Nghiên cứu mối liên quan của nồng độ BNP huyết thanh và HscTnI với biến cố tái nhập viện sau can thiệp động mạch vành

Phân tầng nguy cơ sớm để có chiến lược can thiệp động mạch vành sớm. Một số nghiên cứu gần đây cho biết peptide lợi niệu típ B (B type natriuretic peptide: BNP) là một dấu ấn sinh học có nồng độ cao trong huyết thanh của bệnh nhân hội chứng vành cấp và nồng độ Troponin I tim mạch độ nhạy cao (High-Sensivity cardiac Troponin I: hs-cTnI) cũng có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh ĐMV với độ nhạy cao, cũng như việc khảo sát kết hợp cả hai nồng độ nồng độ BNP và hs-cTnI huyết thanh với thang điểm PCI Risk Assessmet trong dự báo tiên lượng ngắn hạn biến cố tim mạch tái nhập viện trong 30 ngày theo dõi. Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan của nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnIvới biến cố tái nhập viện sau can thiệp động mạch vành

pdf 11 trang phuongnguyen 280
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mối liên quan của nồng độ BNP huyết thanh và HscTnI với biến cố tái nhập viện sau can thiệp động mạch vành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu mối liên quan của nồng độ BNP huyết thanh và HscTnI với biến cố tái nhập viện sau can thiệp động mạch vành

Nghiên cứu mối liên quan của nồng độ BNP huyết thanh và HscTnI với biến cố tái nhập viện sau can thiệp động mạch vành
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
62 
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN CỦA NỒNG ĐỘ BNP HUYẾT THANH VÀ hs-
cTnI VỚI BIẾN CỐ TÁI NHẬP VIỆN SAU CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH 
Đoàn Văn Chung1, Hoàng Anh Tiến2, Hồ Anh Bình3 
1. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên 
 2. Trường Đại học Y Dược Huế 
 3. Bệnh viện Trung ương Huế 
DOI: 10.47122/vjde.2020.41.9 
ABSTRACT 
The Relationship Between BNP And Hs-
cTnI Concentrations With Readmission Risk 
After Percutaneous Coronary Intervention 
Stratification of early risk for early 
percutaneous coronary intervention strategies. 
Some recent studies showed that B type 
sodiumuretic peptide (BNP) is a biomarker 
with high concentrations in the serum of 
patients who got acute coronary syndrome 
and the high-sensivity cardiac Troponin I (hs-
cTnI) also plays a very important role in the 
diagnosis and prognosis of coronary artery 
disease with high sensitivity, as well as, the 
combination of both serum BNP and hs-cTnI 
concentrations with the PCI Risk Assessmet 
scale in short-term prognosis cardiovascular 
event re-hospitalized within 30 days of 
follow-up. Objective: To evaluate the 
relationship between BNP and hs-cTnI 
concentrations with readmission risk after 
percutaneous coronary intervention. Method: 
A descriptive, cross-sectional and longitudinal 
study on 78 patients with acute coronary 
syndrome (ACS) were performed PCI at Phu 
Yen General Hospital from April 2017 to 
August 2018. Results: Using the PCI Risk 
tool to predict the re-hospitalization event 
within 30 days of follow-up had good value 
(AUC = 0.795, 95% CI = 0.68 - 0.87, p 
<0.001). There was a predictive correlation to 
the short-term prognosis of a 30-day follow-
up re-admission event between serum BNP, 
hs-cTnI and a PCI Risk score of three ROC 
curves. In this study, the PCI Risk scale 
predicted better than hs-cTnI concentration 
with AUC = 0.795, 95% KTC = 0.68 - 0.87, 
(p <0.001). Conclusion: The combination of 
serum BNP concentration, hs-cTnI and the 
PCI Risk scale can be used to predict 30-day 
hospitalization events in patients with 
coronary syndrome intervened with coronary 
heart syndrome. 
Key words: High-sensivity cardiac 
Troponin I (hs-cTnI), Percutaneous coronary 
intervention 
TÓM TẮT 
Phân tầng nguy cơ sớm để có chiến lược 
can thiệp động mạch vành sớm. Một số 
nghiên cứu gần đây cho biết peptide lợi niệu 
típ B (B type natriuretic peptide: BNP) là một 
dấu ấn sinh học có nồng độ cao trong huyết 
thanh của bệnh nhân hội chứng vành cấp và 
nồng độ Troponin I tim mạch độ nhạy cao 
(High-sensivity cardiac Troponin I: hs-cTnI) 
cũng có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán 
và tiên lượng bệnh ĐMV với độ nhạy cao, 
cũng như việc khảo sát kết hợp cả hai nồng 
độ nồng độ BNP và hs-cTnI huyết thanh với 
thang điểm PCI Risk Assessmet trong dự báo 
tiên lượng ngắn hạn biến cố tim mạch tái 
nhập viện trong 30 ngày theo dõi. Mục tiêu: 
Đánh giá mối liên quan của nồng độ BNP 
huyết thanh và hs-cTnIvới biến cố tái nhập 
viện sau can thiệp động mạch vành. Đối 
tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên 
cứu mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trong 30 
ngày trên 78bệnh nhân có hội chứng vành cấp 
nhập viện được chụp và can thiệp động mạch 
vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên từ 
tháng 4 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018. Kết 
quả: Sử dụng công cụ PCI Riskđể dự báo 
biến cố bệnh nhân tái nhập viện trong 30 ngày 
theo dõi có gía trị tốt (AUC= 0,795, 95% 
KTC= 0,68 - 0,87, p<0,001). Có mối liên 
quan dự báo khả năng tiên lượng ngắn hạn 
biến cố tái nhập viện trong 30 ngày theo dõi 
giữa nồng độ BNP huyết thanh, hs-cTnI với 
thang điểm PCI Risk bằng 03 đường cong 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
63 
ROC thì thang điểm PCI Risk dự báo tiên 
lượng tốt hơn so với nồng độ hs-cTnI với 
AUC= 0,795, 95% KTC= 0,68 - 0,87, 
(p<0,001). Kết luận: Kết hợp nồng độBNP 
huyết thanh, hs-cTnI với thang điểm PCI Risk 
có thể được sữ dụng để dự báo biến cố tái 
nhập viện sau 30 ngày ở BN hội chứng vành 
cấp đượ can thiệp ĐMV. 
Từ khóa: Troponin I tim mạch độ nhạy 
cao, can thiệp động mạch vành 
Ngày nhận bài: 29/10/2020 
Ngày phản biện khoa học: 04/11/2020 
Ngày duyệt bài: 11/12/2020 
Email: [email protected] 
Điện thoại: 0913489896 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phân tầng nguy cơ sớm để có chiến lược 
can thiệp động mạch vành sớm, có biện pháp 
điều trị phối hợp tối ưu và tiên lượng bệnh 
[5]. Những bệnh nhân nguy cơ cao thường có 
xảy ra các biến cố tim mạch và cần phải được 
điều trị thuốc tích cực và can thiệp sớm. Phân 
tầng nguy cơ sớm dựa vào đánh giá bệnh sử, 
khám lâm sàng, điện tâm đồ và các chất chỉ 
điểm sinh học hoại tử cơ tim, đặc biệt là 
troponin... Những năm gần đây, nhiều chất 
chỉ điểm sinh học mới đã và đang được chứng 
minh về giá trị tiên lượng tử vong hoặc các 
biến cố tim mạch chính ở bệnh nhân mắc hội 
chứng vành cấp [8]. 
Một số nghiên cứu gần đây cho biết 
peptide lợi niệu típ B (B type natriuretic 
peptide: BNP) là một dấu ấn sinh học có nồng 
độ cao trong huyết thanh của bệnh nhân hội 
chứng vành cấp và nồng độ Troponin I tim 
mạch độ nhạy cao (High-sensivity cardiac 
Troponin I: hs-cTnI) cũng có vai trò rất quan 
trọng trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh 
động mạch vành với độ nhạy cao [9]. Nhưng 
sự kết hợp của hai chất chỉ điểm sinh học này 
trong tiên lượng các biến cố tim mạch sau can 
thiệp động mạch vành vẫn chưa được nghiên 
cứu nhiều và chuyên sâu, cũng như việc khảo 
sát kết hợp cả hai nồng độ nồng độ BNP và 
hs-cTnI huyết thanh với thang điểm PCI Risk 
Assessmet trong dự báo tiên lượng ngắn hạn 
biến cố tim mạch tái nhập viện trong 30 ngày 
theo dõi. Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan 
của nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnIvới 
biến cố tái nhập viện sau can thiệp động 
mạch vành. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Tất cả những bệnh nhân có hội chứng 
vành cấp nhập viện được chụp và can thiệp 
động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh 
Phú Yên từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 8 
năm 2018 
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 
Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu phải 
thỏa mãn các điều kiện sau: 
+ Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là 
nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên và 
không có ST chênh lên hoặc cơn ĐTN không 
ổn định theo khuyến cáo 2015 của Hội tim 
mạch học Việt Nam về chẩn đoán và điều trị 
[2]. 
+ Bệnh nhân và gia đình đồng ý và hợp tác 
tham gia nghiên cứu . 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 
- Bệnh nhân không có chỉ định can thiệp 
động mạch vành 
- Đối tượng can thiệp động mạch vành 
thất bại như không đưa được dây dẫn, bóng, 
giá đỡ qua tổn thương. 
- Các biến chứng xảy ra trong can thiệp hoặc 
ngay sau can thiệp như bệnh nhân tử vong, cần 
phẫu thuật cầu nối chủ-vành cấp cứu. 
- Có các tình trạng bệnh lý sau: Chấn 
thương cơ, viêm cơ tim,bệnh van tim, rung 
nhĩ, bệnh phổi mạn tính, sốc do mọi nguyên 
nhân, suy thận, bệnh hệ thống, mang máy tạo 
nhịp, chấn thương hoặc tai biến mạch máu 
não < 3 tháng. 
- Các bệnh nhân không hợp tác nghiên 
cứu. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Nghiên cứu được tiến hành theo phương 
pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, theo dõi 
dọc trong 30 ngày. 
2.3. Thu thập dữ liệu 
Mỗi bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 
được khảo sát theo phiếu nghiên cứu được 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
64 
thiết kế sẵn lần lượt theo quy trình: 
- Hành chính: Tên, tuổi, giới, nghề nghiệp, 
địa chỉ, ngày giờ vào viện, lý do vào viện. 
- Tiền sử: Hút thuốc lá, tăng huyết áp, rối 
loạn lipid, đái tháo đường, nhồi máu cơ tim 
cũ, bệnh mạch vành đã đặt stent. 
- Ghi nhận các kết quả của các xét nghiệm 
liên quan như: công thức máu, mỡ máu, chức 
năng thận, điện tâm đồ, siêu âm tim. 
- Định lượng nồng độ BNP, hs-cTnI vào 
thời điểm lúc nhập viện hoặc trước can thiệp 
và sau can thiệp động mạch vành trong thời 
gian 24 h. 
- Kết quả chụp ĐMV với tổn thương cần 
chỉ định can thiệp ĐMV . 
- Ghi nhận các biến cố chính sau can thiệp 
30 ngày 
2.4. Xử lý số liệu 
- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê 
y học, sử dụng phần mềm Microsoft Excel và 
SPSS 20.0. 
- Thống kê phân tích : so sánh các tỷ lệ và 
kiểm định mối liên quan giữa các biến số định 
tính bằng phép kiểm định chi bình phương. 
Kết quả khác biệt được xem là có ý nghĩa 
thống kê với p < 0,05. 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Qua nghiên cứu 78 bệnh nhân có hội chứng vành cấp đươc chụp và can thiệp động mạch 
vành , chúng tôi thu được một số kết quả như sau: 
3.1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu 
3.1.1. Đặc điểm chung theo giới tính và tuổi 
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính 
Giới tính Số lượng(n=78) Tỷ lệ% 
Nam 61 78,2 
Nữ 17 21,8 
Tổng cộng 78 100,0 
Nhận xét:Tỷ lệ được can thiệp động mạch vành của nam chiếm đa số hơn so với nữ (78,2% 
so với 21,8%). 
Bảng 3.2.Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới 
Nhóm tuổi 
Giới 
< 50 50-70 ≥70 Cộng Tỷ lệ (%) p 
Nam 4 40 17 61 78,2 
< 0,05 
Nữ 0 7 10 17 21,8 
Cộng 4 47 27 78 100 
Tỷ lệ% 5,1 60,3 34,6 100 
Nhận xét: Tỷ lệ các đối tượng từ 50 tuổi trở lên có chỉ định can thiệp mạch vành chiếm ưu thế 
94,9%, trong đó đối tượng từ 50-70 tuổi chiếm tỷ lệ 60,30% (p<0,05). 
3.1.2. Đặc điểm các thể lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 
Bảng 3.3. Phân bố các thể lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 
Các thể lâm sàng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) p 
NMCTSTCL 28 35,9 
< 0,05 NMKSTCL 15 19,2 
ĐTNKÔĐ 35 44,9 
Tổng 78 100,0 
Nhận xét: Trong các thể lâm sàng, ĐTNKÔĐ chiếm tỷ lệ cao nhất 44.9%; thấp nhất 
NMKSTCL chiếm tỷ lệ 19.2% (p<0,05) 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
65 
3.1.3. Đặc điểm siêu âm tim của đối tượng nghiên cứu 
Bảng 3.4. Đặc điểm phân suất tống máu của đối tượng nghiên cứu 
Chỉ số Chỉ số (%) Số lượng n (%) p 
EF 
< 30 0 (0,0%) 
<0,05 
30-39 5 (6,4%) 
40-50 39 (50,0%) 
>50 34 (43,6%) 
Nhận xét:Phân suất tống máuđối tượng nghiên cứu có EF50% 
chiếm tỷ lệ 43,6%. (p<0,05). 
3.1.4. Đặc điểm lâm sàng theo phân độ qua thang điểm Killip 
Bảng 3.5. Phân độ theo thang điểm Killip 
Phân độ Killip Tần suất Tỷ lệ% p 
Độ I 8 10,3 
< 0,05 
Độ II 26 33,3 
Độ III 7 8,9 
Độ IV 2 2,6 
Nhận xét: Phần lớn đối tượng nghiên cứu nằm ở độ II Killip 33,3%. Có 02 trường hợp có phân 
độ IV 2,6% (p <0,05). 
3.1.5. Đặc điểm tổn thương động mạch vành của đối tượng nghiên cứu 
Bảng 3.6. Phân bố số nhánh tổn thương theo kết quả chụp động mạch vành 
Số nhánh tổn thương Số lượng(n) Tỷ lệ (%) 
1 nhánh 38 48,7 
2 nhánh 23 29,5 
3 nhánh 17 21,8 
Tổng cộng 78 100,0 
Nhận xét: Bệnh nhân có tổn thương 1 nhánh động mạch vành chiếm tỷ lệ cao nhất 48,7%. 
Tổn thương 3 nhánh chiếm tỷ lệ thấp nhất 21,8%. 
Bảng 3.7. Phân bố vị trí tổn thương động mạch vành 
Nhánh tổn thương Số lượng(n) Tỷ lệ (%) 
RCA 54 69,2 
LM 1 1,3 
LAD 51 65,4 
LCx 29 37,2 
Nhận xét: Tỷ lệ tổn thương động mạch vành phải chiếm cao nhất 69,2%, tiếp đến là tổn 
thương động mạch liên thất trước 65,4%. Tổn thương thân chung chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,3%. 
3.2. Liên quan giữa nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI với biến cố tái nhập viện trong 
30 ngày sau can thiệp 
3.2.1. Biến cố tái nhập viện trong 30 ngày theo dõi 
Bảng 3.8. Tỷ lệ biến cố tái nhập viện trong 30 ngày theo dõi 
Nhóm Số lượng (n) Tỷ lệ (%) p 
Không có biến cố 66 84,6 
<0,01 
Có biến cố 12 15,4 
Tổng cộng 78 100,0 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
66 
3.2.2. Dự báo biến cố tái nhập viện trong 30 ngày theo dõi bằng công cụ “PCI RISK 
ASSESSMEN” 
Bảng 3.9. Tỷ lệ dự báo biến cố tái nhập viện trong 30 ngày theo dõi 
Tỷ lệ dự báo bệnh nhân tái 
nhập viện 
Số lượng (n) Tỷ lệ (%) p 
Nhóm 1: < 9% 3 3,8 
< 0,01 Nhóm 2: 9% -21% 61 78,2 
Nhóm 3: > 21% 14 17,9 
Tổng số 78 100,0 
Nhận xét: Dự báo tái nhập viện trong 30 ngày theo dõi ở nhóm 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 78,2%, 
thấp nhất ở nhóm 1 (3,8%), tỷ lệ ở các nhóm dự báo trong 30 ngày có ý nghĩa thống kê (p<0,01). 
3.2.3. Mối tương quan giữa nồng độ BNP huyết thanh, hs-cTnI với biến cố tái nhập viện 
sau 30 ngày can thiệp. 
Bảng 3.10. Mối tương quan giữa nồng độ BNP huyết thanh, hs-cTnI với biến cố tái nhập viện 
sau 30 ngày can thiệp 
Chỉ số Giá trị 
Biến cố tái nhập viện 
Không có biến cố 
(n=66) 
Có biến cố 
(n=12) 
BNP 
(pg/ml) 
Trước CT 261,33±369,15 595,79±860,10 
Sau CT 273,60±335,43 1641,15±2442,32 
p > 0,05 < 0,05 
hs-cTnI 
(pg/ml) 
Trước CT 656,61±1718,54 1332,03±1525,52 
Sau CT 1234,18±1847,36 2724,74±3017,34 
p > 0,05 > 0,05 
Nhận xét: 
Ở nhóm biến cố tái nhập viện trong 30 ngày theo dõi: nồng độ của BNP huyết thanh sau can 
thiệp tăng cao so với trước can thiệp lần lượt là 595,79±860,10 pg/ml; 1641,15±2442 pg/ml, có ý 
nghĩa thống kê (p<0,05). 
Nhóm không có biến cố: Nồng độ BNP huyết thanh có sự thay đổi không đáng kể trước và 
sau can thiệp (p>0,05). Nồng độ hs-cTnI sau can thiệp tăng cao so với trước can thiệp 
656,61±1718,54 pg/ml; 1234,18±1847,36 pg/ml, sự biến đổi này không có ý nghĩa thống kê 
(p>0,05). 
Bảng 3.11. Liên quan giữa nồng độ BNP huyết thanh, hs-cTnI sau can thiệp với dự báo tái nhập 
viện bằng công cụ PCI Rick trong 30 ngày theo dõi 
Chỉ số 
Tỷ lệ dự báo tái nhập viện bằng công cụ PCI Rick 
p Nhóm 1: 
< 9% 
Nhóm 2: 
9% -21% 
Nhóm 3: 
> 21% 
BNP(pg/ml) 112,16±135,45 326,81±401,64 1248,5±2354,97 <0,05 
hs-cTnI (pg/ml) 519,06±776,31 
1443,45±2092,6
2 
1753,24±2429,16 >0,05 
Nhận xét: ở cả 3 nhóm dự báo tiên lượng tỷ lệ tái nhập viện trong 30 ngày bằng công cụ PCI 
Rick tỷ lệ thuận với nồng độ BNP huyết thanh lần lượt là 112.16±135.45pg/ml ; 326.81±401.64 
pg/ml ; 1248.5±2354.97 pg/ml (p0,05). 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
67 
3.2.4. Khả năng tiên lượng biến cố tái nhập viện trong vòng 30 ngày theo dõi của công cụ 
PCI RISK 
Bảng 3.12. Giá trị tiên lượng biến cố tái nhập viện trong vòng 30 ngày theo dõi 
của thang điểm PCI RISK 
Biến cố AUC KTC (95%) Điểm cắt Độ nhạy Độ đặc hiệu 
Tái nhập viện trong 
30 ngày 
0,795 0,68 - 0,87 >2 66,67 90,91 
Nhận xét:Thang điểm PCI RISK có khả năng tiên lượng biến cố tái nhập viện trong 30 ngày theo 
dõi. Giá trị điểm cắt của là >2 (tương ứng với độ nhạy là 66,67% và độ đặc hiệu là 90,91%), 
Biểu đồ 3.1. Giá trị tiên lượng bằng công cụ PCI RISK đối 
với tái nhập viện trong 30 ngày theo dõi 
Nhận xét: Thang điểm PCI RISK tại giá trị điểm cắt >2, khả năng tiên lượng tái nhập viện 
trong 30 ngày có độ nhạy 66,7% & độ đặc hiệu 90,9%. 
Bảng 3.13. Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, 
tỉ số khả dĩ dương, tỉ số khả dĩ âm của thang điểm PCI RISK 
Giá trị cắt 
Tái nhập viện trong 30 ngày 
Độ nhạy (%) KTC 95% Độ đặc hiệu (%) KTC 95% 
>1 100,00 73,5 - 100,0 4,55 0,9 - 12,7 
>2 66,67 34,9 - 90,1 90,91 81,3 - 96,6 
>3 0,00 0,0 - 26,5 100,00 94,6 - 100,0 
Nhận xét: Thang điểm PCI RISK có giá trị tiên lượng dự báo tái nhập viện trong 30 ngày tại 
điểm cắt > 2 (độ n ... với khả năng tiên lượng biến cố tái 
nhập viện trong 30 ngày theo dõi 
Bảng 3.15. Liên quan khả năng tiên lượng biến cố tái nhập viện trong 30 ngày theo dõi 
của nồng độ BNP huyết thanh và hs-cTnI 
BNP huyết thanh 
Hs-cTnI 
(pg/ml) 
Biến cố tái nhập viện 
Không 
n=66 
Có 
n=12 
BNP > 232 (+) 
hs-cTnI (+) 
16 
(24,2%) 
11 
(91,7%) 
BNP > 232 (+) 
hs-cTnI (-) 
6 
(9,1%) 
0 
(0,0%) 
BNP > 232 (-) 
hs-cTnI (+) 
11 
(16,7%) 
1 
(8,3%) 
BNP > 232 (-) 
hs-cTnI (-) 
33 
(50,0%) 
0 
(0,0%) 
Nhận xét: Nhóm có biến cố tái nhập viện có BNP dương tính và hs-cTnI dương tính chiếm tỷ 
lệ cao 91,7%. Không có biến cố tái nhập viện ở BNP âm tính và hs-cTnI âm tính. 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
69 
3.2.6. Liên quan khả năng tiên lượng về dự báo nhập viện trong 30 ngày giữa nồng độ 
BNP huyết thanh và hs-cTnI với thang điểm PCI RISK 
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ so sánh đường cong ROC của BNP huyết thanh, hs-cTnI sau can thiệp và 
thang điểm PCI RISK trong tiên lượng tái nhập viện 30 ngày 
Nhận xét: So với nồng độ hs-cTnI, thang điểm PCI RISK có phần chính xác hơn trong tiên 
lượng biến cố tái nhập viện 30 ngày theo dõi, giúp cải thiện AUC từ 0,764 lên 0,795. So với 
thang điểm PCI RISK, nồng độ BNP huyết thanh có cải thiện hơn với AUC từ 0,795 lên 0,848. 
4. BÀN LUẬN 
4.1. Liên quan nồng độ của BNP huyết 
thanh và hs-cTnI với với biến cố tái nhập 
viện trong 30 ngày theo dõi 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có sự 
chênh lệch rõ rệt nồng độ BNP huyết thanh 
giữa nhóm có và không có biến cố tim mạch. 
Nồng độ BNP huyết thanh sau can thiệp ở 
nhóm có biến cố tim mạch tái nhập viện cao 
gấp 5 lần so với nhóm không có biến cố 
(273.60±335.43pg/ml so với 
1641.15±2442.32pg/ml p<0,05). 
Theo tác giả Lê Xuân Túy, nghiên cứu về 
sự biến đổi nồng độ NT - proBNP huyết 
tương trước và sau can thiệp động mạch vành 
cho rằng nồng độ NT-proBNP là một dấu hiệu 
độc lập với tỷ lệ mắc bệnh lâu dài và tỷ lệ tử 
vong ở những bệnh nhân bị bệnh mạch vành 
ổn định và không ổn định (CVD) với điểm cắt 
cao hơn giá trị dự báo suy tim 138pg/ml so 
với 107 pg/ml. Sự gia tăng nồng độ NT-
proBNP, ngay cả trong bối cảnh không có kết 
quả cận lâm sàng mắc bệnh tim mạch (ECG, 
Siêu âm tim) là tiên lượng biến cố tim mạch 
trong tương lai [4]. 
Nồng độ hs-cTnI sau can thiệp tăng so với 
trước can thiệp 656,61±1718,54 pg/ml; 
1234,18±1847,36 pg/ml, sự biến đổi này 
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Một số 
nghiên cứu cho thấy các thế hệ xét nghiệm 
Troponin đặc hiệu cho cơ tim (Troponin I và 
Troponin T) ngày càng được cải thiện giúp tối 
ưu hóa việc chẩn đoán và theo dõi điều trị 
HCVC. Xét nghiệm Troponin I độ nhạy cao 
được khuyến cáo sử dụng vì tính chất chính 
xác, cho phép đánh giá nồng độ Troponin tim 
ở từng giới riêng biệt, ít bị ảnh hưởng bởi 
bệnh lý thận. 
0 20 40 60 80 100
0
20
40
60
80
100
100-Specificity
S
e
n
si
tiv
ity BNP_huyết_thanh
hs_Troponin_I
PCI RISK
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
70 
 Hiện nay có nhiều nghiên cứu ứng dụng 
các thang điểm trong tiên lượng ngắn hạn, dài 
hạn bệnh nhân Hội chứng vành cấp. Chẳng 
hạn như GRACE, PURSUIT,PURSUIT phối 
hợp CRP huyết thanh Rất ít đề tài nghiên 
cứu ứng dụng công cụ PCI Risk trong tiên 
lượng ngắn hạn, dài hạn Hội chứng vành cấp 
được can thiệp mạch vành . Theo nghiên cứu 
của chúng tôi, sử dụng công cụ PCI Risk để 
dự báo tiên lượng tỷ lệ tái nhập viện trong 30 
ngày theo dõi sau can thiệp so sánh với tỷ lệ 
có biến cố tái nhập viện dựa vào 2 chất chỉ 
điểm như vừa nêu trên. Kết quả là nồng độ 
BNP huyết thanh sau can thiệp biến đổi tăng 
dần lần lượt ở 03 nhóm có ý nghĩa thống kê 
(p<0,05). Đối với hs-cTnI sự biến đổi này 
không có ý nghĩa thống kê(p>0,05). 
4.2. Biến cố tái nhập viện trong 30 ngày 
theo dõi bằng nồng độ BNP huyết thanh và 
hs-cTnI. 
Về biến cố tim mạch tái nhập viện trong 
30 ngày theo dõi,nghiên cứu của chúng tôi 
nhóm không có biến cố tim mạch tái nhập 
viện chiếm tỷ lệ (84,6%), nhóm có biến cố 
(15,4%). Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên, 
theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị 
Mộng Ngọc, tỷ lệ có ít nhất một biến cố tim 
mạch tại viện là 62,2%, trong đó 30,6% sốc 
tim, 53,1% suy tim tại viện, 26,5% loạn nhịp 
nguy hiểm, 6,1% NMCT mới/tái phát và 
19,4% tử vong. Có 54,1% có biến cố tim 
mạch 30 ngày, trong đó 29,6% tái nhập viện 
trong vòng 30 ngày, 24,5% tử vong trong 
vòng 30 ngày (kể cả tử vong tại viện). Tử 
vong tại viện của nhóm NMCTSTCL là 
18,7%, không có BN nào thuộc nhóm này tử 
vong sau xuất viện tính đến thời điểm 30 
ngày. Đặc biệt, cả 5 BN tử vong sau xuất viện 
đều là tử vong tại nhà và đều thuộc nhóm 
HCVCKSTCL [3]. 
Theo nghiên cứu của Granger trên 11.389 
BN HCVC, tỷ lệ tử vong tại viện chỉ có 4,6%. 
Theo quả điều tra của Morrow từ kho dữ liệu 
InTIME II gồm 15.078 BN NMCTSTCL, tỷ 
lệ tử vong 30 ngày là 6,7% [10]. Theo nghiên 
cứu của Gale dựa trên kho dữ liệu MINAP, tỷ 
lệ tử vong tại viện của BN HCVC là 8,6%; tỷ 
lệ tử vong 30 ngày của nhóm HCVCKSTCL 
là 8,9%, của nhóm NMCTSTCL là 12,3% [7]. 
Trong nghiên cứu của Trần Viết An [1] tỷ lệ 
tử vong 30 ngày của HCVC là 5,5%, trong đó 
tử vong ở nhóm NMCTSTCL là 6,9% và 
nhóm HCVCKSTCL là 4,3% (p = 0,701). 
Nhóm nghiên cứu của chúng tôi không có 
tỷ lệ tử vong và tỷ lệ biến cố tim mạch tái 
nhập viện rất thấp có lẽ vì bệnh nhân được 
can thiệp mạch vành tại đơn vị của chúng tôi 
hầu hết đã được điều trị dùng thuốc tiêu sợi 
huyết tại viện hoặc trong trường hợp cấp cứu. 
Trong nghiên cứu InTIME II, 26,2% được can 
thiệp mạch vành trong thời gian nằm viện 
[10]. Ngoài ra, tiêu chí đánh giá biến cố 30 
ngày trong nghiên cứu của chúng tôi hơi khác 
so với các tác giả nên không thể so sánh trực 
tiếp các tỷ lệ này. Sở dĩ chúng tôi chọn các 
tiêu chí này để đánh giá vì đây là những biến 
cố cơ bản và có tính chất quyết định tiên 
lượng ngắn hạn và dài hạn ở bệnh nhân được 
can thiệp mạch vành. 
4.3. Sử dụng công cụ thang điểm PCI 
RISK ở bệnh nhân can thiệp động mạch 
vành để dự báo tiên lượng tái nhập viện 
Công cụ này giúp dự báo những rủi ro 
trong và sau can thiêp động mạch vành. 
Chúng tôi sử dụng kết quả dự báo sau can 
thiệp nguy cơ tái nhập viện trong 30 ngày 
theo dõi để nghiên cứu. Về dự báo tái nhập 
viện trong 30 ngày của thang điểm PCI RISK 
được phân thành 03 nhóm: nhóm 1: < 9%; 
nhóm 2: 9-21%; nhóm 3: > 21%. Kết quả của 
chúng tôi có sự khác biệt ở 03 nhóm dự báo 
tỷ lệ tái nhập viện nhóm 2 chiếm tỷ lệ cao 
nhất 78,2%, thấp nhất 3,8% (ở nhóm 1). 
Thực tế lâm sàng có nhiều thang điểm 
dùng để tiên lượng ngắn hoặc dài hạn ở bệnh 
nhân có hội chứng vành cấp. Chẳng hạn sử 
dụng thang điểm PURSUIT trong nghiên cứu 
của Yan, trung vị của điểm PURSUIT là 7, 
các tứ phân vị là 4 và 10; tỷ lệ tử vong tại 
viện theo các nhóm nguy cơ thấp, trung bình 
và cao lần lượt là 0,3%, 1% và 4,7%. Theo 
Gonçalves, tỷ lệ tử vong/NMCT 30 ngày theo 
các phân nhóm nguy cơ lần lượt là 6,5% 
(PURSUIT <10 điểm), 3,6% (PURSUIT 10-
12 điểm), 5,5% (PURSUIT 13-14 điểm) và 
12,9% (PURSUIT >14 điểm). Theo nghiên 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
71 
cứu của Trần Như Hải ở BN HCVC, nhóm 
PURSUIT<10 điểm có tỷ lệ biến cố (tử 
vong/NMCT/ĐTNKÔĐ) 14 ngày và 30 ngày 
lần lượt là 22,73% và 36,36%; nhóm 10-12 
điểm có tỷ lệ biến cố là 31,25% và 21,88%; 
nhóm 13-14 điểm có tỷ lệ biến cố là 41,03% 
và 25%; nhóm >14 điểm có tỷ lệ biến cố là 
50% và 48,39%. Theo nghiên cứu của chúng 
tôi không có tỷ lệ tử vong trong 30 ngày theo 
dõi và tỷ lệ tái nhập viện cũng ở mức thấp so 
với các thang điểm của các nghiên cứu trong 
nước. Điều này cũng phù hợp vì đối tượng 
nghiên cứu của chúng tôi là ở nhóm bệnh 
nhân có hội chứng mạch vành được can thiệp. 
4.4. Khả năng tiên lượng biến cố tái 
nhập viện trong vòng 30 ngày theo dõi của 
nồng độ BNP huyết thanh, hs-cTnI sau can 
thiệp 24 giờ 
Theo nghiên cứu của chúng tôi. Khi khảo 
sát diện tích dưới đường cong ROC (AUC) 
của nồng độ BNP huyết thanh tiên lượng 
bệnh nhân tái nhập viện trong 30 ngày theo 
dõi, chúng tôi thấy rằng, nồng độ BNP huyết 
thanh có giá trị tương đối tốt (AUC=0.848, 
p<0,05), Giá trị điểm cắt nồng độ BNP huyết 
thanh trong tiên lượng tái nhập viện 30 ngày 
là >232mg/L. Khi khảo sát diện tích dưới 
đường cong ROC (AUC) của nồng độ hs-
cTnI tiên lượng bệnh nhân tái nhập viện trong 
30 ngày theo dõi, chúng tôi thấy rằng, nồng 
độ hs-cTnI có giá trị tương đối tốt 
(AUC=0.764, p<0,05), Giá trị điểm cắt nồng 
độ hs-cTnI trong tiên lượng tái nhập viện 30 
ngày là >689,6pg/ml. 
Nghiên cứu của Fournier J.A và cs (2008) 
ở 68 bệnh nhân được đặt stent trần và khảo 
sát nồng độ của Troponin T và hs-CRP trước 
can thiệp và sau can thiệp những khoảng thời 
gian 8 giờ, 24 giờ và 30 ngày và theo dõi 
trung bình trong 16,6 tháng với các biến cố 
tim mạch lớn là tử vong, nhồi máu cơ tim 
không tử vong, tái can thiệp mạc vành. Kết 
quả thu được cho thấy hs-CRP tăng có ý 
nghĩa ở 24 giờ (p=0.05) và 30 ngày (p<0.02) 
sau đặt stent. Vùng bên dưới đường cong 
ROC sau 30 ngày có độ nhạy 80%, độ đặc 
hiệu 72% cho tiên đoán các biến cố tim mạch 
lớn. Tỷ lệ sống sót sau 12 tháng không xuất 
hiện bất kỳ biến cố tim mạch lớn nào cao hơn 
ở nhóm có hs-CRP ≤ 2,5 ng/L so với nhóm có 
hs-CRP > 2,5 ng/L (p=0.04). Tác giả kết luận 
đo nồng độ hs-CRP sau đặt stent 30 ngày có 
thể hữu ích cho việc tiên đoán các biến cố tim 
mạch muộn [6]. 
4.5. Khả năng tiên lượng biến cố tái 
nhập viện trong vòng 30 ngày theo dõi của 
thang điểm PCI RISK 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thang 
điểm PCI Riskcó giá trị tiên đoán tái nhập 
viện trong 30 ngày theo dõi với AUC= 0.795, 
95% KTC= 0.68 - 0.87. 
Kết quả nghiên cứu Nguyễn Thị Mộng 
Ngọc, thang điểm PURSUIT có giá trị tốt 
trong tiên đoán tử vong tại viện (AUC= 0,727, 
95% KTC =0.628-0.812, p<001), biến cố 
chung tại viện (AUC= 0,776, 95% KTC= 
0,681-0,854, p<0,001). Thang điểm PURSUIT 
cũng có giá trị tiên đoán tử vong 30 ngày tốt 
(AUC= 0,750, 95% KTC= 0,652-0,832, p< 
0,001), kết quả tương tự đối với tiên lượng 
biến cố chung 30 ngày (AUC= 0,700, 95% 
KTC= 0,600-0,789, p<0,01). Thang điểm 
GRACE có giá trị tiên đoán tử vong tại viện 
cao (AUC= 0,86, 95% KTC= 0,77-0,92, 
p<0,001); kết quả tương tự đối với tiên lượng 
biến cố tim mạch chung tại viện (AUC= 0,88, 
95% KTC= 0,80-0,94, p<0,001). Thang điểm 
GRACE có giá trị tiên đoán tử vong 30 ngày 
cũng rất tốt (AUC= 0,84, 95% KTC= 0,75-
0,91, p< 0,001), kết quả tương tự đối với tiên 
lượng biến cố chung 30 ngày (AUC=0,79,95% 
KTC 0,70-0,87, p< 0,001)[3]. 
4.6. Mối liên quan nồng độ BNP huyết 
thanh và hs-cTnI với của thang điểm PCI 
RISK trong dự báo biến cố tái nhập viện 
trong 30 ngày theo dõi 
Kết quả nghiên cứu Nguyễn Thị Mộng 
Ngọc, so với thang điểm PURSUIT, thang 
điểm CRP& PURSUIT tiên lượng tốt hơn biến 
cố tại viện (AUC từ 0,776 lên 0,879, 
ΔAUC=0,103 với p<0,01); tiên lượng tốt hơn 
biến cố 30 ngày (AUC từ 0,700 lên 0,806, 
ΔAUC=0,106 với p<0,001). Mô hình kết hợp 
theo hai mức giá trị điểm cắt của CRP và điểm 
PURSUIT trong tiên lượng tử vong 30 ngày 
(mô hình PURSUIT+CRP). So sánh tỷ lệ biến 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
72 
cố giữa các phân nhóm nguy cơ theo mô hình 
PURSUIT+CRP cho thấy rằng ở nhóm nguy 
cơ thấp (CRP<8,6 ng/L và PURSUIT<14) 
không có BN nào tử vong, 26,3% có biến cố 
tại viện và 10,5% có biến cố 30 ngày. Khi 
khảo sát tỷ lệ phân nhóm lại giữa hai mô hình, 
cho thấy sự phân tầng nguy cơ lại theo mô 
hình PURSUIT+CRP giúp phân nhóm lại hợp 
lý hơn trong 25,51% trường hợp đối với tử 
vong tại viện (p<0,001) và 25,79% đối với tử 
vong 30 ngày (p<0,001) so với phân tầng 
nguy cơ theo thang điểm PURSUIT đơn thuần. 
Tóm lại, sự kết hợp nồng độ CRP huyết thanh 
với hai thang điểm nguy cơ GRACE và 
PURSUIT đã giúp cung cấp thêm rất nhiều 
thông tin về tiên lượng các biến cố tim mạch 
ngắn hạn ở BN HCVC [3]. 
Theo nghiên cứu của chúng tôi, khi so sánh 
nồng độ BNP huyết thanh, hs-cTnI với thang 
điểm PCI Risk dự báo tiên lượng trong 30 
ngày bằng biểu đồ 03 đường cong ROC thì so 
với nồng độ hs-cTnI, thang điểm PCI RISK có 
phần chính xác hơn trong tiên lượng biến cố tái 
nhập viện 30 ngày theo dõi, giúp cải thiện 
AUC từ 0,764 lên 0,795. So với thang điểm 
PCI RISK, nồng độ BNP huyết thanh có cải 
thiện hơn với AUC từ 0,795 lên 0,848. 
5. KẾT LUẬN 
- Sử dụng công cụ PCI Riskđể dự báo biến 
cố bệnh nhân tái nhập viện trong 30 ngày theo 
dõi có gía trị tốt (AUC= 0,795, 95% KTC= 
0,68 - 0,87, p<0,001). 
- Có mối liên quan dự báo khả năng tiên 
lượng ngắn hạn biến cố tái nhập viện trong 30 
ngày theo dõi giữa nồng độ BNP huyết thanh, 
hs-cTnI với thang điểm PCI Risk bằng 03 
đường cong ROC thì thang điểm PCI Risk dự 
báo tiên lượng tốt hơn so với nồng độ hs-cTnI 
với AUC= 0,795, 95% KTC= 0,68 - 0,87, 
(p<0,001). 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Trần Viết An, Trần Hữu Dàng, Huỳnh 
Văn Minh, Nguyễn Cửu Lợi, Lê Thị Bích 
Thuận (2010), “Nồng độ NT-proBNP 
huyết thanh và thang điểm nguy cơ 
GRACE trong tiên lượng ngắn hạn ở BN 
hội chứng vành cấp”,Kỷ yếu Hội nghị tim 
mạch Miền trung Tây nguyên mở rộng 
lần thứ VI, Phụ trương Tim Mạch Học, số 
58/2011, tr.248-263. 
2. Phạm Gia Khải và cs. (2008), “Can thiệp 
động mạch vành qua da”, Khuyến cáo về 
các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa giai 
đoạn 2008 của Hội Tim mạch học Việt 
Nam. 
3. Nguyễn Thị Mộng Ngọc (2015), Nghiên 
cứu ứng dụng thang điểm GRACE và 
PURSUIT phối hợp CRP huyết thanh 
trong tiên lượng ngắn hạn bệnh nhân Hội 
chứng vành cấp, Luận án CKII, Đại học 
Y Dược Huế. 
4. Lê Xuân Túy (2014), Sự biến đổi nồng độ 
NT - proBNP huyết tương trước và sau 
can thiệp động mạch vành qua da, Luận 
án chuyên khoa II, ĐH Y Dược Huế 
5. Cannon CP, Weintraub WS, Demopoulos 
LA, et al (2001), “Comparison of early 
invasive and conservative strategies in 
patients with unstable coronary 
syndromes treated with the glycoprotein 
IIb/IIIa inhibitor tirofiban”, N Engl J 
Med, 344, pp.1879-1887. 
6. Fournier J.A. et al. (2008), “The high 
sensitivity C-reactive protein level one 
month after bare-metal coronary stenting 
may predict late adverse events”, Rev Esp 
Cardiol, 81, pp.313-316. 
7. Gale CP, Manda S, et al (2009), 
“Evaluation of risk scores for risk 
stratification of acute coronary syndromes 
in the Myocardial Infarction National 
Audit Project (MINAP) database”, Heart; 
95(3), pp.221-7. 
8. Jernberg T, Jamesa S, Lindahl B, et al 
(2004), “Natriuretic peptides in unstable 
coronary artery disease”, Eur Heart J, 25, 
pp.1486-1493. 
9. Mitsunobu Kitamura et al. (2013), “High-
sensitivity cardiac troponin T for earlier 
diagnosis of acute myocardial infarction 
in patients with initially negative troponin 
T test - Comparison between cardiac 
markers”, Journal of Cardiology, Vol.62, 
pp.336-342. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_moi_lien_quan_cua_nong_do_bnp_huyet_thanh_va_hsct.pdf