Nghiên cứu kết quả phẫu thuật hẹp đường ra thất phải

Mở đầu & Mục tiêu: Đánh giá kết quả ngắn hạn và trung hạn của phẫu thuật mở rộng đường ra thất phải tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh; Xác định tỷ lệ hẹp tồn lưu, tái hẹp; Xác định tỷ lệ bảo tồn van và vòng van ĐMP.

Phương pháp: Hồi cứu hàng loạt các trường hợp lâm sàng từ 1992 đến 2009 trên các số liệu thu thập được từ 181 bệnh nhân được phẫu thuật hẹp đường ra thất phải và khám lại.

Kết quả: Theo dõi ngắn hạn và trung hạn: Tỷ lệ tử vong bệnh viện thấp 3,3%; chảy máu 2,2%; nhiễm trùng 2,2%; không có trường hợp nào tái hẹp phải mổ lại; chênh áp TP – ĐMP sau mổ giảm, trung bình 33,29 mmHg. Tỷ lệ bảo tồn van và vòng van ĐMP: 1,6% cắt van, còn lại xẻ mép van; đối với hẹp vòng van và hẹp phễu thất phải: 19,89% trường hợp xẻ vòng van.

Kết luận: Phẫu thuật mở rộng đường ra thất phải cho kết quả tốt, ít biến chứng, chênh áp TP - ĐMP sau mổ thấp tương ứng với đánh giá của nhiều tác giả khác. Tuy nhiên, còn cần nghiên cứu theo dõi lâu dài hơn để đánh giá đầy đủ về bệnh lý này

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu kết quả phẫu thuật hẹp đường ra thất phải", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu kết quả phẫu thuật hẹp đường ra thất phải

Nghiên cứu kết quả phẫu thuật hẹp đường ra thất phải
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ PHẪU THUẬT HẸP ĐƯỜNG RA THẤT PHẢI 
 33
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ PHẪU THUẬT HẸP ĐƯỜNG RA THẤT PHẢI 
 Nguyễn Văn Phan* 
Tóm tắt: 
Mở đầu & Mục tiêu: Đánh giá kết quả ngắn 
hạn và trung hạn của phẫu thuật mở rộng đường 
ra thất phải tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh; 
Xác định tỷ lệ hẹp tồn lưu, tái hẹp; Xác định tỷ lệ 
bảo tồn van và vòng van ĐMP. 
Phương pháp: Hồi cứu hàng loạt các trường 
hợp lâm sàng từ 1992 đến 2009 trên các số liệu 
thu thập được từ 181 bệnh nhân được phẫu thuật 
hẹp đường ra thất phải và khám lại. 
Kết quả: Theo dõi ngắn hạn và trung hạn: Tỷ 
lệ tử vong bệnh viện thấp 3,3%; chảy máu 2,2%; 
nhiễm trùng 2,2%; không có trường hợp nào tái 
hẹp phải mổ lại; chênh áp TP – ĐMP sau mổ 
giảm, trung bình 33,29 mmHg. Tỷ lệ bảo tồn van 
và vòng van ĐMP: 1,6% cắt van, còn lại xẻ mép 
van; đối với hẹp vòng van và hẹp phễu thất phải: 
19,89% trường hợp xẻ vòng van. 
Kết luận: Phẫu thuật mở rộng đường ra thất 
phải cho kết quả tốt, ít biến chứng, chênh áp TP - 
ĐMP sau mổ thấp tương ứng với đánh giá của 
nhiều tác giả khác. Tuy nhiên, còn cần nghiên cứu 
theo dõi lâu dài hơn để đánh giá đầy đủ về bệnh 
lý này. 
Từ khóa: Hẹp van động mạch phổi, Hẹp 
đường ra thất phải. 
SURGICAL TREATMENT FOR RIGHT 
VENTRICLE OUT TRACT STENOSIS 
- This study was carried out to evaluate the 
immidiate results and mid-term results of surgical 
treatment for right ventricle out tract stenosis at 
Heart Institute - Ho chi Minh city. The incidence 
of persistence stenosis, re-stenosis and incidence 
of pulmonary valve and pulmonary annulus 
preservation. 
- Methods: retrospective study was performed. 
181 patients were operated from 1992 to 2009 
- Results: Immediate results and mid-term 
results showed low hospital mortality (3,3%), 
haemorrage 2,2%, infection 2,2%, no re-stenosis, 
mean pulmonary artery-right ventricle gradient 
was 33,29 mmHg. 19,89% pulmonary valve and 
pulmonary annulus preservation. 
Conclusion: Good results, low complications, 
low pulmonary artery-right ventricle gradient. 
However, we need longterm follow-up for this 
pathology. 
ĐẶT VẤN ĐỀ * 
Hẹp đường ra thất phải (HĐRTP) là một bệnh 
tim bẩm sinh khá phổ biến, do hẹp ở một trong 
các vị trí: vùng phễu thất phải, vòng van động 
mạch phổi, lá van, hoặc thân và nhánh động mạch 
phổi. Bệnh có tần suất từ 8%-12% trong số bệnh 
tim bẩm sinh, xếp thứ hai trong các dị tật tim bẩm 
sinh có vách liên thất bình thường. 
Tổn thương tại van động mạch phổi (VĐMP) 
chiếm 85-90%, gồm hai loại là dính mép van và 
loạn sản mô van. 
Bệnh có thể được phát hiện ở lứa tuổi trẻ sơ 
sinh cho đến ở người lớn. Ở Việt Nam, nhiều 
trường hợp HĐRTP được chẩn đoán ở giai đoạn 
muộn khi bệnh đã diễn tiến nặng với dấu hiệu 
tím, suy tim toàn bộ. Trường hợp không được 
điều trị bênh nhân sẽ tử vong do hạ Oxy máu, đặc 
biệt là ở trẻ sơ sinh sau khi ống động mạch bít lại. 
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 
1. Đánh giá kết quả ngắn hạn và trung hạn 
của phẫu thuật mở rộng đường ra thất phải. 
2. Xác định tỷ lệ bảo tồn van và vòng van 
ĐMP. 
3. Xác định tỷ lệ hẹp tồn lưu, tái hẹp. 
* Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh 
Người chịu trách nhiệm khoa học:TS Nguyễn Văn Phan 
Ngày nhận bài: 15/01/2014 - Ngày Cho Phép Đăng: 17/02/2014 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Đặng Hanh Đệ 
 PGS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 34
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 
hàng loạt các trường hợp lâm sàng. 
Đối tượng nghiên cứu 
Dân số nghiên cứu: Tất cả các trường hợp 
bệnh nhân có hẹp đường ra thất phải được phẫu 
thuật tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh từ 
năm 1992 đến cuối tháng 3 năm 2009. 
Dân số chọn mẫu: Những bệnh nhân hẹp 
đường ra thất phải có độ chênh áp tâm thu tối đa 
giữa thất phải và ĐMP ≥50mmHg. 
Tiêu chuẩn loại trừ: 
• Các bệnh nhân đã được phẫu thuật thì đầu 
bằng các phương pháp khác (Blalock Taussig 
shunt), hoặc nong van ĐMP bằng bóng qua thông 
tim can thiệp. 
• Các bệnh lý HĐRTP có kèm theo Thông 
liên thất (Tứ chứng Fallot, TLT có Hẹp van 
ĐMP,..). 
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 
Thời gian: Bắt đầu nghiên cứu từ tháng 
04/2009 đã kết thúc vào tháng 01/2010. Cỡ mẫu 
thu thập được 181 trường hợp. 
Địa điểm: Tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh 
Phương pháp tiến hành 
• Máy siêu âm tim dùng trong nghiên cứu: 
Loại máy Philips HD7. 
• Siêu âm tim đo chênh áp tâm thu tối đa 
giữa thất phải và ĐMP: Sử dụng siêu âm 
Doppler, mặt cắt cạnh ức trục ngang qua gốc 
động mạch chủ. 
• Kích thước vòng van và các nhánh ĐMP 
đo trên siêu âm: Sử dụng siêu âm 2D, mặt cắt 
cạnh ức trục ngang qua gốc động mạch chủ ở thời 
kỳ tâm trương. 
• Phương pháp mổ: mở ngực theo đường 
giữa, mở màng ngoài tim tiếp cận thương tổn. 
• Trước khi ngưng tim: Đo chênh áp tâm thu 
tối đa giữa thất phải và ĐMP trực tiếp bằng phương 
pháp đâm kim trực tiếp vào thất phải và ĐMP. 
Công thức: Chênh áp TP–ĐMP = áp lực thất 
phải – áp lực ĐMP (mmHg). 
• Khi tim ngưng đập: Đo kích thước vòng 
van và các nhánh ĐMP trực tiếp: Dùng dụng cụ 
Hegar, chọn kích cỡ dụng cụ Hegar theo cân nặng 
bệnh nhân. 
• Khi tim đập lại: 
* Sử dụng dụng cụ Hegar đo kích thước vòng 
van, nhánh ĐMP và phễu thất phải sau mổ 
* Đo chênh áp TP-ĐMP trực tiếp sau mổ. 
Hiệu quả mở rộng ĐRTP theo tiêu chuẩn của 
Hiệp hội tim mạch Alain Carpentier (Pháp): 
< 15mmHg : Rất tốt 
15 - < 30 mmHg: Tốt 
30 - < 50 mmHg: Trung bình 
≥ 50 mmHg : Không tốt 
• Theo dõi ngắn hạn: 
* Sau mổ từ 1 đến 7 ngày, theo dõi các biến 
chứng phẫu thuật: Chảy máu, đau sau mổ. 
* Từ 7 ngày sau mổ – 3 tháng sau mổ: siêu 
âm tim kiểm tra độ chênh áp TP-ĐMP, kích 
thước vòng van, nhánh ĐMP và phễu thất phải, 
hở van ĐMP. 
• Theo dõi trung hạn: Siêu âmtim kiểm tra 
sau mổ 6 tháng – 1 năm 
* Các thông số nghiên cứu gồm: Chênh áp 
tâm thu tối đa (CATTTĐ) giữa thất phải và động 
mạch phổi = áp lực thất phải – áp lực ĐMP; kích 
thước vòng van, nhánh ĐMP và phễu thất phải; 
hở van ĐMP. 
Xử lý thống kê số liệu: Số liệu được nhập vào 
máy vi tính, xử lý và phân tích bằng phần mềm 
thống kê SPSS 16.0. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tuổi trung 
bình là 10,92 ± 9,94 (tuổi), lớn nhất là 49 tuổi, 
thấp nhất là 4 tháng tuổi. 
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ PHẪU THUẬT HẸP ĐƯỜNG RA THẤT PHẢI 
 35
Biểu đồ 1: Đặc điểm nhóm tuổi 
3.9%
27.1%27.1%
16%
10.5%
3.9% 3.9%
7.7%
0
5
10
15
20
25
30
< 1t 1-4t 5-9t 10-
14t
15-
19t
20-
24t
25-
29t
≥ 30t 
Nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ (57,5% so với 
47,2%). 64,6% bệnh nhân đến viện có triệu chứng 
lâm sàng, 35,4% được chẩn đoán bệnh khi đi khám 
sức khỏe. 
Bảng 1: Chênh áp TTTĐ TP-ĐMP theo nhóm tuổi 
CATTTĐ TP-ĐMP 
(mmHg) Nhóm tuổi 
< 80 ≥ 80 
Tổng 
< 2 1 (6.3) 15 (93.8) 16 (100) 
≥ 2 50 (30.3) 115 (69.7) 165 (100) 
Tổng 51 (28.2) 130 (71.8) 181 (100) 
p = 0.041 (Phép kiểm Fisher). 
Sự khác biệt về CATTTĐ TP-ĐMP ở nhóm < 2 
tuổi và nhóm ≥ 2 tuổi có ý nghĩa thống kê (P=0,041). 
Bảng 2: T test bắt cặp đánh giá độ chính xác 
của siêu âm: 
 Kích thước vòng van ĐMP 
(trung bình ± độ lệch chuẩn) 
Siêu âm 15.21 ± 4.72 
Đo trong mổ 15.47 ± 3.61 
P = 0.208 
Cho thấy không khác biệt giữa đo đường kính 
vòng van ĐMP qua siêu âm trước mổ so với đo trực 
tiếp trong mổ (P = 0.208). 
Kết quả siêu âm tim trước mổ: Chênh áp tâm thu tối 
đa giữa thất phải – ĐMP trung bình là 103.02 ± 35.09 
(mmHg), thấp nhất 50 mmHg, cao nhất 200 mmHg. 
Bảng 3: Thương tổn ghi nhận trước mổ 
Hẹp van ĐMP đơn thuần 125 (69.1%) 
Hẹp vòng van ĐMP 29 (16.0%) 
Hẹp phễu TP 20 (11.0%) 
Hẹp van ĐMP + Hẹp vòng van + 
Hẹp phễu 7 (3.9%) 
Bảng 4: Các phương pháp mổ 
Phương pháp Tần số Tỷ lệ %
Mảnh vá xuyên vòng van 36 19,89 
Mảnh vá vùng phễu 10 5.52 
Cắt cơ bè, bảo tồn vòng van 50 27.62 
Cắt van 21 11.60 
Xẻ mép van 64 35.37 
Tổng cộng 181 100.0 
Bảng 5: Kết quả siêu âm sau mổ 10 ngày 
CATTTĐ TP-ĐMP sau mổ 10 ngày Chênh áp 
trước phẫu 
thuật 
(mmHg) 
n Rất tốt
≤ 15 
Tốt 
15 – 30 
Trung 
bình 
30 – 50 
Không 
tốt 
> 50 
< 80 
51 
(100)
12 
(23.5) 
26 
(51.0) 
8 
(15.7) 
5 
(9.8) 
≥ 80 130 (100)
32 
(24.6) 
46 
(35.4) 
26 
(20.0) 
26 
(20.0) 
p = 0.184 
Không có sự liên quan giữa độ chênh áp TP-ĐMP 
trước mổ với kết quả chênh áp tồn lưu sau mổ 
(p = 0.184). 
Nhóm bệnh nhân có chênh áp cao trước mổ đạt 
kết quả tốt và rất tốt sau mổ chiếm tỷ lệ cao. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 36
Bảng 6: Sự cải thiện chênh áp sau phẫu thuật 
Sau phẫu thuật 
Chênh áp (mmHg) Trước phẫu thuật 
3 tháng 1 năm 
< 40 0 162 (89.5) 174 (96.1) 
40 - < 80 51 (28.2) 
18 
(9.9) 
7 (3.9) 
≥ 80 130 (28.2) 1(0.6) 0 
Trung bình 103.02 ± 35.09 23.33 ± 13.92 14.95 ± 10.66 
T test 29.90 31.36 
p < 0.001 < 0.001 
Sự cải thiện chênh áp TP-ĐMP sau mổ 3 tháng và 1 năm ở các nhóm bệnh nhân hẹp đường ra thất phải khác 
nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,001). 
Bảng 7. So sánh tỷ lệ tử vong sớm 
Tác giả Tỷ lệ tử vong 
Lê Ngọc Thành 3,8% 
Hanley 10% 
J.W. Kirlin 4,3% 
Chúng tôi 3,3% 
BÀN LUẬN 
1. Tỷ lệ bảo tồn Van và Vòng van ĐMP: 
Trong số 125/181 TH hẹp tại van ĐMP, thì có 21 
TH (1,60%) cắt bỏ van, các TH còn lại là xẻ mép van. 
Trong 56 TH liên quan đến hẹp Vòng van, và 
phễu TP, có 20 TH giữ lại vòng van, và 36 (20%) TH 
không bảo tồn vòng van phải dùng mảnh ghép xuyên 
vòng van để mở rộng đường thoát thất phải và phần 
lớn các trường hợp đều được tạo hình van ĐMP. 
Kirklin đã thực hiện các phương pháp mổ như sau: 
33% bảo tồn vòng van (14 % hẹp van và 19% hẹp 
phễu thất phải); 67% không bảo tồn vòng van (hẹp 
van và phễu thất phải) và không thực hiện việc tạo 
hình van ĐMP. 
Rowlatt kết luận: không dùng mảnh vá màng 
ngoài tim để mở rộng ĐRTP đối với trẻ sơ sinh vì đa 
số trường hợp ở trẻ sơ sinh cần phải được phẫu thuật 
lần thứ hai. Thời điểm mổ lần hai thường phải chọn 
lúc trẻ < 3 tuổi. 
So với kết quả siêu âm trước mổ, những ghi nhận 
trong mổ cho thấy có sự khác nhau và cần đánh giá kỹ 
một lần nữa trước khi chọn phương pháp phẫu thuật. 
Việc bảo tồn van ĐMP và vòng van ĐMP giúp cải 
thiện chức năng thất phải sau phẫu thuật. 
2. Kết quả ngắn hạn và trung hạn: 
Kết quả trước mắt được đánh giá dựa trên sự thay 
đổi về huyết động đo trên SA Doppler. CATTTĐ giữa 
TP-ĐMP trước và sau mở van cải thiện rõ (trước mổ 
trung bình là 103.02mmHg, sau mổ 10 ngày là 
33.29mmHg). Khi so sánh chỉ số CATTTĐ giữa TP-
ĐMP trước mổ và sau mổ, cho thấy không có sự liên 
quan giữa độ chênh áp giữa thất phải và ĐMP trước 
mổ với kết quả chênh áp sau mổ (χ2 = 4.844, p = 
0.184). Dựa trên chỉ số CATTTĐ giữa TP-ĐMP, kết 
quả tốt và rất tốt sau mổ 10 ngày là 64.09%, không tốt 
là 17,13% và trung bình là 18,78%. 
Sau mổ, CATTTĐ TP-ĐMP tiếp tục cải thiện, có lẽ 
do thời gian kiểm tra sau mổ ngắn, co bóp của tim phải 
còn đang trong quá trình ổn định và phục hồi. Mặt khác, 
hầu hết số bệnh nhân của chúng tôi nằm trong nhóm hẹp 
nặng và rất nặng, tuổi mổ trung bình cao và dầy thất phải 
thứ phát gặp ở hầu hết các bệnh nhân. 
Hiếm khi có triệu chứng suy tim. Có 171 bệnh nhân 
của chúng tôi (64,6%) đến viện do khó thở, mệt tim gắng 
sức. Tỷ lệ triệu chứng này lần lượt là 25,7% và 74% ở 
nhóm HĐRTP nặng và rất nặng. Phép kiểm chi bình 
phương cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê 
với p < 0,05 đối với triệu chứng tím, khó thở. 
Có 4 trường hợp chảy máu, chiếm 2,2% được xử 
trí kịp thời. Trong đó, có một bệnh nhân lớn tuổi (35 
tuổi), còn lại là trẻ nhỏ. Tuy nhiên, các bệnh nhân này 
trước mổ có hẹp ĐMP mức độ trung bình, thời gian 
mổ ngắn, không dùng những chế phẩm máu trong lúc 
mổ. Tỷ lệ chảy máu sau mổ theo tác giả Lê Ngọc 
Thành là 1,9%. 
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ PHẪU THUẬT HẸP ĐƯỜNG RA THẤT PHẢI 
 37
Nhiễm trùng xảy ra ở 4 trường hợp (chiếm 2,2%), 
đây là những bệnh nhân được đánh giá nặng trước mổ 
và có làm thẩm phân phúc mạc sau mổ. Không có 
trường hợp nào tràn dịch màng tim, tràn dịch màng 
phổi, hoặc viêm xương ức sau mổ. 
Tỷ lệ tử vong bệnh viện của chúng tôi là 6/181TH 
(chiếm 3,3%). Trong đó, 2 trường hợp tử vong do 
nguyên nhân nhiễm trùng huyết, 4 trường hợp còn lại 
do suy tim nặng không hồi phục. Trong 6 TH này, có 
2 bệnh nhi dưới 1 tuổi có chênh áp TP-ĐMP 
>120mmHg, phải mổ cấp cứu vì lên cơn tím, huyết 
động không ổn định. 2 TH 5 tuổi, và 2TH người lớn 
đều có chênh áp TP-ĐMP nặng > 100mmHg. 
Theo các tài liệu các nghiên cứu trên thế giới, tử 
vong xảy ra sau khi mở van ĐMP, giải phóng đường 
thoát TP là do tình trạng suy TP, suy tim toàn bộ, 
thường xảy ra ở những bệnh nhân thuộc nhóm phân 
độ bệnh nặng. 
John W. Kirlin và cộng sự nghiên cứu phẫu thuật 137 
TH bị HĐRTP, thì có 6 TH tử vong sớm (5 TH do suy 
tim, và 1 TH bị nhiễm trùng huyết). Đối với nghiên cứu 
phẫu thuật tim sơ sinh Hanley và cộng sự, tỷ lệ tử vong 
sớm trong vòng 30 ngày là 10%, và tỷ lệ tử vong muộn 
sau 4 năm theo dõi là 19%. 
Ngoại trừ 6 trường hợp tử vong bệnh viện, còn lại 
175 trường hợp (100%) đều cho kết quả trước mắt rất 
tốt. Điều trị thông thường là dùng kháng sinh dự 
phòng theo đường tĩnh mạch trước mổ và 24-48 giờ 
sau mổ. Thời gian nằm viện trung bình sau mổ là 13 
ngày, không có di chứng phẫu thuật nặng như bệnh 
não, viêm xương ức. 
Theo John W. Kirlin, nghiên cứu 247 bệnh nhân, 
có 3TH tử vong muộn (1TH do thiểu sản TP, 2TH do 
suy tim). Bệnh viện Mayo theo dõi các bệnh nhân phẫu 
thuật HĐRTP, sau 25 năm, tỷ lệ sống còn là 91% 
Chúng tôi không có trường hợp nào tử vong muộn 
nhưng theo một số tác giả, tử vong muộn do hẹp phễu 
thất phải, hẹp vòng van ở bệnh nhân hẹp van ĐMP do 
loạn sản tổ chức van. Chính vì điều này cần theo dõi 
định kỳ sau mổ bằng SA Doppler từ 6 tháng đến 1 
năm/ một lần để đánh giá sự tiến triển của bệnh, phát 
hiện các tổn thương hẹp phễu, hẹp vòng van để có chỉ 
định điều trị hợp lý. 
Không có suy tim, xương ức liền tốt, không có di 
chứng màng phổi, màng tim (dầy dính màng phổi, 
viêm màng tim co thắt ). Thay đổi của tiếng tim rất 
rõ rệt, hầu hết số bệnh nhân kiểm tra thấy cường độ 
tiếng thổi tâm thu rất nhẹ và một số không có nghe 
được tiếng thổi tâm thu nữa. 
3. Tỷ lệ hẹp tồn lưu và tái hẹp: 
Sau mổ 31TH có chênh áp tồn lưu giữa TP – ĐMP 
cao > 50 mmHg (26 TH thuộc nhóm có chênh áp 
trước mổ rất cao, và 5 TH thuộc nhóm có chênh áp 
trung bình trước mổ). 
Biểu đồ: Sự cải thiện chênh áp TP-ĐMP 
Riêng hở van động mạch phổi sau mổ 100% TH có 
kết quả tốt, mức độ hở là ¼, không có TH nào mổ lại do 
chênh áp cao tồn lưu hoặc do nguyên nhân khác. 
Thống kê của Tandon và cộng sự cho thấy 10% 
đường thoát TP hẹp tồn lưu sau mổ, tỷ lệ hở van ĐMP 
sau mổ thấp, dưới 10%. Rao và cộng sự nghiên cứu 
phẫu thuật 80 bệnh nhân HĐRTP, trong suốt thời gian 
theo dõi sau mổ 10 năm, 84%TH không cần can thiệp 
phẫu thuật. 
Mặc dù chưa có thống kê nào cho thấy tỷ lệ hẹp lại 
van ĐMP sau mổ do dính mép van ĐMP, nhưng về lý 
thuyết, người ta cho rằng tỷ lệ này vào khoảng 5% và 
viêm nội tâm mạc sau mổ, mảng sùi van ĐMP có thể 
gặp ở những bệnh nhân này. Do vậy, người ta khuyên 
nên sử dụng kháng sinh dự phòng giống như phòng 
thấp trong hẹp van tim nói chung, đặc biệt ở trẻ nhỏ. 
Hanley cộng sự nghiên cứu nhóm bệnh sơ sinh 
được phẫu thuật mở rộng đường thoát TP ghi nhận 
26% phải mổ lại vì tái hẹp. 
So với các tác giả khác, tuổi mổ bệnh nhân trong 
nghiên cứu của chúng tôi cao hơn, trung bình là 11 
tuổi, thấp nhất là 4 tháng tuổi. Không có trường hợp 
nào tái hẹp phải mổ lại. 
Tác giả Lê Ngọc Thành ghi nhận 1 trường hợp 
phải theo dõi định kỳ sau mổ vì chênh áp còn 
60mmHg, các trường hợp khác không tái hẹp sau mổ. 
Theo báo cáo của bệnh viện Mayo Clinic, phẫu 
thuật hẹp van ĐMP đơn thuần đạt được thành công 
gần như hoàn toàn, không mổ lại, không tái hẹp. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 38
Tương tự với kết luận của Kopecky: nếu bệnh lý 
HĐRTP không kèm thiểu sản TP, và mổ trước 21 tuổi 
thì kết quả phẫu thuật ở nhóm bệnh nhân này rất tốt, 
tử suất thấp gần như không có tử vong và không có tái 
hẹp phải mổ lại. 
Trong khi đó, các tác giả khác phẫu thuật bệnh lý 
này chủ yếu ở giai đoạn trẻ sơ sinh, nên kết quả về sự tái 
hẹp có khác nhau. Sự phát triển về cơ thể học và tái cấu 
trúc cơ tim sau phẫu thuật ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có 
nhiều thay đổi so với người trưởng thành. Chính vì vậy, 
khả năng tái hẹp cao hơn ở nhóm bệnh nhân này sau khi 
được phẫu thuật mở rộng đường thoát thất phải. 
Blalock đề cập vấn đề nếu có thiểu sản thất phải đi 
kèm trong bệnh lý này sẽ làm tăng tỷ lệ tái hẹp sau 
mổ, đặc biệt xảy ra ở trẻ sơ sinh. Tổn thương này theo 
các tác giả như sau: Kirklin 14%, Coles 12%. 
Ngoài ra, khi có dầy thất phải, nếu không cắt bỏ 
cơ bè thất phải sẽ làm tăng tỷ lệ tái hẹp về sau. Tỷ lệ 
này theo Tandon là 10%. 
Tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh: Tỷ lệ 
bệnh lý đường thoát thất phải liên quan đến vòng van 
ĐMP và hẹp phễu thất phải thấp hơn các tác giả 
khác. Phương pháp mổ lựa chọn theo khuynh hướng 
bảo tồn van và vòng van tối đa. Phần lớn các trường 
hợp có dầy thất phải đi kèm đều được cắt bỏ cơ bè 
thất phải. Đối với những trường hợp không giữ được 
vòng van, phương pháp tạo hình van ĐMP được áp 
dụng. Qua đó, góp phần vào kết quả mổ tốt hơn so 
với các tác giả khác. 
So sánh giữa CATTTĐ TP-ĐMP trước khi ra viện 
và kiểm tra xa cho thấy CATTTĐ cải thiện rất rõ theo 
thời gian (p < 0.05, bảng 3.17). Vì ngay sau khi mổ, mặc 
dù hiệu quả mở van tốt, nhưng tim phải chưa ổn định, 
tình trạng dầy thất phải sẽ giảm dần, kèm theo giảm 
chênh áp giữa TP-ĐMP sau 1 năm theo dõi định kỳ. 
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
Chênh áp giữa TP-ĐMP sau mổ giảm rõ rệt từ 
103,02mmHg trung bình trước mổ, sau mổ sớm là 
33,29 mmHg. Sau mổ 3 tháng, một số TH còn chênh 
áp cao, cần thời gian để thất phải phục hồi, cải thiện 
chênh áp sau mổ. Sau mổ 1 năm, chênh áp trung bình 
thấp (14,95 mmHg). Không có TH nào tồn lưu chênh 
áp lớn hơn 80 mmHg. 
Trong nghiên cứu này, đa số trường hợp được bảo 
tồn vòng van thông qua nhiều phương pháp mổ khác 
nhau, khoảng 20% TH không được bảo tồn vòng van 
do thương tổn nặng. 
Không có TH nào tồn lưu chênh áp lớn hơn 80 
mmHg. Không có trường hợp nào tái hẹp phải mổ lại. 
Sau mổ 10 ngày, có 31/181TH có chênh áp tồn lưu 
> 50 mmHg, nhưng sau 3 tháng, chỉ còn 1TH và sau 
một năm thì các TH này cải thiện chênh áp hoàn toàn. 
Siêu âm tim cần lưu ý các TH hẹp van ĐMP đơn 
thuần, hoặc kèm theo hẹp vòng van ĐMP tránh sai 
lệch so với thực tế trong mổ. Phẫu thuật mở rộng 
đường ra thất phải cần được nghiên cứu theo dõi lâu 
dài hơn để đánh giá đầy đủ về bệnh lý này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Đào Hữu Trung. “Hẹp van động mạch phổi. Siêu 
âm tim và bệnh lý tim mạch tập I”. Tái bản lần II. 
TP. Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Y học; 2001. 
2. Lê Ngọc Thành. “Luận án Tiến sỹ Y học”: 
Trường Đại học Y Hà Nội, 2001. 
3. Nguyễn Khánh Dư. “Bệnh Hẹp Động mạch Phổi 
đơn thuần”: 72-75. Phẫu thuật cc bệnh tim. Nhà 
xuất bản Y học; 1983. 
4. Phạm Nguyễn Vinh. “Bệnh tim bẩm sinh ở người 
lớn. Siêu âm tim và bệnh lý tim mạch tập I”. Tái 
bản lần II. Tp.Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Y học; 
2001. 
5. Phan Kim Phương. “Điều trị phẫu thuật các 
bệnh tim bẩm sinh thường gặp”: 265-282. Điều 
trị học ngoại khoa Lồng ngực – Tim mạch. Đại 
học Y Dược TP HCM; 2008. 
6. Blalock A, Fieffer RF Jr. “Valvulotomy for the 
relief of congenital valvular pulmonary stenosis 
with intact ventricular septum”. Report of 
nineteen operations by the Brock method. Ann 
Surg 1950;132:496. 
7. Hanley FL, Sade RM, FreedomRM, Blackstones 
EH, Kirklin JW. ”Outcomes in critically ill 
neonates with pulmonary stenosis and intact 
ventricular septum: a multiinstitutional study”. 
Congenital Heart Surgeons Society. J Am Coll 
Cardiol 1993;22:183. 
8. Kirlin JW, Barratt - Boyes BG. ”Pulmonary 
stenosis and intact ventricular septum”. Cardiac 
Surgery. 3rd edition. Pennsylvania: Churchill 
Livingstone; 2003: 1075 - 1095. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ket_qua_phau_thuat_hep_duong_ra_that_phai.pdf