Nghiên cứu mật độ khoáng xương và loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Những năm gần đây nhiều nghiên cứu trên

thế giới đã đề cập đến sự liên quan giữa loãng

xương và đái tháo đường. Loãng xương cũng

là một rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường

type 2 như là một yếu tố nguy cơ mất xương

và gãy xương ở người và động vật thí nghiệm

[1,2,3]. Mặt khác xương cũng được nghiên cứu

như là một cơ quan nội tiết có liên quan đến

chuyển hóa một số hormon và liên quan đến đề

kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường

[3,4]. Các nghiên cứu về mật độ khoáng của

xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có

các kết quả khác nhau. Nghiên cứu cho thấy có

thay đổi theo chiều hướng tăng hoặc không

thay đổi mật độ khoáng của xương ở bệnh

nhân đái tháo đường type 2

pdf 7 trang phuongnguyen 400
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mật độ khoáng xương và loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu mật độ khoáng xương và loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2

Nghiên cứu mật độ khoáng xương và loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
42 
NGHIÊN CỨU MẬT ĐỘ KHOÁNG XƯƠNG VÀ LOÃNG XƯƠNG 
Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 
Ngô Đức Kỷ 
 Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An 
DOI: 10.47122/vjde.2020.43.6 
ABSTRACT 
Study on bone mineral density and 
osteoporosis in patients with type 2 diabetes 
Objectives: Study on bone mineral density 
and osteoporosis in patients with type 2 
diabetes. Methods: Cross – sectional study. 
All 151 patients were diagnosed with type 2 
diabetes aged 36-81 years old and treated at 
the Nghe An General Hospital. All patients 
underwent intravenous glucose testing, 
insulin, HbA1c on COBAS 6000 and of 
Roche, and bone density measurements using 
the Hologram Discovery QDR series 4500A / 
SL, US DELPHI. Analysis of data by SPSS 
16.0 software. Results: The average age is 
62,12 ± 8,99 years old. Average BMI 22,96 ± 
2,98 kg / m2. The difference between the 
sexes in age indexes, BMI, HOMA2-IR, and 
HbA1c is not statistically significant with p > 
0,05. The bone mineral density, neck of the 
femur and lumbar spine from L1 - L4 in 
women was significantly lower than that of 
men with p < 0,001. The prevalence of 
osteoporosis was 31,1%, of which men were 
8,6% and women 22,5%. The risk of 
osteoporosis of women is 2,96 times higher 
than that of men and this difference is 
statistically significant with p < 0,01. There 
was a correlation between bone mineral 
density and HbA1c in type 2 diabetes patients 
(p < 0,01) and no negative correlation 
between bone mineral density with BMI and 
HOMA2 -IR. Conclusion: In patients with 
type 2 diabetes who control good blood 
glucose levels increase bone mineral density. 
Keywords: Bone mineral density, type 2 
diabetes mellitus, osteoporosis. 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Khảo sát mật độ khoáng xương 
và tỷ lệ loãng xương và mối liên quan của 
chúng với một số đặc điểm ở bệnh nhân đái 
tháo đường type 2. Phương pháp nghiên cứu 
và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 
cắt ngang có phân tích. Tất cả 151 bệnh nhân 
được chẩn đoán đái tháo đường type 2 có độ 
tuổi từ 36 – 81 khám và điều trị tại Bệnh viện 
hữu nghị đa khoa Nghệ An. Các xét nghiệm 
glucose, HbA1c, insulin, c – peptid được làm 
tại Khoa Hóa sinh bằng hệ thống tự động máy 
Cobas 6000 và Cobas e 601 của hãng Roche. 
Glucose máu huyết tương lúc đói bằng 
phương tham chiếu sử dụng men hexokinase, 
HbA1c dựa trên xét nghiệm miễn dịch ức chế 
đo độ đục (TINIA) cho máu toàn phần ly giải, 
insulin và c – peptide đo bằng phương pháp 
miễn dịch hóa phát quang (electro-
chemiluminescence immunoassay: điện hóa 
phát quang). Đo mật độ xương toàn thân bằng 
máy Hologic Discovery QDR series 
4500A/SL, DELPHI của Mỹ. Tính các chỉ số 
HOMA2-IR và HOMA2-%Beta theo phiên 
bản phần mềm HOMA Calculator v2.2.3 của 
Đại học Oxford – Anh. Xử lý số liệu bằng 
phần mền SPSS 16.0. Kết quả: Tuổi trung 
bình của nhóm nghiên cứu 62,12 ± 8,99 tuổi. 
Trung bình BMI 22,96 ± 2,98 kg/m2. Sự khác 
biệt của hai giới về các chỉ số tuổi, BMI, 
HOMA2-IR, và HbA1c không có ý nghĩa 
thống kê với p > 0,05. Mật độ khoáng xương 
toàn thân, cổ xương đùi và xương cột sống 
thắt lưng từ L1 – L4 ở nữ giảm hơn so nam có 
ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Tỷ lệ loãng 
xương chung là 31,1%, trong đó nam là 8,6% 
và nữ 22,5%. Nguy cơ loãng xương của phụ 
nữ cao gấp 2,96 lần so với nam giới và sự 
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 
0,01. Có mối liên quan giữa mật độ khoáng 
của xương với chỉ số HbA1c ở bệnh nhân 
ĐTĐ týp 2 (p < 0,01) và ngược lại không có 
mối tương quan giữa mật độ khoáng xương 
với BMI và chỉ số đề khoáng insulin 
HOMA2-IR. Kết luận: Ở những bệnh nhân 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
43 
đái tháo đường týp 2 kiểm soát glucose máu 
tốt thì làm tăng mật độ khoáng của xương. 
Từ khóa: Mật độ khoáng xương, đái tháo 
đường týp 2, Loãng xương. 
Chịu trách nhiệm chính: Ngô Đức Kỷ 
Ngày nhận bài: 25/10/2020 
Ngày phản biện khoa học: 08/11/2020 
Ngày duyệt bài: 12/12/2020 
Email: [email protected] 
Điện thoại: 0936758595 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Những năm gần đây nhiều nghiên cứu trên 
thế giới đã đề cập đến sự liên quan giữa loãng 
xương và đái tháo đường. Loãng xương cũng 
là một rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường 
type 2 như là một yếu tố nguy cơ mất xương 
và gãy xương ở người và động vật thí nghiệm 
[1,2,3]. Mặt khác xương cũng được nghiên cứu 
như là một cơ quan nội tiết có liên quan đến 
chuyển hóa một số hormon và liên quan đến đề 
kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường 
[3,4]. Các nghiên cứu về mật độ khoáng của 
xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có 
các kết quả khác nhau. Nghiên cứu cho thấy có 
thay đổi theo chiều hướng tăng hoặc không 
thay đổi mật độ khoáng của xương ở bệnh 
nhân đái tháo đường type 2 [3,5]. 
Những kết quả trái ngược về mật độ 
khoáng của xương ở bệnh nhân đái tháo 
đường type 2 này có thể giải thích do sự khác 
biệt về chủng tộc, về các nước khác nhau hay 
thiết kế nghiên cứu khác nhau. Kiểm soát cân 
nặng là một mục tiêu rất cần thiết trong điều 
trị bệnh đái tháo đường type 2 mặc dù BMI 
thấp, thừa cân và béo phì thường xãy ra ở một 
số bệnh nhân. 
Ở Việt Nam đã có nghiên cứu về mật độ 
khoáng của xương cũng như loãng xương ở 
bệnh nhân đái tháo đường type 2 nhưng tại 
Nghệ An chưa có nghiên cứu nào được thực 
hiện. Vì vậy chúng tối tiến hành nghiên cứu 
này nhằm mục đích: 
- Khảo sát mật độ khoáng xương và tỷ lệ 
loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường 
type 2.. 
- Tìm hiểu mối liên quan giữa mật độ 
khoáng xương với một số đặc điểm ở bệnh 
nhân đái tháo đường type 2. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
 Chọn 151 bệnh nhân được chẩn đoán đái 
tháo đường type 2 và điều trị tại Bệnh viện 
hữu nghị đa khoa Nghệ An.Thời gian từ năm 
07/2015 – 02/2017. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang 
có phân tích. 
Áp dụng cỡ mẫu thuận tiện không xác 
suất. 
2.3. Đo mật độ khoáng của xương bằng 
phương pháp hấp phụ tia X năng lượng 
kép - DEXA (Dual - Energy X – ray 
Absorptiometry - DEXA). 
Tất cả các bệnh nhân đều được đo mật độ 
xương vùng cột sống thắt lưng từ L1 – L4, đo 
mật độ xương toàn thân và cổ xương đùi tại 
khoa Thăm dò chức năng, Bệnh Viện Hữu 
Nghị Đa Khoa Nghệ An. 
- Đặc điểm của máy: Loại Máy: đo mật độ 
xương bằng máy Hologic Discovery QDR 
series 4500A/SL, DELPHI của Mỹ. 
- Các xét nghiệm HbA1c, insulin, glucose, 
c – peptide thực hiện trên máy Cobas 6000 
của hãng Roche. Phân tích số liệu bằng phần 
mền thống kê SPSS 16.0. 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu 
Bảng 1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu 
Đặc điểm Nam Nữ Chung P 
Tuổi (năm) 61,71 ± 9,59 62,53 ± 8,38 62,12 ± 8,99 p >0,05 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
44 
Giới 50,3% 49,7% p >0,05 
BMI( kg/m²) 23,06 ± 2,90 22,86± 3,07 22,96 ± 2,98 p >0,05 
HbA1c (%) 7,61 ± 2,01 8,26 ± 2,08 7,93 ± 2,06 p > 0,05 
HOMA2-IR 7,09 ± 5,08 6,86 ± 6,27 6,97 ± 5,69 p > 0,05 
Nhận xét: Tất cả có 151 bệnh nhân đái tháo đường type 2 tham gia nghiên cứu, nam chiếm 
50,3% và nữ là 49,7%.Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu 62,132 ± 8,99 tuổi. Trung bình BMI 
22,96 ± 2,98 kg/m². Trung bình HbA1c là 7,93 ± 2,06% và chỉ số đề kháng insulin HOMA2-IR 
là 6,97 ± 5,69. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi, giới, chỉ số BMI, HbA1c và 
HOMA2-IR ở nam và nữ. 
3.2. Đặc điểm mật độ khoáng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 
Bảng 2. Đặc điểm mật độ khoáng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 
Đặc điểm 
Tứ phân 
vị 25 
Trung vị 
Tứ phân 
vị 75 
p* 
BMD (g/cm²) 
Chung (n = 151) 0,91 1,02 1,11 
Nam (n = 76) 1,04 1,09 1,15 
< 0,001 
Nữ (n = 75) 0,88 0,92 0,99 
BMD L1-L4 
(g/cm²) 
Chung (n = 151) 0,81 0,92 1,04 
Nam (n = 76) 0,89 0,98 1,08 
< 0,001 
Nữ (n = 75) 0,76 0,84 0,93 
BMD xương 
chậu hông 
(g/cm²) 
Chung (n = 151) 0,87 0,97 1,07 
Nam (n = 76) 0,93 1,01 1,13 
< 0,001 
Nữ (n = 75) 0,83 0,89 1,02 
Nhận xét: Mật độ khoáng xương toàn thân, mật độ khoáng xương từ L1-L4 và xương chậu ở 
nam đều cao hơn ở nữ. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. 
Bảng 3. Tỷ lệ loãng xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 
Đặc điểm 
Loãng xương 
p 
N % 
Chung (n = 151) 47 31,1 
Nam (n = 76) 13 8,6 
< 0,001 
Nữ (n = 75) 34 22,5 
Nhận xét: Tỷ lệ loãng xương chung là 31,1%, trong đó nam là 8,6% và nữ 22,5%. Nguy cơ 
loãng xương của phụ nữ cao gấp 2,96 lần so với nam giới và sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê với p < 0,01. 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
45 
3.3. Mối liên quan giữa BMD với BMI và đề kháng insulin HOMA2-IR 
Biểu đồ 1. Mối liên quan giữa BMD với BMI và đề kháng insulin HOMA2-IR 
Nhận xét: Không có mối tương quan giữa mật độ khoáng của xương với BMI và chỉ số đề 
kháng insulin HOMA2-IR ( p > 0,05). 
Bảng 4. Liên quan giữa mật độ khoáng của xương với thời gian bị bệnh đái tháo đường týp 2 
Đặc điểm thời gian phát hiện bệnh 
BMD (n = 151) g/cm² 
p Tứ phân vị 
25 
Trung 
vị 
Tứ phân 
vị 75 
Thời gian 
phát hiện 
bệnh 
Mới phát hiện bệnh 
(n = 39) 
0,91 1,02 1,13 
0,44 
Đã bị bệnh (n = 112) 0,9 1,01 1,10 
Số năm phát 
hiện bệnh 
Mới phát hiện bệnh 
(n = 39) 
0,91 1,02 1,13 
0,063 Phát hiện bệnh < 5 năm 
(n = 51) 
0,87 0,98 1,08 
Phát hiện bệnh ≥ 5 năm 
(n = 61) 
0,97 1,04 1,12 
Nhận xét: Không có sự khác biệt về mật độ khoáng của xương với thời gian chẩn đoán cũng 
như thời gian phát hiện bệnh ĐTĐ týp 2 (p > 0,05). 
3.4. Mối liên quan giữa BMD với HbA1c 
Bảng 5. Liên quan giữa BMD và HbA1c 
HbA1c (%) 
BMD (n = 151) g/cm² 
p* 
Tứ phân vị 25 Trung vị Tứ phân vị 75 
≥ 7,0 % 
(n = 54) 
0,90 0,98 1,09 
0,006 
< 7,0 % 
(n = 97) 
0,96 1,06 1,13 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
46 
Nhận xét:Có mối liên quan giữa mật độ khoáng của xương với chỉ số HbA1c ở bệnh nhân 
ĐTĐ týp 2 (p < 0,01). Những bệnh nhân ĐTĐ týp 2 mà kiểm soát được glucose máu đạt mục 
tiêu HbA1c < 7,0% thì mật độ khoáng của xương cao hơn bệnh nhân có HbA1c ≥ 7,0%. 
4. BÀN LUẬN 
4.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu 
Như chúng ta đã biết, bệnh đái tháo đường 
type 2 đa số bị ở người có độ tuổi trung niên 
mặc dù ngày nay tỷ lệ mắc bệnh ngày được 
phát hiện sớm hơn rất nhiều. Mặt khác đái 
tháo đường type 2 là một bệnh diễn biến thầm 
lặng, bệnh nhân khi được chẩn đoán thường là 
vô tình xét nghiệm thấy đường máu cao hoặc 
đã có các biến chứng của đái tháo đường rồi 
mới phát hiện ra bệnh do đó thời gian mắc 
bệnh thường kéo dài nhiều năm. Tuổi trung 
bình của nhóm nghiên cứu 62,12 ± 8,99tuổi, 
tuổi thấp nhất là 36 tuổi và người cao nhất là 
81 tuổi. Tuổi trung bình của nghiên cứu 
chúng tôi cũng giống như một số nghiên cứu 
khác trên chủng tộc người Châu Á [6] nhưng 
cao hơn một số nghiên cứu [2] cũng như thấp 
hơn một số nghiên cứu [3]. Sự khác biệt về 
tuổi này có thể do mục đích khác nhau, thiết 
kế khác nhau hay đặc điểm về mô hình bệnh 
tật khác nhau của các nghiên cứu. Về chỉ số 
nhân trắc học của nhóm nghiên cứu, kết quả 
của chúng tôi cho thấy giá trị trung bình BMI 
là 22,96 ± 2,98kg/m2. Không có sự khác biệt 
về tuổi, giới, chỉ số BMI, HbA1c và 
HOMA2-IR của cả hai giới nam và nữ ở 
nghiên cứu của chúng tôi, điều này sẽ hạn chế 
được một số yếu tố nhiễu đảm bảo cho sự so 
sánh kết quả nghiên cứu của hai giới được 
chính xác hơn. 
4.2. Đặc điểm mật độ khoáng xương và 
tỷ lệ loãng xương. 
Cho đến nay đã có nhiều bằng chứng về 
mối liên quan chặt chẽ giữa đái tháo đường và 
loãng xương do bệnh lý phối hợp giữa đái 
tháo đường và loãng xương và các cơ chế 
sinh bệnh học trực tiếp của đái tháo đường 
dẫn đến loãng xương. Một số nghiên cứu xác 
định đái tháo đường là một nguyên nhân hàng 
đầu của sự phát triển bệnh loãng xương hay 
bệnh loãng xương là trầm trọng hơn ở những 
bệnh nhân đái tháo đường và đưa ra ý kiến là 
bệnh loãng xương nên được xem là một trong 
những biến chứng lâu dài của bệnh đái tháo 
đường [2,7,8]. 
Tỷ lệ loãng xương chung ở nghiên cứu này 
là 41,7% trong đó nam là 14,6% thấp hơn nữ 
27,2%, nguy cơ loãng xương của nữ cao hơn 
gấp 2,96 lần nam giới nhưng mật độ khoáng 
xương của nam giới cao hơn nữ giới và có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,01. Điều này được 
giải rằng phụ nữ sau khi mãn kinh do có sự 
thiếu hụt hormon đặc biệt là estrogen nên ở 
phụ nữ có giảm cả về mật độ khoáng xương 
và có tăng tỷ lệ loãng xương hơn nam giới có 
cùng một độ tuổi. 
4.3. Liên quan giữa mật độ xương với 
thời gian chẩn đoán và thời gian phát hiện 
bệnh 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không 
có sự khác biệt về BMD ở hai nhóm mới chẩn 
đoán ĐTĐ và nhóm đã được chẩn đoán ĐTĐ. 
Kết quả này tương tự Nghiên cứu Rotterdam 
ở những bệnh nhân ĐTĐ týp 2, cũng cho thấy 
ở nhóm bệnh nhân đã bị ĐTĐ và nhóm mới 
được chẩn đoán bệnh thì không có sự khác 
biệt về tỷ lệ gãy xương do loãng xương [3]. 
Như vậy, giảm mật độ xương hay tăng 
loãng xương có liên quan với thời gian bị 
bệnh hay không là một vấn đề chưa có cơ chế 
rỏ ràng và cần được theo dõi nghiên cứu sâu 
thêm. 
4.4. Liên quan giữa BMD với HOMA2-
IR và BMI 
Ở bệnh nhân đái tháo đường type 2, một 
số các nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức insulin 
có thể làm một phần trung gian trong liên kết 
tích cực giữa đái tháo đường type 2 và mật độ 
khoáng của xương. Bệnh nhân mắc đái tháo 
đường type 2 thường có dư thừa insulin. Về 
sinh lý, insulin có tác dụng cạnh tranh trên 
xương do tương đồng về cấu trúc của nó với 
IGF-1 bằng cách tương tác với thụ thể IGF-1 
hiển diện trên nguyên bào xương [4]. Con 
đường IGF-1 là tín hiệu rất quan trọng cho tái 
tạo lại xương. Khi nghiên cứu trên cả người 
và chuột có chứng minh một mối liên hệ tích 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
47 
cực giữa IGF-1 và BMD [1,2,3,4]. Từ quan 
điểm này nó có thể đưa ra giả thuyết rằng 
tăng insulin có thể có một tác động có lợi ảnh 
hưởng đến tế bào tạo xương và sự khác biệt 
này bằng cách kích thích các IGF-1 tăng nhận 
tín hiệu đường. 
Một số ảnh hưởng gián tiếp của insulin lên 
quá trình hình thành xương có thể thông qua 
các yếu tố trung gian như amylin, 
osteoprotegerin, hormon steroid và hormon 
hướng sinh dục globulin hormone-binding 
(SHBG) [1]. 
Kết quả từ nghiên cứu chúng tôi chưa cho 
thấy có mối liên quan giữa mật độ khoáng 
xương với chỉ số đề kháng insulin HOMA2-
IR và BMI. Sự khác biệt này có thể liên quan 
đến các phương pháp sử dụng trong nghiên 
cứu như đo mật độ xương bằng siêu âm, bằng 
chụp cộng hưởng từ, bằng chụp cắt lớp vi tinh 
hoặc cách tính chỉ số HOMA của các nghiên 
cứu khác nhau. Mặt khác, các nghiên cứu trên 
có chỉ số BMI đều lớn hơn nghiên cứu của 
chúng tôi, để làm sáng tỏ mối liên quan này 
cần thiết kế nghiên cứu ở đối tượng thừa cân, 
béo phì của người Việt Nam. 
4.5. Liên quan giữa BMD với HbA1c 
Ảnh hưởng của kiểm soát glucose máu đối 
với nguy cơ gãy xương, BMD, và té ngã vẫn 
còn chưa hiểu hết và gây tranh cãi. Một mặt, 
giảm mức HbA1C là một tiêu chuẩn mục tiêu 
của chăm sóc bệnh tiểu đường đã được chứng 
minh là làm giảm các biến chứng vi mạch 
Một số nghiên cứu theo chiều dọc cho thấy 
có sự gia tăng nguy cơ gãy xương với việc 
kiểm soát đường huyết kém. Nghiên cứu lớn 
nhất, dữ liệu ở các trung tâm y tế tại Đài 
Loan, bao gồm 1514 trường hợp gãy khớp 
háng ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 [9]. 
Những người có mức HbA1C cơ bản là 9-
10% (HR = 1,24; 1,02-1,49) và trên 10% 
(HR = 1,32; 1,09-1,58) có tăng tỷ lệ gãy 
xương hông so với bệnh nhân có mức HbA1C 
là 6-7%. Có gặp tỷ lệ gãy khớp háng cao hơn 
ở nhóm tỷ lệ A1C < 6% (HR = 1,19; 0,97-
1,45) so với 6-7%, nhưng sự khác biệt không 
có ý nghĩa thống kê. 
Những người có mức A1C từ 7-8% có 
tăng tỷ lệ gãy xương hông (HR = 1,07; 0,92-
1,25) so với HbA1C 6-7%. Kết quả từ nghiên 
cứu của chúng tôi, mật độ xương ở nhóm 
kiểm soát đường huyết HbA1c < 7,0% đều 
lớn hơn có ý nghĩa (p < 0,01) so với nhóm 
kiểm soát đường huyết HbA1c ≥ 7,0%. 
Như vậy, việc kiểm soát kém đường huyết 
ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 làm giảm 
mật độ xương, do đó sẽ làm tăng nguy cơ 
loãng/gãy xương cho bệnh nhân mặc dù nếu 
kiểm soát tích cực quá sẽ có khả năng xuất 
hiện các cơn hạ đường huyết dẫn đến hậu quả 
rạn hoặc gãy xương do ngã. 
5. KẾT LUẬN 
Mật độ khoáng xương ở bệnh nhân đái 
tháo đường týp 2 nam cao hơn bệnh nhân nữ, 
nhưng ngược lại tỷ lệ loãng xương ở bệnh 
nhân nữ đái tháo đường týp 2 lớn hơn bệnh 
nhân nam. Mặt khác ở những bệnh nhân đái 
tháo đường kiểm soát glucose đạt mục tiêu thì 
có mật độ khoáng xương cao hơn những bệnh 
nhân không kiểm soát được glucose máu. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Toru Yamaguchi and Toshitsugu 
Sugimoto (2011). Bone metabolism and 
fracture risk in type 2 diabetes mellitus. 
Endocrine Journal 2011, 58 (8), 613-624 
2. M. Sert, T. Tetiker, S. Kirim, S. 
Soyupak, A. Canatarog et al(2003). 
Type 2 diabetes mellitus and osteopenia: 
is there an association?. Acta Diabetol 
(2003) 40:105–108 
3. I.I. de Liefde, M. van der Klift, 
C.E.D.H. de Laet et al (2005). Bone 
mineral density and fracture risk in type-2 
diabetes mellitus: the Rotterdam Study.. 
Osteoporos Int (2005) 16: 1713–1720. 
DOI 10.1007/s00198-005-1909-1. 
4. Na Kyung Lee, Hideaki Sowa, Eiichi 
Hinoi, Mathieu Ferron et al ( 2007). 
Endocrine regulation of energy 
metabolism by the skeleton.Cell. 2007. 
August 10; 130(3):456–469 
5. Michał Holecki, Andrzej Więcek 
(2010). Relationship between body fat 
mass and bone metabolism. Pol Arch Med 
Wewn. 2010;120 (9): 361-367. 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
48 
6. Lan T. Ho-Pham, Uyen D. T. Nguyen, 
and Tuan V. Nguyen ( 2014). 
Association Between Lean Mass, Fat 
Mass, and BoneMineral Density: A Meta-
analysis. J Clin Endocrinol Metab, 
January 2014, 99(1):30 –38 doi: 
10.1210/jc.2013-319. 
7. Vestergaard P. (2007), "Discrepancies in 
bone mineral density and fracture risk in 
patients with type 1 and type 2 diabetes—
a meta analysis.", Osteoporos Int, 18, pp. 
427–444. 
8. Bayani Mohammad Ali, Karkhah 
Ahmad, et al. (2016), "The relationship 
between type 2 diabetes mellitus and 
osteoprosis in elderly people: a cross-
sectional study", Int. Biol. Biomed. J 
winter 2016, 2(1), pp. 39-46. 
9. Li C.I., Liu C.S., Lin W.Y., et al. (2015). 
Glycated hemoglobin level and risk of hip 
fracture in older people with type 2 
diabetes: a competing risk analysis of 
Taiwan diabetes cohort study. j Bone 
Miner Res 30(7), pp. 1338-46. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_mat_do_khoang_xuong_va_loang_xuong_o_benh_nhan_da.pdf