Nghiên cứu kết quả chẩn đoán trước sinh của những trường hợp thai có tăng khoảng sáng sau gáy

Mục tiêu: Mô tả kết quả chẩn đoán trước sinh của những trường hợp

thai có tăng khoảng sáng sau gáy.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo

dõi dọc 278 thai phụ có thai tăng KSSG từ 2,5mm trở lên được đo ở tuổi

thai 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày. Các trường hợp này được tư vấn lấy

bệnh phẩm thai nhi bằng chọc hút dịch ối để làm NST đồ và siêu âm

hình thái ở tuổi thai 22 tuần tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh - Bệnh

viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 4/2017 đến tháng 9/2017.

Kết quả nghiên cứu: Trong tổng số thai nhivới KSSG≥ 2,5mm thì

có 20,7% trường hợp có bất thường về NSTvà 19,4% bất thường về

hình thái, bất thường hình thái hay gặp nhất là bất thường cấu trúc

tim (7,2%). Trong các trường hợp thai nhi có KSSG 2,5 - 2,9mm có

22,6% bất thường về NST và 18,2% bất thường về hình thái. Tỷ lệ bất

thường NST và bất thường hình thái không có sự khác biệt nếu thay đổi

ngưỡng chẩn đoán từ 3,0mm xuống 2,5mm, nhưng có sự khác biệt nếu

tăng ngưỡng chẩn đoán tăng KSSG lên 3,5mm.

Kết luận: Sự khác biệt về tỷ lệ bất thường NST và bất thường hình

thái ở những thai nhi có KSSG 2,5 - 2,9mm so với các nhóm thai nhi có

KSSG ≥ 3,0mm chưa có ý nghĩa thống kê. Không có sự khác biệt về tỷ

lệ bất thường NST và bất thường hình thái nếu sử dụng ngưỡng chẩn

đoán tăng KSSG là ≥ 2,5mm hay ≥ 3,0mm, nhưng có sự khác biệt nếu

sử dụng ngưỡng chẩn đoán tăng KSSG là ≥ 3,5mm

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu kết quả chẩn đoán trước sinh của những trường hợp thai có tăng khoảng sáng sau gáy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu kết quả chẩn đoán trước sinh của những trường hợp thai có tăng khoảng sáng sau gáy

Nghiên cứu kết quả chẩn đoán trước sinh của những trường hợp thai có tăng khoảng sáng sau gáy
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 63 - 67, 2018
63
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Dương Văn Chương(1), Trần Danh Cường(2), Lương Thị Lan Anh(2), Nguyễn Thị Khánh(3) 
(1) Trường Trung cấp Y Tuyên Quang, (2) Đại học Y Hà Nội, (3) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH 
CỦA NHỮNG TRƯỜNG HỢP 
THAI CÓ TĂNG KHOẢNG SÁNG SAU GÁY 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Dương Văn Chương, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: Khoảng sáng sau 
gáy, Nuchal translucency.
Keywords: Nuchal 
translucency.
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả kết quả chẩn đoán trước sinh của những trường hợp 
thai có tăng khoảng sáng sau gáy. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo 
dõi dọc 278 thai phụ có thai tăng KSSG từ 2,5mm trở lên được đo ở tuổi 
thai 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày. Các trường hợp này được tư vấn lấy 
bệnh phẩm thai nhi bằng chọc hút dịch ối để làm NST đồ và siêu âm 
hình thái ở tuổi thai 22 tuần tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh - Bệnh 
viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 4/2017 đến tháng 9/2017. 
Kết quả nghiên cứu: Trong tổng số thai nhivới KSSG≥ 2,5mm thì 
có 20,7% trường hợp có bất thường về NSTvà 19,4% bất thường về 
hình thái, bất thường hình thái hay gặp nhất là bất thường cấu trúc 
tim (7,2%). Trong các trường hợp thai nhi có KSSG 2,5 - 2,9mm có 
22,6% bất thường về NST và 18,2% bất thường về hình thái. Tỷ lệ bất 
thường NST và bất thường hình thái không có sự khác biệt nếu thay đổi 
ngưỡng chẩn đoán từ 3,0mm xuống 2,5mm, nhưng có sự khác biệt nếu 
tăng ngưỡng chẩn đoán tăng KSSG lên 3,5mm. 
Kết luận: Sự khác biệt về tỷ lệ bất thường NST và bất thường hình 
thái ở những thai nhi có KSSG 2,5 - 2,9mm so với các nhóm thai nhi có 
KSSG ≥ 3,0mm chưa có ý nghĩa thống kê. Không có sự khác biệt về tỷ 
lệ bất thường NST và bất thường hình thái nếu sử dụng ngưỡng chẩn 
đoán tăng KSSG là ≥ 2,5mm hay ≥ 3,0mm, nhưng có sự khác biệt nếu 
sử dụng ngưỡng chẩn đoán tăng KSSG là ≥ 3,5mm. 
Từ khóa: Khoảng sáng sau gáy, Nuchal translucency.
Abstract 
 PRENATAL DIAGNOSIS OF INCREASED NUCHAL 
TRANSLUCENCY 
Objective: Describe the results of prenatal diagnosis in increased 
nuchal translucency (NT). 
Subject and methods: A prospective, follow-up study of 278 pregnant 
DƯƠNG VĂN CHƯƠNG, TRẦN DANH CƯỜNG, LƯƠNG THỊ LAN ANH, NGUYỄN THỊ KHÁNH
64
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
women with increased fetal nuchal translucency from 2.5 mm and higher. They were measured at 
gestational age of 11 weeks to 13 weeks 6 days. These cases were consulted for fetal specimens 
by amniocentesis for chromosomal and ultrasonic morphology at gestational age of 22 weeks at the 
National Center for Pregnancy Diagnostics - National Hospital of Obstetrics and Gynecology from 
April 2017 through September 2017. 
Results: In the fetus with NT ≥ 2.5 mm, there were 20.7% of cases with chromosomal abnormalities 
and 19.4% abnormalities in morphology, abnormal morphologies or most abnormal structure heart 
(7.2%). In the fetuses with NT 2.5 - 2.9 mm, there are 22.6% abnormal chromosomes and 18.2% 
morphologically abnormal. Unusual chromosomal abnormalities and morphologic abnormalities 
were not significantly different between changes in the diagnostic criteria from 3.0 mm down to 2.5 
mm, but differences were noted in the increase NT up to 3.5 mm. 
Conclusion: The differences in abnormal chromosomal and morphologic abnormalities in fetuses with 
NT 2.5 - 2.9 mm compared to fetal groups with NT ≥ 3.0 mm were not statistically significant. There is 
no difference in the incidence of abnormal chromosomal abnormalities and morphologic abnormalities 
using the NT ≥ 2.5 mm or ≥ 3.0 mm. However, there is a difference if the NT is ≥ 3.5mm.
Key words: Nuchal translucency
1. Đặt vấn đề
Khoảng sáng sau gáy (KSSG) hay còn gọi là 
độ mờ da gáy (Nuchal Translucency) là thuật ngữ 
dùng để mô tả khoang chứa dịch nằm giữa tổ chức 
phần mềm của cột sống cổ ở phía trước với da của 
vùng gáy ở phía sau, kích thước bình thường của 
cấu trúc này thay đổi theo tuổi thai và có thể quan 
sát thấy ở tất cả các thai nhi bằng siêu âm 2D ở 
tuổi thai từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày [1]. 
Có hai phương pháp để chẩn đoán tăng KSSG 
là dùng biểu đồ bách phân vị và dùng ngưỡng 
để chẩn đoán, phương pháp dùng biểu đồ bách 
phân vị sẽ cho kết quả chính xác hơn vì KSSG bình 
thường thay đổi theo chiều dài đầu mông của thai 
nhi. Tuy nhiên, việc sử dụng một trị số cố định để 
đánh giá tăng KSSG như ≥ 3,0mm hoặc ≥ 3,5mm 
thường được lựa chọn vì tính đơn giản và tiện dụng 
của nó và chấp nhận giảm đi 10% độ nhạy của 
chẩn đoán [2].
Ở Việt Nam, hiện tại đang sử dụng ngưỡng 
tăng KSSG là ≥ 3,0mm cho thấy tỷ lệ bất thường 
nhiễm sắc thể (NST) khoảng 25% và bất thường 
hình thái thai nhi khoảng 18% [3],[4]. Bên cạnh 
đó khi theo dõi kết quả xét nghiệm dịch ối và 
siêu âm hình thái học thai nhi tại Trung tâm Chẩn 
đoán trước sinh - Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
(TTCĐTS – BVPSTW), chúng tôi nhận thấy có một 
tỷ lệ nhất định những bất thường về NST và bất 
thường hình thái gặp ở thai có khoảng sáng sau 
gáy 2,5 - 2,9mm. Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn 
ngưỡng tăng KSSG là 2,5mm đểthực hiện nghiên 
cứu này với mục tiêu: Mô tả kết quả chẩn đoán 
trước sinh của những trường hợp thai nhi có tăng 
khoảng sáng sau gáy. 
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
278 thai phụ có thai tăng khoảng sáng sau gáy 
từ 2,5mm trở lên được đo ở tuổi thai 11 tuần đến 
13 tuần 6 ngày. Các trường hợp này được tư vấn 
lấy bệnh phẩm thai nhi bằng chọc hút dịch ối để 
làm nhiễm sắc thể đồ và siêu âm hình thái ở tuổi 
thai 22 tuần. Thu thập kết quả NST đồ và kết quả 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 63 - 67, 2018
65
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
siêu âm hình thái học thai nhi tại Trung tâm Chẩn 
đoán trước sinh - Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ 
tháng 4/2017 đến tháng 9/2017.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Số lượng thai: một thai sống.
- Thai phụ có thai nhi với KSSG ≥ 2,5mm 
- Có kết quả siêu âm hình thái ở tuổi thai 22 tuần.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Đa thai.
- Những trường hợp được chẩn đoán là 
Hygroma Kystique (nang bạch huyết vùng cổ)
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
Trong đó n: số đối tượng nghiên cứu. α: mức ý 
nghĩa thống kê (chọn α = 0.05).
Z: hệ số tin cậy.Z2(1 – α/2): giá trị Z = 1.96 tương 
ứng với α = 0.05.Ɛ: giá trị tương đối, chọn Ɛ = 
0.21.p: tỷ lệ bất thường NST và bất thường hình 
thái trên những thai có tăng khoảng sáng sau gáy 
của nghiên cứu trước 24,4% [5].
Thay vào công thức ta có n = 270. Chúng tôi đã 
lựa chọn được 278 thai phụ đủ tiêu chuẩn nghiên 
cứu trong khoảng thời gian từ tháng 4/2017 đến 
tháng 9/2017.
2.2.3. Tiến hành
278 thai phụ có thai nhi tăng KSSG ≥ 2,5mm 
được siêu âm ở tuổi thai từ 11 tuần đến 13 tuần 
6 ngày trên máy siêu âm 4D Samsung Medison 
WS80A. Tất cả những thai phụ này được tư vấn về 
nguy cơ thai nhi có thể mắc các dị tật về NST cũng 
như các dị tật bẩm sinh và tư vấn chọc hút dịch ối 
làm xét nghiệm NST đồ. Những thai phụ đồng ý 
tham gia nghiên cứu sẽ hẹn siêu âm hình thái học 
thai nhi khi thai được 22 tuần tuổi. Sau khi có kết 
quả xét nghiệm NST từ dịch ối và kết qủasiêu âm, 
thai phụ sẽ được tư vấn về tình trạng thai để quyết 
định tiếp tục theo dõi thai hay đình chỉ thai nghén.
2.2.4. Các biến số nghiên cứu
Thu thập các thông tin sử dụng trong nghiên cứu 
qua mẫu bệnh án nghiên cứu bao gồm: tuổi thai phụ, 
tuổi thai đo KSSG, kích thước KSSG, kết quả NST đồ 
của thai nhi, các bất thường hình thái trên siêu âm.
2.2.5. Quản lý và phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để quản lý và 
phân tích số liệu.
3. Kết quả nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 4/2017 
đến tháng 9/2017 chúng tôi thu nhận được 278 
thai phụ đến khám thai vì KSSG 2,5mm trở lên ở 
tuổi thai 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày, trong đó có 
270 thai phụ đồng ý chọc hút dịch ối để làm NST 
đồ thai nhi và tất cả các thai phụ đều được siêu âm 
hình thái học thai nhi ở tuổi thai 22 tuần. Kết quả 
thu được như sau:
Tuổi trung bình của các thai phụ là 30,1 ± 5,5 
tuổi, trẻ nhất là 19 tuổi và nhiều tuổi nhất là 45 tuổi. 
Tuổi thai trung bình khi đo KSSG là 12 tuần 5 
ngày, ít nhất là 11 tuần 2 ngày và nhiều nhất là 
13 tuần 6 ngày.
Kích thước trung bình của KSSG là 3,5± 0,8mm, 
mỏng nhất là 2,5mm và dày nhất là 7,6mm
3.1. Kết quả nhiễm sắc thể đồ và kết 
quả siêu âm hình thái thai nhi
Nhận xét: Trong 20,7% trường hợp bất thường 
NST thì có 16,3% bất thường về số lượng NST, 
Biểu đồ1. Kết quả nhiễm sắc thể đồ thai nhi (n = 270)
Biểu đồ 2. Kết quả siêu âm hình thái (n=278)
DƯƠNG VĂN CHƯƠNG, TRẦN DANH CƯỜNG, LƯƠNG THỊ LAN ANH, NGUYỄN THỊ KHÁNH
66
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
trong đó có 1,1% Trisomie 13 và 1,9% Trisomie 
18, còn lại là 13,3% Trisomie 21. Có 4,4% 
trường hợp bất thường cấu trúc NST. Như vậy ở 
những thai nhi có tăng KSSG thì bất thường về số 
lượng NST thường gặp nhất là Trisomie 21 (hội 
chứng Down).
Nhận xét: Trong 278 thai phụ được thực hiện 
siêu âm hình thái thai nhi, có 224 trường hợp có 
kết quả bình thường, chiếm tỉ lệ 80,6%; 54 trường 
hợp có kết quả bất thường, chiếm tỉ lệ 19,4%, 
trong đó bất thường cấu trúc tim là nhiều nhất 
(7,2%). Trong 54 trường hợp bất thường hình thái, 
có 11 trường hợp nằm trong bệnh cảnh của bất 
thường NST (4%), còn 43 trường hợp bất thường 
hình thái trong khi NST đồ của thai nhi bình 
thường (15,4%).
3.2. Phân bố bất thường NST và bất 
thường hình thái theo kích thước KSSG
Nhận xét: Tỷ lệ bất thường NST ở những thai 
thi có KSSG từ 2,5 - 2,9mm là 22,6%. Tỷ lệ này ở 
các khoảng sang sau gáy 3,0 - 3,4mm là 17,9%; 
từ 3,5 - 3,9mm là 20,1% và ≥4,0 mm là 25,0%. 
Tuy nhiên chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
về tỷ lệ bất thường NST giữa các KSSG (p>0,05).
Nhận xét: Tỷ lệ bất thường hình thái ở những 
thai thi có KSSG từ 2,5 - 2,9mm là 18,2%. Tỷ lệ 
này ở các khoảng sang sau gáy 3,0 - 3,4mm là 
12,8%; từ 3,5 - 3,9mm là 29,9% và ≥4,0 mm là 
23,8%. Tuy nhiên chưa có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê về tỷ lệ bất thường hình thái giữa các 
KSSG (p>0,05).
NST đồ
KSSG
Bất thường Bình thường
p
n % n %
2,5 - 2,9 mm 12 22,6 41 77,4
> 0,05
3,0 - 3,4 mm 19 17,9 87 82,1
3,5 - 3,9 mm 11 20,0 44 80,0
≥4,0 mm 14 25,0 42 75,0
Tổng số 56 20,7 214 79,3
Bảng 1. Phân bố kết quả NST đồ theo kích thước KSSG (n=270)
KQ siêu âm
KSSG
Bất thường Bình thường
p
n % n %
2,5 - 2,9 mm 10 18,2 45 81,8
>0,05
3,0 - 3,4 mm 14 12,8 95 87,2
3,5 - 3,9 mm 16 29,9 39 70,1
≥4,0 mm 14 23,8 45 72,7
Tổng số 54 19,4 224 80,6
Bảng 2. Phân bố kết quả siêu âm theo kích thước KSSG (n=278)
3.3. Phân bố bất thường NST và bất 
thường hình thái theo ngưỡng tăngKSSG
Nhận xét: Tỷ lệ bất thường NST ở những thai 
nhi có KSSG ≥ 2,5mm là 20,7%, tỷ lệ này tương 
đồng ở nhóm thai nhi có KSSG ≥ 3,0mm là 20,3%. 
Tỷ lệ bất thường NST ở những thai nhi có KSSG ≥ 
3,5mm là 22,5% và sự khác biệt này với hai nhóm 
còn lại không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Nhận xét: Tỷ lệ bất thường hình thái ở những 
thai nhi có KSSG ≥ 2,5mm là 19,4%, tỷ lệ này ở 
nhóm thai nhi có KSSG ≥ 3,0mm là 19,7%. Sự 
khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p1-
2>0,05). Tỷ lệ bất thường hình thái ở những thai 
nhi có KSSG ≥ 3,5mm là 26,3%, tỷ lệ này cao hơn 
so với nhóm thai nhi có KSSG ≥ 3,0mm và nhóm 
thai nhi có KSSG ≥ 2,5mm. Sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê (p2-3<0,05; p1-3<0,05)
4. Bàn luận
Hiện nay đa số các cơ sở y tế công lập cũng 
như tư nhân đều được trang bị máy siêu âm và có 
đội ngũ bác sĩ có thể thực hiện kỹ thuật siêu âm 
thai tương đối tốt. Tuy nhiên, siêu âm đo kích thước 
KSSG đòi hỏi những tiêu chuẩn về hình ảnh tương 
đối khắt khe để loại trừ được những sai sót trong 
chẩn đoán. Do vậy, siêu âm đo KSSG nên thực 
hiện ở tuần thứ 12 của thai kỳ bởi những bác sĩ đã 
được đào tạo bài bản về đo KSSG và trên những 
máy siêu âm có độ phân giải cao, đồng thời cần có 
sự thống nhất về cách lượng giá kết quả đo KSSG.
Những thai nhi có KSSG ≥ 3,0mm luôn đứng 
trước nguy cơ cao bị các bất thường về NST, bất 
thường hình thái cũng như một thai kỳ không thuận 
lợi như thai có thể chết lưu, những dị dạng chỉ có 
NST 
KSSG
Bất thường Bình thường
p
n % n %
≥ 2,5mm 56 20,7 214 79,3
> 0,05≥ 3,0mm 44 20,3 173 79,7
≥ 3,5mm 25 22,5 28 80,5
Bảng 3. Phân bố kết quả NST đồ theo ngưỡng tăng KSSG (n=270)
KQ siêu âm
KSSG
Bất thường Bình thường
p
n % n %
≥ 2,5mm (1) 54 19,4 224 80,6 p1-2>0,05
p2-3<0,05
p1-3<0,05
≥ 3,0mm (2) 44 19,7 179 80,3
≥ 3,5mm (3) 30 26,3 84 73,7
Bảng 4. Phân bố bất thường hình thái thai nhi theo ngưỡng tăng KSSG (n=278)
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 63 - 67, 2018
67
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
thể phát hiện sau khi sinh, ... và những thai nhi có 
KSSG 2,5 - 2,9mm cũng không đứng ngoài những 
nguy cơ đó. Mặc dù vậy, nếu một thai phụ có thai 
nhi có tăng KSSG mà được làm sàng lọc và chẩn 
đoán trước sinh bằng xét nghiệm NST đồ để loại trừ 
các bất thường về NST, siêu âm hình thái để loại trừ 
các bất thường về hình thái ở tuổi thai 22 tuần thì 
những lo lắng của thai phụ cũng giảm đi bội phần. 
Cụ thể, trong nghiên này,có 20,7% thai nhi có bất 
thường NST, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu 
của Bùi Hải Nam 25,1% [3] nhưng cao hơn so với 
kết quả nghiên cứu của Min - Hyoung Kim 13% [6]; 
có 15,4% thai nhi có bất thường hình thái trong 
khi NST đồ bình thường, tỷ lệ này thấp hơn so với 
nghiên cứu của Lưu Thị Hồng [4] là 17,9%. 
Điều đáng nói ở đây, là trong số 53 thai nhi có 
KSSG 2,5 - 2,9 mm thì có tới 22,6% trường hợpbất 
thường NST; 18,2% trường hợp bất thường hình 
thái.Tỷ lệ bất thường số lượng NST trong nghiên 
cứu này cao hơn nghiên cứu của Kagan (8,1%) [7] 
và tỷ lệ bất thường hình thái với thai nhi có NST đồ 
bình thường cũng cao hơn kết quả nghiên cứu của 
Josefsson (8,9%) [8]. Đặc biệt, nếu dùng ngưỡng 
chẩn đoán tăng KSSG là ≥ 2,5mm thay vì ≥3,0mm 
thì không thấy có sự khác biệt về tỷ lệ bất thường 
NST và tỷ lệ bất thường hình thái thai nhi. 
Tuy rằng, đây chỉ là một nghiên cứu nhỏ, thực 
hiện trong một thời gian ngắn và kết quả nghiên 
cứu cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tuổi 
thai phụ khi mang thai, tuổi thai đo KSSG, sai 
số khi đo KSSG,... Nhưng rõ ràng, qua kết quả 
nghiên cứu này đã cho chúng cái nhìn rộng hơn về 
mối liên quan giữa tăng KSSG với các bất thường 
của thai nhi.
5. Kết luận
Không phải tất cả các trường hợp thai nhi có 
tăng KSSG ở 3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén 
đều bị bất thường NST và bất thường hình thái.
Ở những thai nhi có KSSG từ 2,5mm trở lên, có 
20,7% trường hợp bất thường số lượng và cấu trúc 
của NST; 19,4% trường hợp bất thường hình thái, 
trong đó có 15,4% trường hợp bất thường hình 
thái trong khi NST đồ thai nhi bình thường.
Bất thường hình thái hay gặp nhất ở thai nhi có 
tăng KSSG là bất thường cấu trúc tim (7,2%).
Ở những thai nhi có KSSG 2,5 - 2,9mm, tỷ lệ 
bất thường về số lượng và cấu trúc NST là 22,6%, 
bất thường hình thái là 18,2%.Tỷ lệ này chưa có sự 
khác biệt với các nhóm thai nhi có KSSG ≥ 3,0mm.
Không có sự khác biệt về tỷ lệ bất thường NST 
và bất thường hình thái nếu sử dụng ngưỡng chẩn 
đoán tăng KSSG là ≥ 2,5mm hay ≥ 3,0mm, nhưng 
có sự khác biệt nếu sử dụng ngưỡng chẩn đoán 
tăng KSSG là ≥ 3,5mm.
Tài liệu tham khảo
1. Crombleholme TM, Bianchi DW, D’Alton ME. Diagnosis and 
Management of the Fetal Patient. Fetology. 2000 April 26; 34(3): 222-224.
2. Oloyede OA, et al. Fetal nuchal translucency scan in Nigeria. Pan 
African Medical Journal. 2014.
3. Bùi Hải Nam. Tìm hiểu mối liên quan giữa bất thường nhiễm sắc thể 
với tăng khoảng sáng sau gáy ở tuổi thai 11 - 13 tuần 6 ngày. Luận văn 
thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội. 2011.
4. Lưu Thị Hồng. Tăng khoảng sáng sau gáy thai nhi và hệ quả. Tạp 
chí Y học Việt Nam, tháng 11 - số 1/2013: 41-44.
5. Nguyễn Hải Long. Đánh giá giá trị của độ dày da gáy để chẩn 
đoán thai bất thường có nhiễm sắc thể bình thường. Luận văn Thạc sĩ 
Y học, Đại học Y Hà Nội. 2013.
6. Kim MH. Threshold of Nuchal Translucency for the Detection of 
Chromosomal Aberration: Comparison of Different Cut-offs. J Korean Med 
Sci. 2006; 21(4): 11 - 4.
7. Oliver KK, et al. Relation Between Increased Fetal Nuchal 
Translucency Thickness and Chromosomal Defects. Original Research. 
2006; 107(5): 6-10.
8. Josefsson, et al. Nuchal translucency as a screening test for 
chromosomal abnormalities in a routine first trimester ultrasound 
examination. Acta Obstet Gynecol Scand. 1998; 77(3): 497-9.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ket_qua_chan_doan_truoc_sinh_cua_nhung_truong_hop.pdf