng tinh (11,0±8,9cm3, p≤0,001). Trong các bất thường ở bìu được phát hiện qua siêu 
âm, giãn tĩnh mạch thừng tinh chiếm tỉ lệ cao nhất: 36,4%. Có sự tương quan thuận giữa một 
số thông số tinh dịch đồ với thể tích tinh hoàn. Ở điểm cắt 9,9749cm3, diện tích dưới đường 
cong bằng 0,839, p<0,0001, thể tích tinh hoàn cho độ nhạy và độ đặc hiệu tối ưu trong chẩn 
đoán phân biệt mật độ tinh trùng ít và bình thường (94,9% và 85,7%). Các bệnh nhân bị giãn 
tĩnh mạch thừng tinh có chất lượng tinh dịch đồ thấp hơn so với các trường hợp không bị 
dãn tĩnh mạch thừng tinh (p<0,05). Kết luận: Giãn tĩnh mạch thừng tinh chiếm tỉ lệ cao nhất 
trong các bất thường ở bìu được phát hiện qua siêu âm. Thể tích tinh hoàn ở các bệnh nhân 
bị giãn tĩnh mạch thừng tinh nhỏ hơn một cách đáng kể so với các bệnh nhân không có giãn 
tĩnh mạch thừng tinh. Có sự tương quan thuận giữa các thông số tinh dịch đồ với thể tích 
tinh hoàn. Các bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch thừng tinh có chất lượng tinh dịch đồ thấp hơn 
so với các trường hợp không bị dãn tĩnh mạch thừng tinh.
Abstract: 
Study on relation between testicular findings and semen profiles in infertile men
Objective: To study relation of testicular findings to semen rofiles in infertile men. Methods: 
a cross-sectional study including 162 infertile males with abnormal semen analysis (WHO). 
Results: The mean testicular volume by Prader and ultrasonography were 10.9±8.0 ml and 
9.4±8.0 cm3, respectively. The testicular volume of patients with varicocele (6.6±5.1cm3) was 
significantly smaller than that of patients without varicocele (11,0±8,9cm3, p≤0,001). There 
were positive correlation between testicular volume with some of parameters of semen profile. 
Varicocles accounted for highest rate (36,4%) among scrotal leisons on ultrasound. With the 
cut of 9,9749cm3, the testicular volume had optimal sensitivity and specifility in differenciating 
normal concentration from oligospermia (94,9% và 85,7%). Semen quality of patients with 
varicocele was worse than that of patients without varicocele. Conclusions: Varicocles accounted 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 215-224, 2012
216 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
for highest rate among scrotal leisons on ultrasound. The testicular volume of patients with 
varicocele (6.6±5.1cm3) was significantly smaller than that of patients without varicocele. There 
were positive correlation between testicular volume with some of parameters of semen profile. 
Semen quality of patients with varicocele was worse than that of patients without varicocele.
(*) Bệnh viện Phụ Sản-Nhi Đà Nẵng, (**) Trường Đại học Y Dược Huế
Đặt vấn đề
Tinh hoàn là cơ quan quan trọng trong 
chức năng sinh sản ở nam, là nơi sinh ra 
tinh trùng và tổng hợp nội tiết tố nam 
(testosteron). Bởi vì các ống sinh tinh chiếm 
khoảng 90% tinh hoàn nên các tác giả cho 
rằng tinh hoàn là bộ phận sinh dục nam có 
vai trò quan trọng nhất trong quá trình sinh 
tinh và thể tích tinh hoàn được xem như là 
một chỉ số độc lập phản ánh khả năng sinh 
tinh và chức năng của tinh hoàn. Nhiều 
nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm 
hiểu mối liên quan giữa các đặc điểm của 
tinh hoàn với các thông số tinh dịch đồ. Một 
số nghiên cứu cho thấy thể tích tinh hoàn 
liên quan với các thông số tinh dịch đồ[1],[2],[3], 
trong khi đó, một số nghiên cứu khác cho 
thấy chỉ số trở kháng của động mạch trong 
tinh hoàn có giá trị tin cậy hơn trong việc xác 
định các bất thường tinh trùng và không có 
sự khác biệt về thể tích tinh hoàn giữa nhóm 
tinh dịch đồ bình thường và bất thường[4]. 
Đề tài này được thực hiện nhằm nghiên cứu 
mối liên quan giữa đặc điểm giải phẫu tinh 
hoàn với các thông số tinh dịch đồ ở bệnh 
nhân vô sinh.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 162 bệnh nhân vô sinh nam đến 
khám tại Trung tâm Nội tiết Phụ khoa và Y 
học sinh sản, Trường Đại học Y Dược Huế 
có kết quả tinh dịch đồ bất thường theo tiêu 
chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (1999) từ 
06/2009-06/2011.
Tiêu chuẩn chọn
- Các trường hợp lấy vợ trên 12 tháng, 
không sử dụng biện pháp ngừa thai nào, 
quan hệ tình dục đều đặn nhưng người vợ 
không có thai.
- Có kết quả tinh dịch đồ bất thường theo 
tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (1999).
- Các bệnh nhân đồng ý tham gia 
nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Những người không thể lấy tinh trùng 
bằng cách thủ dâm hay lấy tinh trùng bằng 
bao cao su tránh thai thông thường.
- Những bệnh nhân đang mắc các bệnh 
toàn thân cấp và mãn tính (xơ gan, suy 
thận... )
- Bệnh nhân viêm nhiễm đường tiết niệu 
sinh dục cấp.
- Xuất tinh ngược dòng.
- Không phát hiện được tinh hoàn qua 
siêu âm bìu.
- Các trường hợp sử dụng các thuốc ảnh 
hưởng đến quá trình sinh tinh như hóa trị ung 
thư, hormone, cimetidin, sulphasalazine, 
spironolactone
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính theo công 
thức ước lượng một tỉ lệ:
2
2
2/1
).(
)1(
ε
α
p
ppZn −= −
Trong đó: 
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Z(1-α/2) là độ lệch rút gọn ứng với các sai 
lầm α khác nhau và bằng 1,96 tương ứng với 
độ tin cậy 95%.
p: Tỉ lệ bất thường tinh dịch đồ: 52,8%[5]
e : độ chính xác mong muốn (chọn 
e = 0,15).
Phạm Chí Kông/Lê Minh Tâm/Cao Ngọc Thành l 217
Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là 
153 trường hợp có kết quả tinh dịch đồ bất 
thường.
Các bước tiến hành
Bệnh nhân đến khám được phân tích tinh 
dịch đồ, khám lâm sàng, đo thể tích tinh hoàn 
đo bằng thước Prader, siêu âm bìu và sinh 
thiết tinh hoàn ở các trường hợp vô tinh.
- Siêu âm bìu:
+ Đo thể tích tinh hoàn: Sử dụng mặt cắt 
dọc để đo chiều dài và chiều cao tinh hoàn 
và mặt cắt ngang để đo chiều rộng của tinh 
hoàn. Thể tích tinh hoàn: được tính theo 
công thức của Lambert[6]:
Vtinh hoàn (cm
3)= chiều dài x chiều rộng x 
cao x 0,71
+ Các bất thường của tinh hoàn như: 
nang mào tinh, tràn dịch tinh mạc, giãn tĩnh 
mạch thừng tinh, sỏi nhỏ tinh hoàn.
Thu thập và phân tích dữ liệu
- Dữ liệu được thu thập theo bảng câu 
hỏi thiết kế sẵn.
- Dữ liệu được nhập và được phân tích 
theo phần mềm Medcal 11.3.1.0.
Kết quả nghiên cứu
Trong thời gian từ 06/2009-06/2011, 162 
trường hợp thoả mãn tiêu chuẩn chọn và 
loại trừ đưa vào nghiên cứu.
Phân bố đối tượng nghiên cứu theo 
nhóm tuổi
Bảng 1. Phân bố đối tượng nghiên cứu 
theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi n %
<30 43 26,5
30-39 102 63,0
≥40 17 10,5
Tổng 162 100,0
X ±SD 32,4±5,0
Nhóm tuổi 30-39 chiếm tỉ lệ cao nhất: 
63,0%.
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên 
cứu là 32,4±5,0 tuổi, lớn nhất là 45 tuổi, nhỏ 
nhất là 21 tuổi.
Bảng 2. Thể tích tinh hoàn 
đo bằng thước Prader
Thể tích 
tinh 
hoàn 
(ml)
Tinh hoàn 
phải
Tinh hoàn 
trái
p*
n % n %
<5 27 16,7 33 20,4
5-9 66 40,7 60 37,0
10-14 24 14,8 22 13,6
15-19 17 10,5 19 11,7
20-24 10 6,2 11 6,8
≥25 18 11,1 17 10,5
Tổng 162 100,0 162 100,0
X ±SD 10,9±7,9 10,9±8,1 0,9585
(*) Test t không ghép cặp
Thể tích trung bình hai tinh hoàn là 
10,9±8,0 ml.
Sự khác biệt giữa thể tích tinh hoàn phải 
và trái chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thể 
tích tinh hoàn đo bằng siêu âm
Bảng 3. Phân bố đối tượng nghiên cứu 
theo thể tích tinh hoàn đo bằng siêu âm
Thể tích 
tinh 
hoàn 
(cm3)
Tinh hoàn 
phải
Tinh hoàn 
trái
p*
n % n %
<5,00 54 33,3 53 32,7
5,00-9,99 57 35,2 56 34,6
10,00-
14,99
19 11,7 21 13,0
15,00-
19,99
14 8,6 13 8,0
20,00-
24,99
9 5,6 9 5,6
≥25,00 9 5,6 10 6,1
Tổng 162 100,0 162 100,0
X ±SD 9,3±7,9 9,6±8,0 0,8785
(*) Test t không ghép cặp
218 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Thể tích tinh hoàn phải và trái đo bằng siêu âm lần lượt là 9,3±7,9 cm3 và 9,6±8,0 cm3. Thể 
tích trung bình hai tinh hoàn trên siêu âm là 9,4±8,0 cm3.
Sự khác biệt giữa thể tích tinh hoàn phải và trái chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,005)
Sự tương quan giữa thể tích tinh hoàn đo được trên lâm sàng và trên siêu âm
Biểu đồ 1. Sự tương quan giữa TTTH đo được trên lâm sàng và trên siêu âm
Thể tích tinh hoàn đo bằng thước Prader tương quan thuận mạnh với thể tích tinh hoàn 
đo bằng siêu âm (r=0,840, p<0,0001).
Thể tích tinh hoàn và giãn tĩnh mạch thừng tinh
Biểu đồ 2. Thể tích tinh hoàn và giãn tĩnh mạch thừng tinh
Thể tích tinh hoàn ở các bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch thừng tinh nhỏ hơn một cách đáng 
kể so với các bệnh nhân không có giãn tĩnh mạch thừng tinh (p≤0,001).
Đặc điểm siêu âm bìu
Bảng 4. Các đặc điểm siêu âm bìu
Bất thường n %
Sỏi tinh hoàn 2 1,2
Nhu mô mào tinh không đồng nhất chưa rõ bản chất 8 4,9
Tràn dịch màng tinh hoàn 18 11,1
Nang mào tinh 21 13,0
Giãn tĩnh mạch thừng tinh 59 36,4
Phạm Chí Kông/Lê Minh Tâm/Cao Ngọc Thành l 219
Trong các bất thường ở bìu được phát hiện qua siêu âm, giãn tĩnh mạch thừng tinh chiếm 
tỉ lệ cao nhất: 36,4%.
Liên quan giữa thể tích tinh hoàn trên siêu âm và các thông số tinh dịch đồ
Bảng 5. Liên quan giữa thể tích tinh hoàn trên siêu âm và các thông số tinh dịch đồ
Thông số Thể tích tinh hoàn (cm3) p
<5 5-9 10-14 15-19 20-24 ≥25
Thể tích tinh 
dịch đồ (ml)
3,2±
1,1
5,0±
1,7
4,2±
0,1
4,6±
0,1
4,5±
0,4
4,5±
0,3
<0,001*
r 0,645 <0,0001**
Mật độ (x106) 8,9±
20,6
12,5±
10,6
24,2±
11,0
47,8±
28,9
63,1±
31,7
70,3±
37,6
<0,001*
r 0,655 <0,0001**
Tổng tinh trùng 
(x106)
40,7±
95,7
67,8±
62,0
100,5±
46,2
221,3±
135,6
295,2±
149,8
329,4±
178,5
<0,001*
r 0,645 <0,0001**
Độ di động (%) 13,3±
19,3
33,1±
12,8
45,3±
19,7
41,3±
23,7
42,1±
19,6
45,9±
14,1
<0,001*
r 0,604 <0,0001**
Tổng tinh trùng 
di động (x106)
1958,6±
5090,6
2775,0±
3154,9
5360,2±
2487,7
11891,5±
7352,0
15067,0±
7944,5
17246,2±
9660,5
<0,001*
r 0,647 <0,0001**
Hình dạng (%) 7,9±
11,9
18,5±
11,3
27,0±
13,0
25,2±
14,4
27,6±
11,5
31,9±
8,0
<0,001*
r 0,601 <0,0001**
Tỉ lệ sống (%) 15,3±
26,1
44,2±
22,5
65,9±
28,5
58,8±
33,5
63,3±
27,9
66,2±
23,5
<0,001*
r 0,611 <0,0001**
(*) Kiểm định Anova một chiều, (**) Hồi quy tuyến tính đơn khảo sát mối liên quan các 
thông số tinh dịch đồ với thể tích tinh hoàn. 
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các thông số tinh dịch đồ theo thể tích tinh hoàn 
(p<0,001).
Có sự tương quan thuận giữa các thông số tinh dịch đồ với thể tích tinh hoàn (p<0,0001).
Điểm cắt của thể tích tinh hoàn và mật độ tinh trùng ít
Biểu đồ 3. Đường cong ROC của thể tích tinh hoàn phân biệt mật độ tinh trùng 
ít và bình thường 
220 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Ở điểm cắt 9,9749cm3, diện tích dưới đường cong bằng 0,839, p<0,0001, thể tích tinh hoàn 
cho độ nhạy và độ đặc hiệu tối ưu trong chẩn đoán phân biệt mật độ tinh trùng ít và bình 
thường (94,9% và 85,7%).
Giãn tĩnh mạch thừng tinh và chất lượng tinh dịch đồ
Bảng 6. Giãn tĩnh mạch thừng tinh và chất lượng tinh dịch đồ
 GTMTT
Thông số
Có Không OR KTC 
95%
p
n % n %
Mật độ (x106)
Giảm 49 83,1 64 62,1 3,0 1,4-6,6 0,0065
Bình thường 10 16,9 39 37,9
Tổng 59 100,0 103 100,0
Mật độ (x106)
Không tinh trùng 21 35,6 14 13,6 3,5 1,6-7,6 0,0015
Có tinh trùng 38 64,4 89 86,4
Tổng 59 100,0 103 100,0
Di động (%)
Yếu 46 78,0 49 47,6 3,9 1,9-8,1 0,0002
Bình thường 13 22,0 54 52,4
Tổng 59 100,0 103 100,0
Hình dạng (%)
Dị dạng 46 78,0 52 50,5 3,5 1,7-7,2 0,0008
Bình thường 13 22,0 51 49,5
Tổng 59 100,0 103 100,0
Tỉ lệ sống (%)
Bất thường 46 78,0 53 51,5 3,3 1,6-6,9 0,0012
Bình thường 13 22,0 50 48,5
Tổng 59 100,0 103 100,0
Các bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch thừng 
tinh có chất lượng tinh dịch đồ thấp hơn so 
với các trường hợp không bị dãn tĩnh mạch 
thừng tinh (p<0,05).
Bàn luận
Thể tích tinh hoàn
Tinh hoàn là một trong những cơ quan 
quan trọng của cơ quan sinh sản nam, đảm 
nhiệm cả hai chức năng nội tiết (sản xuất 
testosteron) và ngoại tiết (sản xuất tinh 
trùng). Do các ống sinh tinh chiếm khoảng 
90% tinh hoàn nên thể tích tinh hoàn được 
xem là một chỉ số độc lập phản ánh khả 
năng sinh tinh của tinh hoàn. Vì vậy, xác 
định kích thước và thể tích tinh hoàn là 
Phạm Chí Kông/Lê Minh Tâm/Cao Ngọc Thành l 221
một bước quan trọng trong khám một bệnh 
nhân vô sinh nam.
Nghiên cứu này đã xác định được thể tích 
tinh hoàn khi đo bằng thước Prader và siêu 
âm lần lượt là 10,9±8,0 ml và 9,4±8,0 cm3 và 
thể tích tinh hoàn trong nghiên cứu này nhỏ 
hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thành 
Như và cộng sự (17,2±5,4ml) gồm 164 người 
đàn ông khoẻ mạnh tuổi từ 25-50, có con[7]. 
Sự khác biệt này có thể do trong nghiên 
cứu này gồm các trường hợp vô sinh, tinh 
dịch đồ bất thường, trong khi nghiên cứu 
của Nguyễn Thành Như và cộng sự gồm 
các trường hợp khoẻ mạnh và có con. Điều 
này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu 
của Qublan HS và cộng sự gồm 234 bệnh 
nhân vô sinh (nhóm bệnh) và 150 nam có 
tinh dịch đồ bình thường (nhóm chứng), 
theo đó có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
về thể tích tinh hoàn được đo bằng siêu âm 
giữa nhóm bệnh và nhóm chứng (14,0±3,6 
so với 19,0±5,3, p<0,01)[8]. Ngoài ra, khi so 
sánh thể tích tinh hoàn trong nghiên cứu 
này và nghiên cứu của Nguyễn Thành Như 
(Việt Nam) thì thể tích tinh hoàn trong hai 
nghiên cứu tại Việt Nam nhỏ hơn so với một 
số nghiên cứu khác (bảng 7). Thể tích tinh 
hoàn người Châu Á nhỏ hơn so với người da 
trắng và da đen[9]. Một phân tích tổng hợp 
của Iwamoto T và cộng sự cho thấy có sự 
khác nhau về thể tích tinh hoàn giữa các 
chủng tộc. Thể tích tinh hoàn người Nhật 
và Hàn Quốc nhỏ hơn so với người Châu 
Âu. Thể tích tinh hoàn trung bình của 
người Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan 
lần lượt là 19,4 ml, 17,2 ml và 17,0 ml. Các 
giá trị này thấp hơn so với thể tích trung 
bình của nam giới bình thường ở 4 thành 
phố Châu Âu là 23,5 ml (Copenhagen-Đan 
Mạch), 23,0 ml (Edinburgh-Anh), 22,5 ml 
(Paris-Pháp) và 23,0 ml (Turku-Phần Lan). 
Các tác giả cho rằng sự khác nhau về thể tích 
tinh hoàn giữa các chủng tộc hay thậm chí 
giữa các vùng trong cùng một quốc gia có 
thể liên quan đến cân nặng, chiều cao và chỉ 
số khối cơ thể[10],[11]. 
Bảng 7. So sánh thể tích tinh hoàn trong một số nghiên cứu
Nghiên cứu Quốc gia Năm n Tuổi TTTH 
Prader (ml)
TTTH 
siêu âm (cm3)
Sakamoto[3] [108] Nhật 2008 408 35,9±5,3 18,6±5,1 13,4±4,8
Lim J[12] [69] Hàn Quốc 2009 1002 23,02±2,53 KXĐ 18,18±3,77
Aslan[13] [35] Thổ Nhĩ Kỳ 2011 1132 20,3±0,9 22,0±2,8 KXĐ
NT Như[7] [9] Việt Nam 2001 164 20-50 17,2±5,4 KXĐ
Phạm Chí Kông 
và cs
Huế 2009 162 32,4±5,0 10,9±7,8 9,4±8,0
Nghiên cứu này sử dụng cả hai phương 
tiện để đo thể tích tinh hoàn là thước đo 
Prader và siêu âm. Hiện nay, siêu âm được 
xác định là biện pháp xác định thể tích 
tinh hoàn một cách chính xác nhất và sử 
dụng công thức tính của Lambert (chiều 
dài x chiều rộng x chiều cao x 0,71) sẽ có 
được thể tích tương đương với thể tích 
thật của tinh hoàn. Trong nghiên cứu này, 
có sự tương quan chặt chẽ giữa thể tích 
tinh hoàn đo bằng thước Prader với thể 
tích đo bằng siêu âm (r=0,840, p<0,0001-
biểu đồ 1). Kết quả này cũng phù hợp với 
kết quả nghiên cứu của Sakomoto H và 
cộng sự, theo đó mặc dù thước đo thường 
cho kết quả lớn hơn so với siêu âm nhưng 
có sự tương quan chặt chẽ giữa thể tích 
tinh hoàn đo bằng thước Prader với thể 
tích tinh hoàn đo bằng siêu âm (r=0,752, 
p<0,0001)[6].
222 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Thể tích tinh hoàn và giãn tĩnh mạch 
thừng tinh
Giảm thể tích tinh hoàn ở những bệnh 
nhân giãn tĩnh mạch thừng tinh là vấn đề 
được nhiều tác giả quan tâm và còn nhiều 
tranh cãi, đặc biệt là ở trẻ vị thành niên vì 
nếu không được điều trị thì giãn tĩnh mạch 
thừng tinh có khả năng ảnh hưởng đến thể 
tích tinh hoàn và chất lượng tinh dịch đồ 
cũng như khả năng sinh sản sau này[14].
Nghiên cứu này cho thấy thể tích tinh 
hoàn ở bệnh nhân có giãn tĩnh mạch thừng 
tinh nhỏ hơn so với không bị giãn tĩnh 
mạch thừng tinh (biểu đồ 2). Theo Zucchi 
A và cộng sự, giãn tĩnh mạch thừng tinh 
thường đi kèm với ngưng phát triển tinh 
hoàn, giảm thể tích tinh hoàn và điều này 
thấy rõ hơn qua việc gia tăng thể tích tinh 
hoàn ở những trẻ vị thành niên sau mổ điều 
trị giãn tĩnh mạch thừng tinh[14]. Nghiên cứu 
của Pasqualotto FF và cộng sự gồm 71 bệnh 
nhân vô sinh bị giãn tĩnh mạch thừng tinh 
(nhóm 1), 79 bệnh nhân có khả năng sinh sản 
bình thường bị giãn tĩnh mạch thừng tinh 
(nhóm 2) và 217 bệnh nhân có khả năng sinh 
sản bình thường không bị giãn tĩnh mạch 
thừng tinh (nhóm 3) cho thấy thể tích tinh 
hoàn ở các bệnh nhân nhóm 1 (18,7±8,3 cm3) 
nhỏ hơn so với thể tích tinh hoàn ở các bệnh 
nhân nhóm 2 (25,2±13,0 cm3) hay các bệnh 
nhân ở nhóm 3 (24,9±10,7 cm3). Các tác giả 
kết luận rằng bệnh nhân vô sinh bị giãn 
tĩnh mạch thừng tinh có thể tích tinh hoàn 
nhỏ hơn so với nhóm chứng[15]. Trong một 
nghiên cứu khác của Sakamoto H và cộng 
sự ở 432 bệnh nhân vô sinh nam cho thấy thể 
tích tinh hoàn trái bị giãn tĩnh mạch thừng 
tinh nhỏ hơn so với thể tích tinh hoàn phải 
không bị giãn tĩnh mạch thừng tinh (12,9±3,9 
so với 14,7±4,2, p<0,0001). Tuy nhiên, các tác 
giả cũng nhận thấy có sự khác nhau đáng kể 
về thể tích tinh hoàn giữa các bệnh nhân vô 
sinh và các bệnh nhân có khả năng sinh sản 
bình thường cho dù có hay không có giãn 
tĩnh mạch thừng tinh. Điều này cho thấy 
ngoài giãn tĩnh mạch thừng tinh, còn có sự 
hiện diện các yếu tố khác ảnh hưởng đến thể 
tích tinh hoàn ở các bệnh nhân vô sinh. Các 
tác giả cho rằng cần có thêm những nghiên 
cứu để xác định sự liên quan giữa giãn tĩnh 
mạch thừng tinh với giảm thể tích tinh hoàn 
cũng như khả năng sinh sản[16].
Thể tích tinh hoàn với chất lượng tinh 
dịch đồ
Các nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân vô 
sinh nam cho thấy có sự tương quan giữa thể 
tích tinh hoàn với các thông số tinh dịch đồ. 
Vì thế, việc đo chính xác thể tích tinh hoàn 
có vai trò quan trọng trong đánh giá sự phát 
triển và chức năng của tinh hoàn. Siêu âm 
được chấp nhận là biện pháp chính xác nhất 
trong đo thể tích tinh hoàn và thể tích tinh 
hoàn được tính bằng công thức chiều dài x 
chiều rộng x chiều cao x0,71 được xem là 
tương tự với thể tích thật sự của tinh hoàn[6].
Nghiên cứu này cho thấy có sự tương 
quan thuận giữa thể tích tinh hoàn (bảng 5) 
với một số thông số tinh dịch đồ. Kết quả 
này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của 
Sakamoto H và cộng sự ở 408 bệnh nhân 
vô sinh nam cho thấy có sự tương quan 
thuận giữa chiều dài, chiều rộng, chiều cao 
tinh hoàn, thể tích tinh hoàn đo bằng thước 
Prader và thể tích tích tinh hoàn đo bằng siêu 
âm với mật độ tinh trùng (r=0,385, p<0,0001; 
r=0,421, p<0,001; r=0,475, p<0,0001; r=0,328, 
p<0,001 và r=0,492, p<0,0001), tổng số tinh 
trùng/lần xuất tinh (r=0,41, p<0,0001; r=0,422, 
p<0,0001; r=0,423, p<0,0001, r=0,335, p<0,001 
và r=0,495, p<0,0001), tổng số tinh trùng 
di động/lần xuất tinh (r=0,315, p<0,0001; 
r=0,341, p<0,0001; r=0,369, p<0,0001, r=0,279, 
p<0,001 và r=0,408, p<0,0001)[3].
Nghiên cứu này cũng đã xác định điểm 
cắt của thể tích tinh hoàn trong chẩn đoán 
thiểu tinh và vô tinh không do bế tắc. Theo 
đó, ở điểm cắt 9,9749 cm3 , thể tích tinh hoàn 
cho độ nhạy và độ đặc hiệu tốt nhất trong 
chẩn đoán mật độ tinh trùng giảm. Với diện 
tích dưới đường cong là 0,839 (độ nhạy 
Phạm Chí Kông/Lê Minh Tâm/Cao Ngọc Thành l 223
94,9% và độ đặc hiệu 85,7%) cho thấy đo thể 
tích tinh hoàn là một biện pháp tốt trong xác 
định mật độ tinh trùng giảm ở các bệnh nhân 
vô sinh (biểu đồ 2). Nghiên cứu của Arai 
và cộng sự cũng đã ghi nhận mật độ tinh 
trùng giảm (<20 x106/ml) khi thể tích tinh 
hoàn đo bằng thước Prader<30ml, mật độ 
tinh trùng giảm mức độ nặng (<10 x106/ml) 
khi thể tích tinh hoàn<20ml và tất cả bệnh 
nhân không tinh trùng đều có thể tích tinh 
hoàn <10ml[1]. Trong khi đó, nghiên cứu của 
Sakamoto H và cộng sự cho thấy bệnh nhân 
bị thiểu tinh khi thể tích tinh hoàn <17,5ml 
(đo bằng thước Prader) hay <10ml (đo bằng 
siêu âm)[3]. Sự khác nhau về điểm cắt giữa 
các nghiên cứu có thể do sự khác nhau về 
thể tích tinh hoàn giữa các vùng, chủng tộc 
và phương pháp đo[7].
Giãn tĩnh mạch thừng tinh và chất 
lượng tinh dịch đồ
Mặc dù giãn tĩnh mạch thừng tinh là 
nguyên nhân thường gặp nhất của vô sinh 
nam nhưng vẫn chưa hiểu hoàn toàn về 
giãn tĩnh mạch thừng tinh cùng các biến 
chứng của nó. Tác động của giãn tĩnh mạch 
thừng tinh lên chất lượng tinh dịch đồ và 
khả năng sinh sản là một vấn đề còn tranh 
cãi (Shamsa A và cộng sự, 2010)[17].
Trong nghiên cứu này, có 59 trường hợp 
giãn tĩnh mạch thừng tinh được phát hiện 
trên siêu âm, chiếm 36,4% (bảng 4) và các 
bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch thừng tinh 
có chất lượng tinh dịch đồ thấp hơn so với 
các trường hợp không bị giãn tĩnh mạch 
thừng tinh qua phân tích đơn biến và đa 
biến (bảng 6). Kết quả này cũng tương tự 
kết quả nghiên cứu của Lê Thế Vũ gồm 110 
bệnh nhân vô sinh nam, trong đó tỉ lệ thiểu 
tinh (85,7% so với 70,9%, p<0,05), không 
có tinh trùng (71,4% so với 48,5%, p<0,05), 
tinh trùng yếu (100% so với 81,6%, p<0,05), 
tinh trùng chết (85,7% so với 62,1%, p<0,05) 
ở nhóm có giãn tĩnh mạch thừng tinh cao 
hơn đáng kể so với nhóm không có giãn tĩnh 
mạch thừng tinh và các nguy cơ không tinh 
trùng ở các bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch 
thừng tinh cao gấp 2,55 lần (OR=2,55, KTC 
95% 1,34-4,77, p<0,001) so với bệnh nhân 
không bị giãn tĩnh mạch thừng tinh[18].
Kết luận
Giãn tĩnh mạch thừng tinh chiếm tỉ lệ cao 
nhất trong các bất thường ở bìu được phát 
hiện qua siêu âm.
Thể tích tinh hoàn ở các bệnh nhân bị 
giãn tĩnh mạch thừng tinh nhỏ hơn một cách 
đáng kể so với các bệnh nhân không có giãn 
tĩnh mạch thừng tinh.
Có sự tương quan thuận giữa các thông 
số tinh dịch đồ với thể tích tinh hoàn.
Các bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch thừng 
tinh có chất lượng tinh dịch đồ thấp hơn so 
với các trường hợp không bị giãn tĩnh mạch 
thừng tinh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Arai T, Kitahara S, Horiuchi S (1998), 
“Relation of testicular volume to 
semem profiles and serum hormone 
concentiations in infertile Japanese 
men”, Int J fertil, 43(1), pp.40-47.
2. Bujan L, Mieusset R, Mansat A (1989), 
Testicular Size in Infertile Men: 
Relationship to Semen Characteristics 
and Hormonal Blood Levels, British 
Journal of Urology, 64, pp.632- 637.
3. Sakamoto H, Yajima T, Nagata M et al 
(2008), Relationship between testicular 
size by ultrasonography and testicular 
function: Measurement of testicular length, 
width, and depth in patients with infertility, 
International Juornal of Urology, 15, pp.529-533.
4. Pinggera GM, Mitterberger M, Bartsch G 
(2008), “Assessment of the intratesticular 
resistive index by colour Doppler 
ultrasonography measurements as a 
predictor of Spermatogenesis”, BJU Int, 
101, pp.722–726.
224 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
5. Lê Thị Hương Liên (2008), Nghiên cứu 
chất lượng tinh trùng của nam giới 
đến khám tại Bệnh viện Phụ Sản Trung 
Ương và một số yếu tố liên quan, Luận 
văn tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa cấp II, 
Trường Đại học Y Hà Nội.
6. Sakamoto H, Ogawa Y, Yoshida H (2008), 
Relationship between testicular volume 
and testicular function: comparision 
of the Prader orchidometric and 
ultrasonographic measurements in 
patients with infertility, Asian J Androl, 
10(2), 319-324.
7. Nguyễn Thành Như, Vũ Lê Chuyên, 
Nguyễn Văn Hiệp (2001), “Thể tích 
tinh hoàn trung bình ở đàn ông Việt 
Nam trưởng thành”, Hội thảo Việt 
Pháp-Các vấn đề mới trong lĩnh vực Sản 
phụ khoa, Thành phố Hồ Chí Minh, 
tr.166-171.
8. Qublan HS, Okoor KA, Ghoweri AS 
(2007). “Sonographic Spectrum of 
Scrotal Abnormalities in Infertile Men”. 
J Clin Ultrasound, 35, pp.437–441. 
9. Lin CC, Huang WJS, Chen KK (2009), 
Measurement of testicular volume 
in smaller testes: how accurate is the 
conventional orchidometer, Journal of 
andrology, 30(6), pp.685-689.
10. Bahk JY, Jung JH, Jin LM, Min SK (2010), 
Cut-off Value of Testes Volume in Young 
Adults and Correlation Among Testes 
Volume, Body Mass Index, Hormonal 
Level, and Seminal Profiles, Urology, 
75(6), pp.1318-23.
11. Iwamoto T, Nozawa S, Yosiike M (2007), 
Semen quality of Asian men, Reproductive 
Medicine & Biology, 6, pp.185-193.
12. Lim JW, Bahk JY, Min SK (2009), 
Testicular volume of Korean young adult 
men as measured by ultrasonography: 
relationship with body mass index, 
Korean J Urol, 50, pp.591-595.
13. Aslan Y, Atan A, Aydın O et al (2011), 
Penile length and somatometric 
parameters: a study in healthy young 
Turkish men, Asian Journal of Andrology, 
13, pp.339–341.
14. Zucchi A, Mearini L, Mearini E et 
al (2006), Varicocele and Fertility: 
Relationship Between Testicular Volume 
and Seminal Parameters Before and 
After Treatment, Journal of Andrology, 
27(4), pp.548-551.
15. Pasqualotto FF, Lucon AM, Moreira P 
et al (2005), Semen profile, testicular 
volume, and hormone levels in infertile 
patients with varicoceles compared with 
fertile men with and without varicoceles, 
Fertility and Sterility, 83(1), pp.74-77.
16. Sakamoto H, Ogawa Y, Yoshida H 
(2008), Relationship between testicular 
volume and varicocele in patients with 
infertility, Urology, 71, pp.104-109.
17. Shamsa A, Nademi M, Aqaee M 
(2010), Complications and the effect 
off varricocelectomy on semeen 
analysis, fertility, early ejaculation and 
spontaneous abortion, Saudi J Kedney 
Dis Transplant, 21(6), pp.1100-1105.
18. Lê Thế Vũ (2009), Nghiên cứu một số 
nguyên nhân vô sinh nam, Luận văn tốt 
nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường 
Đại học Y Hà Nội.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_moi_lien_quan_giua_dac_diem_giai_phau_tinh_hoan_v.pdf