Nghiên cứu lợi ích của dây chằng nhân tạo trong sửa van hai lá thoái hóa

Tiền cứu hàng loạt ca các trường hợp lâm

sàng từ năm 2015 đến năm 2018 trên các số liệu

thu thập được từ 27 bệnh nhân được phẫu thuật

sửa van hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo và

khám lại sau phẫu thuật.

Kết quả: Sau 2 năm theo dõi, không có

trường hợp tử vong, và 96,3% không cần mổ lại.

96,3% trường hợp không hở van hai lá tồn lưu

hoặc hở nhẹ; phân suất tống máu tăng sau phẫu

thuật, trung bình là 58.22% sau 1 tháng và 61.3%

sau 3 tháng; 49.1% trường hợp rung nhĩ trước mổ

có nhịp xoang trở lại sau 3 tháng đến 1 năm theo

dõi, trong đó 14,8% trường hợp được phẫu thuật

Maze kết hợp sửa van; vòng van nhân tạo số 28

chiếm 38.3 %, vòng van số 30 chiếm 22.2%, còn

lại là vòng van lớn từ 32, 34, 36

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu lợi ích của dây chằng nhân tạo trong sửa van hai lá thoái hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu lợi ích của dây chằng nhân tạo trong sửa van hai lá thoái hóa

Nghiên cứu lợi ích của dây chằng nhân tạo trong sửa van hai lá thoái hóa
NGHIÊN CỨU LỢI ÍCH CỦA DÂY CHẰNG NHÂN TẠO TRONG SỬA VAN HAI LÁ THOÁI HÓA 
 31 
NGHIÊN CỨU LỢI ÍCH CỦA DÂY CHẰNG NHÂN TẠO TRONG SỬA VAN 
HAI LÁ THOÁI HÓA 
Nguyễn Văn Nghĩa* 
TÓM TẮT 
Tiền cứu hàng loạt ca các trường hợp lâm 
sàng từ năm 2015 đến năm 2018 trên các số liệu 
thu thập được từ 27 bệnh nhân được phẫu thuật 
sửa van hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo và 
khám lại sau phẫu thuật. 
Kết quả: Sau 2 năm theo dõi, không có 
trường hợp tử vong, và 96,3% không cần mổ lại. 
96,3% trường hợp không hở van hai lá tồn lưu 
hoặc hở nhẹ; phân suất tống máu tăng sau phẫu 
thuật, trung bình là 58.22% sau 1 tháng và 61.3% 
sau 3 tháng; 49.1% trường hợp rung nhĩ trước mổ 
có nhịp xoang trở lại sau 3 tháng đến 1 năm theo 
dõi, trong đó 14,8% trường hợp được phẫu thuật 
Maze kết hợp sửa van; vòng van nhân tạo số 28 
chiếm 38.3 %, vòng van số 30 chiếm 22.2%, còn 
lại là vòng van lớn từ 32, 34, 36. 
Kết luận: Sử dụng dây chằng nhân tạo trong 
sửa van hai lá thoái biến mang lại những lợi ích 
lớn cho bệnh nhân. Ưu điểm của phẫu thuật này 
giúp cải thiện chức năng thất trái, tăng phân suất 
tống máu, nhịp xoang trở lại ổn định sau phẫu 
thuật. Nhờ dây chằng nhân tạo, không cắt bỏ mô 
van, giúp đặt được vòng van nhân tạo kích thước 
tối đa phù hợp cho bệnh nhân. 
Từ khóa: Sửa sa van hai lá, Dây chằng 
nhân tạo, Bệnh van tim thoái hóa. 
SUMMARY 
From 2015 to 2018, 27 patients underwent 
mitral valve repair by the technique of applying 
artifitial chordae in the Heart Institute of Ho Chi 
Minh, Vietnam. Valve disease was degenerative in 
most cases. No death after 2 years of follow-up 
overall. Freedom from re-operation at 2 years was 
96.3% ( 1 case of re-operation related to cardiac 
insufficiency. The grades of mitral regurgitation at 
2 years were 96.3% absent or mild, 3.7% 
moderate. ). Good heart function after the repair, 
EF 58.22% at 1 month, and 61.3% at 3 months and 
stable after that; sinus rhythm by 2-year follow-up 
( with 14.8% Maze procedure applied). Ring used 
for most of cases after the valve repair, from size 
of 28 to 36. This study showed strong benefits 
and excellent results of mitral valve repair by 
applying artifitial chordae at 2-year follow-up, 
confirming reliablility and durability of this 
technique for the patients. This showed a good 
solution for mitral regurgitation by safe technique, 
and increase feasibility of mitral valve repair. 
Key word: mitral valve repair, artifitial 
chordae, neo-chord, degenerative disease.1 
 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh hở van hai lá có nhiều nguyên nhân, 
trong đó chủ yếu là thấp tim, bẩm sinh và thoái 
hóa. Đối với trường hợp thoái hóa van, phẫu thuật 
sửa van được đặt lên hàng đầu. 
Trong hơn 30 năm qua, chỉ PTFE 
(polytetrafluoroethylene) hay chỉ Gore-tex được 
sử dụng làm dây chằng nhân tạo, sử dụng trong 
sửa van hai lá đã có nhiều công trình nghiên cứu 
của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới, đã 
khẳng định sự ưu việt và lợi ích của phương pháp 
này đối với bệnh nhân hở van hai lá. Tuy nhiên, 
các công trình nghiên cứu về sửa van hai lá tại 
Châu Á còn tương đối hạn chế. Tại Việt Nam, 
phẫu thuật van tim cũng có bề dày phát triển đáng 
kể. Mặc dù vậy, những nghiên cứu về sửa van hai 
lá sử dụng dây chằng nhân tạo chưa được thực 
hiện nhiều. Chính vì điều này, chúng tôi đã tiến 
hành nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân Việt Nam 
* Khoa phẫu thuật – Viện Tim TP.HCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Nguyễn Văn Nghĩa 
Ngày nhận bài: 02/08/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 04/09/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 32 
tại Viện Tim TP. Hồ Chí Minh nhằm xác định lợi 
ích của phương pháp này trong điều trị ngoại 
khoa bệnh hở van hai lá ở Việt Nam. 
Mục tiêu nghiên cứu 
- Đánh giá lợi ích của việc bảo tồn mô van 
khi sử dụng dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật 
sửa sa van hai lá. 
- Xác định tỉ lệ hở van hai lá tồn lưu và các 
biến chứng sau phẫu thuật 
II. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 
2.1.1. Dân số nghiên cứu: 
Tất cả bệnh nhân được phẫu thuật sửa sa van 
hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo tại Viện Tim 
Tp.HCM trong thời gian từ năm 2015 đến 2018. 
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh 
Tất cả bệnh nhân được phẫu thuật sửa van 
hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo trong thời gian 
từ năm 2015 đến 2018. 
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ 
Bệnh nhân hở van hai lá được thay van 
nhân tạo. 
Bệnh nhân sửa van hai lá nhưng dùng các 
phương pháp khác với dây chằng nhân tạo. 
Bệnh nhân hở van hai lá trong bệnh lý 
nhiều van phối hợp. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Tiền cứu hàng 
loạt ca. 
2.2.2. Thu thập số liệu 
Dựa vào bệnh án mẫu, số liệu được thu thập 
tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh. 
2.2.3. Phân tích và xử lý số liệu 
Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống 
kê, có hỗ trợ bằng phần mềm SPSS 16.0. Phân 
tích tổng hợp các dữ kiện lâm sàng, các phương 
pháp mổ, kết quả phẫu thuật, các biến chứng sau 
khi mổ. 
2.2.4. Phương pháp tiến hành: 
Xác định chiều dài dây chằng nhân tạo và 
kỹ thuật đặt dây chằng. Nghiên cứu này áp dụng 
phương pháp đặt dây chằng nhân tạo của tác giả 
Nguyễn Văn Phan: 
Bước 1: Xác định vị trí sa van hai lá 
Bước 2: Chọn vị trí van bình thường (kế bên 
vùng sa van), gắn chỉ 5.0 qua lá trước và lá sau 
Bước 3: Khâu chỉ PTFE từ cơ nhú lên vùng 
lá van bị sa. 
Bước 4: Chỉ 5.0 căng lên để làm chiều dài 
chuẩn. 
Bước 5: Cột chỉ PTFE ngang mức chiều dài 
chuẩn 
Bước 6: Cột chỉ một lần nữa ở mặt dưới lá van 
Bước 7: Bơm nước muối sinh lý vào Thất 
trái để kiểm tra 
2.2.5. Theo dõi ngắn hạn: 
* Sau mổ từ 1 đến 7 ngày, theo dõi các biến 
chứng phẫu thuật: Chảy máu, đau sau mổ, siêu 
âm tim. 
* Từ 7 ngày sau mổ – 3 tháng sau mổ: siêu 
âm tim kiểm tra độ hở van 2 lá tồn lưu. 
2.2.6. Theo dõi trung hạn: Siêu âm tim 
kiểm tra sau mổ 6 tháng – 1 năm 
III. KẾT QUẢ 
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 
Nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới (63% 
so với 37%). Tuổi trung bình là 51.67 (tuổi), lớn 
nhất là 77 tuổi, thấp nhất là 30 tuổi. 
NGHIÊN CỨU LỢI ÍCH CỦA DÂY CHẰNG NHÂN TẠO TRONG SỬA VAN HAI LÁ THOÁI HÓA 
 33 
Bảng 1. Phân bố vùng lá van sử dụng dây chằng: Đây là vị trí vùng van được sử dụng 
dây chằng nhân tạo ePTFE. 
Dây chằng Tần số Tỷ lệ (%) 
A1 1 3.7 
A2 17 63.0 
A3 1 3.7 
P1 1 3.7 
P2 6 22.2 
P3 1 3.7 
51.9
22.2
11.1
7.4 7.4
0
10
20
30
40
50
60
Nhịp xoang Rung nhĩ 3-6
tháng 
Rung nhĩ 6 tháng -
1 năm 
Rung nhĩ 1-2 năm Rung nhĩ < 2 năm 
Biểu đồ 1: Tỉ lệ rung nhĩ trước mổ 
Bảng 2. Theo dõi rung nhĩ sau mổ 
Rung nhĩ Tần số Tỷ lệ (%) 
Còn 12 44.4 
Không 15 55.6 
Tổng 27 100 
Bảng 3. Hở van 2 lá tồn lưu theo dõi sau mổ 
Tồn lưu Tần số Tỷ lệ (%) 
Hở nhẹ 6 22.2 
Không 21 77.8 
Tổng 27 100 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 34 
Bảng 4. Biến chứng sớm 
Biến chứng Tần số Tỷ lệ (%) 
Nhiễm trùng 1 3.7 
Chảy máu 2 7.4 
Rối loạn nhịp 2 7.4 
Tổng 27 100 
Bảng 5. Kích thước vòng van nhân tạo sử dụng 
Vòng van nhân tạo Tần số Tỷ lệ (%) 
28 9 33.3 
30 6 22.2 
32 4 14.8 
34 4 14.8 
36 4 14.8 
Tổng 27 100 
3.2. Theo dõi sau mổ: 
Kết quả siêu âm tim kiểm tra sau phẫu thuật 
ghi nhận 6 trường hợp hở van hai lá tồn lưu mức 
độ nhẹ, không có tắc nghẽn đường ra thất trái ( 
SAM ), kể cả theo dõi ở những lần bệnh nhân tái 
khám. Không thuyên tắc do huyết khối hoặc viêm 
nội tâm mạc nhiễm trùng. 
Ngoài ra, ghi nhận tràn dịch màng tim 
chiếm 2/27 trường hợp, được dẫn lưu. Tất cả 
bệnh nhân tái khám đều. Không có trường hợp tử 
vong sau phẫu thuật. 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Dây chằng nhân tạo giúp bảo tồn mô 
van mang tính hiệu quả cao. Xử trí được những 
thương tổn phức tạp, nhiều thành phần. 
Chỉ ePTFE được gắn vào lá van để thay 
thế cho các dây chằng bị hư. 
 Dây chằng nhân tạo được gắn vào phần lá 
trước chiếm 70.4%, riêng A2 chiếm nhiều nhất 
63%; phần lá sau chiếm 29.6%, trong đó, P2 
chiếm 22.2%. Đây là những tổn thương diện rộng 
trên van hai lá, nếu áp dụng những kỹ thuật cổ 
điển để sửa van sẽ làm mất nhiều mô van, ảnh 
hưởng lớn đến hình thái và chức năng của tim sau 
phẫu thuật. Ngoài ra, những kỹ thuật cổ điển trên 
không dễ để thực hiện, cần có phẫu thuật viên có 
nhiều kinh nghiệm trong sửa van hai lá. Tuy 
nhiên, kỹ thuật sửa van với dây chằng nhân tạo có 
thể thay thế được những kỹ thuật trên, và sửa 
chữa hiệu quả với sa van hai lá diện rộng.[2] 
4.2. Dây chằng nhân tạo mang tính linh hoạt 
Dây chằng nhân tạo mang tính linh hoạt 
bởi: số lượng dây chằng tạo và chiều dài dây 
chằng nhân tạo có thể thay đổi tùy thuộc vào 
thương tổn khác nhau. Trong nghiên cứu, chúng 
tôi sử dụng dây chằng nhân tạo bằng chỉ 
Polytetraflouroethylene 3-0, 4-0 hoặc 5-0, có độ 
linh hoạt, độ bền cao đã được chứng thực qua 
nhiều nghiên cứu của các tác giả Braunberger E, 
Chauvaud S [4]. 
Nghiên cứu của tác giả Toshiko Shibata sửa 
van hai lá dùng dây chằng nhân tạo đa vòng qua 
đường mở giữa xương ức trên 180 bệnh nhân có 
kết quả: số vòng lặp trung bình sử dụng cho lá 
trước là 2 vòng lặp, lá sau là 2 vòng lặp và cả hai 
NGHIÊN CỨU LỢI ÍCH CỦA DÂY CHẰNG NHÂN TẠO TRONG SỬA VAN HAI LÁ THOÁI HÓA 
 35 
lá trước sau là 3 vòng lặp; Chiều dài dây chằng 
trung bình ở lá trước là 18mm, lá sau là 17mm, cả 
hai lá là 18mm[10]. 
Một nghiên cứu khác của tác giả Hiroki 
Hata nghiên cứu trên 224 bệnh nhân sử dụng dây 
chằng nhân tạo đơn sợi sửa van hai lá. Kết quả số 
dây chằng sử dụng trung bình là 3.7 dây 
chằng/bệnh nhân, trường hợp nhỏ nhất là 2 dây 
chằng và nhiều nhất là 12 dây chằng.[6] 
Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận, 
chiều dài cho dây chằng nhân tạo lá sau thường từ 
16-18mm, và chiều dài cho dây chằng lá trước 
thường từ 20-22mm. 
4.3. Đặt vòng van hai lá 
 Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các 
trường hợp đều được đặt vòng van nhân tạo sau 
khi sửa van hai lá. Các kích thước vòng van được 
sử dụng từ 28 đến 36, trong đó nhiều nhất là 28, 
chiếm 33.3%. Trong nghiên cứu 224 trường hợp 
của tác giả Hiroki Hata, 81.7% bệnh nhân được đặt 
vòng van nhân tạo. Toshihiko Shibata nghiên cứu 
180 trường hợp, 100% đặt vòng van nhân tạo.[10] 
4.4. Biến chứng và hở van hai lá tồn lưu 
Theo báo cáo của trung tâm phẫu thuật 
Mayo Cinic và báo cáo của hiệp hội phẫu thuật 
lồng ngực (STS năm 2009), tỉ lệ tử vong tại viện 
sau phẫu thuật sửa van hai lá từ 1-2.6% [7]. 
Những biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật: 
hở van hai lá tồn lưu ngay sau phẫu thuật 3-4.5% 
[8]; tắc nghẽn đường ra thất trái từ 5-10% [8] ; 
thuyên tắc do huyết khối và viêm nội tâm mạc 
hiễm trùng rất hiếm. 85-95% không phải phẫu 
thuật lại van hai lá sau 10 năm, 20 năm [5]. 
Biến chứng 
Nghiên cứu Tràn dịch 
màng tim 
Tràn dịch 
màng phổi 
Rối loạn 
nhịp nặng 
Dẫn 
lưu 
Tử vong 
Nguyễn Văn Phan (2014)[3] 22.22% 7.41% 12.96% 3.72% 1.75% 
Tirone E. David (2013) [5] 0.85% 
Chúng tôi 3.7% 3.7% 7.4% 3.7% 0% 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, biến 
chứng sớm sau phẫu thuật: tràn dịch màng tim là 
3.7%; rối loạn nhịp nặng là 7.4%. Tỉ lệ tràn dịch 
màng tim trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn 
của tác giả Nguyễn văn Phan do thời gian khảo 
sát chúng tôi ngắn. Không có tỉ lệ tử vong sau 
phẫu thuật. Suy tim mất bù, chức năng co bóp cơ 
tim thấp dưới 40%, suy đa tạng sau phẫu thuật là 
những nguyên nhân làm cho tỉ lệ tử vong của các 
nghiên cứu khác cao hơn chúng tôi. 
V. KẾT LUẬN 
Trong thời gian từ 2015 đến 2018, các trường 
hợp bệnh nhân hở van hai lá do thoái hóa được 
phẫu thuật sửa van hai lá có sử dụng dây chằng 
nhân tạo. Qua quá trình điều trị và theo dõi bệnh 
nhân, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: 
Những lợi ích của phẫu thuật gắn dây chằng 
nhân tạo trong sửa van hai lá thoái hóa mang lại 
cho bệnh nhân một phương thức điều trị an toàn 
và hiệu quả mà không cần cắt bỏ mô van hai lá. 
Qua theo dõi sau phẫu thuật, gần như van hai lá 
hoàn toàn không hở hoặc hở nhẹ, kích thước 
buồng tim nhỏ lại (đường kính cuối tâm trương 
và tâm thu thất trái giảm có ý nghĩa). Không có tử 
vong sớm và muộn qua theo dõi, thời gian thở 
máy và thời gian hồi sức ngắn. 
Dây chằng nhân tạo được ứng dụng trong 
phẫu thuật sửa van hai lá mang lại tính hiệu quả, 
linh hoạt, tiện lợi và dễ sử dụng. 
KIẾN NGHỊ 
Phẫu thuật sửa sa van hai lá sử dụng dây 
chằng nhân tạo cần được nghiên cứu theo dõi lâu 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 36 
dài hơn để đánh giá đầy đủ về bệnh lý này, và có 
những kết luận về lâu dài. 
Ngoài siêu âm tim qua thành ngực, siêu âm 
tim qua thực quản [1] giúp đánh giá trước và sau 
phẫu thuật rất quan trọng trong phẫu thuật cho tất 
cả các trường hợp sửa van hai lá để đánh giá 
chính xác thương tổn van hai lá.[1] 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Phạm Nguyễn Vinh (2008), "Hở van hai 
lá". Siêu Âm Tim và Bệnh Lý Tim Mạch, Nhà Xuất 
Bản Y Học, Thành Phố Hồ Chí Minh, pp. 63-84. 
2. Ngô Chí Hiếu, Đỗ Doãn Lợi (2013), 
"Nghiên cứu sự thay đổi huyết động, hình thái 
chức năng thất trái sau phẫu thuật sa van hai lá tại 
bệnh viện Tim Hà nội". Tạp Chí Y Học Thực 
Hành, 4, pp. 29-33. 
3. Nguyễn Văn Phan (2014), "Kết quả phẫu 
thuật sửa van hai lá trong bệnh Barlow tại viện tim 
TP.HCM từ 1994 đến 2012". Tạp chí Phẫu thuật 
tim mạch và lồng ngực Việt Nam, 6, pp. 17-23. 
4. Chauvaud S et al (2001), "Long-term (29 
years) results of reconstructive surgery in 
rheumatic mitral valve insufficiency". 
Circulation, 104 (12 Suppl 1), pp. I12-5. 
5. David T. E et al (2013), "Chordal 
replacement with polytetrafluoroethylene sutures 
for mitral valve repair: a 25-year experience". J 
Thorac Cardiovasc Surg, 145 (6), pp. 1563-9. 
6. Hata H, Fujita T et al (2015), "A 25-year 
study of chordal replacement with expanded 
polytetrafluoroethylene in mitral valve 
repairdagger". Interact Cardiovasc Thorac Surg, 
20 (4), pp. 463-8; discussion 468. 
7. Kitahara H, Murata M (2016), 
"Preservation of Mobility of the Posterior Mitral 
Leaflet After Mitral Valve Repair With 
Neochordae Using Loop Technique". Circ J, 80 
(3), pp. 663-7. 
8. Morris J. D, Penner D. A, Brandt R. L 
(1964), "Surgical Correction of Ruptured 
Chordae Tendineae". J Thorac Cardiovasc Surg, 
48, pp. 772-80. 
9. Ragnarsson S, Sjogren J (2014), 
"Polytetrafluoroethylene neochordae is 
noninferior to leaflet resection in repair of 
isolated posterior mitral leaflet prolapse: a 
multicentre study". Interact Cardiovasc Thorac 
Surg, 19 (4), pp. 577-83. 
10. Shibata T, Kato Y (2015), "Mitral 
valve repair with loop technique via median 
sternotomy in 180 patients". Eur J Cardiothorac 
Surg, 47 (3), pp. 491-6. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_loi_ich_cua_day_chang_nhan_tao_trong_sua_van_hai.pdf