Nghiên cứu hiệu quả đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley điều trị băng huyết sau sinh

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị và tính an toàn của phương pháp

đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley trong xử trí băng huyết

sau sinh không do tổn thương đường sinh dục tại bệnh viện Sản - Nhi

tỉnh Quảng Ngãi.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 43 sản phụ sau sinh ngã âm

đạo được chẩn đoán băng huyết sau sinh không do tổn thương đường sinh

dục và đã được điều trị nội khoa thất bại tại Khoa Sản - Bệnh viện Sản - Nhi

tỉnh Quảng Ngãi, trong thời gian từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 11 năm

2018. Thiết kế nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên không đối

chứng. Sử dụng sonde Foley số 30 để làm bóng chèn lòng tử cung.

Kết quả: Tỷ lệ thành công của phương pháp bóng chèn lòng tử cung

trong xử trí băng huyết sau sinh không do tổn thương đường sinh dục là

95,35% (41/43). Thời gian trung bình chẩn đoán phương pháp bóng chèn

lòng tử cung có hiệu quả cầm máu từ 10 đến 17 phút. Thời gian lưu bóng

chèn lòng tử cung từ 6 đến 12 giờ. Lượng dịch bơm vào bóng chèn lòng

tử cung từ 130 đến 200ml. Lượng máu mất thêm sau khi đặt bóng chèn

lòng tử cung đến khi chẩn đoán phương pháp thành công từ 10 đến 50ml.

Kết luận: Điều trị băng huyết sau sinh không do tổn thương đường

sinh dục sau điều trị nội thất bại bằng phương pháp bóng chèn lòng tử

cung là một phương pháp điều trị bảo tồn an toàn và hiệu quả.

pdf 8 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu hiệu quả đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley điều trị băng huyết sau sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu hiệu quả đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley điều trị băng huyết sau sinh

Nghiên cứu hiệu quả đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley điều trị băng huyết sau sinh
LÊ CAO TUẤN, NGUYỄN ĐÌNH TUYẾN, ĐẶNG NGỌC THUẬN, NGUYỄN XUÂN MINH, NGUYỄN VĂN SÁU,
LỮ THỊ THÙY QUYÊN, ĐINH THỊ MỸ HÒA, TRƯƠNG THÙY DƯƠNG, TRẦN THỊ BÍCH KHUÊ
28
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
Lê Cao Tuấn, Nguyễn Đình Tuyến, Đặng Ngọc Thuận, Nguyễn Xuân Minh, Nguyễn Văn Sáu, Lữ Thị Thùy Quyên, Đinh Thị Mỹ Hòa, Trương Thùy Dương, Trần Thị Bích Khuê 
Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ
ĐẶT BÓNG CHÈN LÒNG TỬ CUNG
BẰNG SONDE FOLEY
ĐIỀU TRỊ BĂNG HUYẾT SAU SINH
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Cao Tuấn,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 04/08/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/08/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 01/09/2019
Từ khóa: Băng huyết sau sinh, 
Sonde foley.
Keywords: postpartum 
haemorrhage (PPH), Foley’s 
catheter.
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị và tính an toàn của phương pháp 
đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley trong xử trí băng huyết 
sau sinh không do tổn thương đường sinh dục tại bệnh viện Sản - Nhi 
tỉnh Quảng Ngãi.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 43 sản phụ sau sinh ngã âm 
đạo được chẩn đoán băng huyết sau sinh không do tổn thương đường sinh 
dục và đã được điều trị nội khoa thất bại tại Khoa Sản - Bệnh viện Sản - Nhi 
tỉnh Quảng Ngãi, trong thời gian từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 11 năm 
2018. Thiết kế nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên không đối 
chứng. Sử dụng sonde Foley số 30 để làm bóng chèn lòng tử cung.
Kết quả: Tỷ lệ thành công của phương pháp bóng chèn lòng tử cung 
trong xử trí băng huyết sau sinh không do tổn thương đường sinh dục là 
95,35% (41/43). Thời gian trung bình chẩn đoán phương pháp bóng chèn 
lòng tử cung có hiệu quả cầm máu từ 10 đến 17 phút. Thời gian lưu bóng 
chèn lòng tử cung từ 6 đến 12 giờ. Lượng dịch bơm vào bóng chèn lòng 
tử cung từ 130 đến 200ml. Lượng máu mất thêm sau khi đặt bóng chèn 
lòng tử cung đến khi chẩn đoán phương pháp thành công từ 10 đến 50ml.
Kết luận: Điều trị băng huyết sau sinh không do tổn thương đường 
sinh dục sau điều trị nội thất bại bằng phương pháp bóng chèn lòng tử 
cung là một phương pháp điều trị bảo tồn an toàn và hiệu quả.
Từ khóa: Băng huyết sau sinh, Sonde foley.
Abstract 
EFFICACY OF BALLOON TAMPONADE USING 
FOLEY’S CATHETER IN THE MANAGEMENT OF 
POSTPARTUM HAEMORRHAGE
Objectives: To evaluate the efficacy and the safety of balloon 
tamponade using Foley’s catheter in the management of postpartum 
haemorrhage without genital tract trauma in Quang Ngai Hospital for 
Children and Women.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
29
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 28 - 35, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
Materials & methods: 43 participants who were dianogsed postpartum haemorrhage without genital 
tract trauma and were medically treated unsuccessfully at Department of Obtestrics of Quang Ngai 
Hospital for Children and Women, between January 2018 and November 2018. It was an interventional 
randomized uncontrolled study. Using Foley’s catheter to make a balloon tamponade in uterine.
Results: The success rate of baloon tamponade in the management of postpartum haemorrhage 
without genital tract trauma is 95.35% (41/43). The mean time of this tamponade to be diagnosed 
successful is between 10 and 17 minutes. The remaining time of this tamponade is between 6 and 
12 hours. The volume in the baloon is between 130 and 200ml. The blood loss until this technique 
was confirmed success is between 10 and 50ml.
Conclusions: Balloon tamponade in the management of postpartum haemorrhage without genital 
tract trauma after medically treated unsuccessfully is a effective and safe technique.
Key words: postpartum haemorrhage (PPH), Foley’s catheter
1. Đặt vấn đề
Băng huyết sau sinh là một trong năm tai biến 
sản khoa, là nguyên nhân tử vong hàng dầu của 
các bà mẹ trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước 
đang phát triển. Theo ước tính của Tổ chức Y tế 
Thế giới hàng năm có khoảng 14 triệu trường hợp 
chảy máu liên quan đến thai sản, ít nhất 35% phụ 
nữ chết do băng huyết sau sinh, hầu hết những cái 
chết này xảy ra trong vòng 4 giờ đầu sau sinh và 
có liên quan đến giai đoạn III chuyển dạ [14]. 
Tại bệnh viện Từ Dũ, theo số liệu báo cáo của 
khoa Sinh, băng hụyết sau sinh chiếm tỷ lê từ 0,22 
% đến 0,58 %. trong đó băng huyết sau sinh không 
do tổn thương đường sinh dục thường gặp nhất là 
do tử cung gò kém (55%) [2]. Điều trị băng huyết 
sau sinh có nhiều phương pháp: nội khoa và ngoại 
khoa. Trong 100% các trường hợp băng huyết sau 
sinh được điều trị nội khoa ban đầu bằng Oxytocin 
và Misoprostol 1000µg, gần 22% cần can thiệp 
điều trị ngoại khoa sau đó. Năm 2005 có 14 trường 
hợp băng huyết sau sinh cắt tử cung, năm 2006 có 
12 trường hợp cắt tử cung, 2 trường hợp thắt động 
mạch tử cung và động mạch hạ vị [2], [3]..
Phương pháp bóng chèn lòng tử cung trong xử 
trí băng huyết sau sinh do tử cung gò kém hay do 
nhau bám thấp hiện đã và đang sử dụng tại các 
bệnh viện trong nước và trên thế giới. Tại Quảng 
Ngãi hiện chưa có nghiên cứu nào về tính hiệu 
quả và tính an toàn của phương pháp bóng chèn 
lòng tử cung, một phương pháp nếu thành công có 
thể giúp sản phụ tránh được nguy cơ mở bụng và 
cắt tử cung trong điều trị băng huyết sau sinh. Vì 
những lý do trên, chúng tôi quyết định tiến hành 
“Nghiên cứu hiệu quả đặt bóng chèn lòng tử cung 
bằng Sonde Foley điều trị băng huyết sau sinh” 
với mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị và tính an 
toàn của phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung 
bằng sonde Foley trong xử trí băng huyết sau sinh 
không do tổn thương đường sinh dục tại bệnh viện 
Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng ngẫu 
nhiên không đối chứng.
Đối tượng nghiên cứu
Cỡ mẫu tối thiểu được tính dựa vào công thức: 
Theo nghiên cứu của Condous [7], p=0,875 là 
tỷ lệ thành công của phương pháp bóng chèn lòng 
tử cung, d=0,1 và α=0,05 thì n = 42,0175.
LÊ CAO TUẤN, NGUYỄN ĐÌNH TUYẾN, ĐẶNG NGỌC THUẬN, NGUYỄN XUÂN MINH, NGUYỄN VĂN SÁU,
LỮ THỊ THÙY QUYÊN, ĐINH THỊ MỸ HÒA, TRƯƠNG THÙY DƯƠNG, TRẦN THỊ BÍCH KHUÊ
30
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
Vậy cỡ mẫu tối thiểu là 43 đối tượng.
Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Có băng huyết sau sinh (BHSS): Chảy máu 
sau khi sổ thai sinh ngã âm đạo ≥ 500 ml trong 
vòng 24 giờ. 
- Đồng ý tham gia nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại trừ
- Đa thai. 
- Tổn thương đường sinh dục. 
- Tử cung dị dạng (tử cung đôi, có vách ngăn,). 
- Trong quá trình chuyển dạ có kèm các dấu 
hiệu có nguy cơ nhiễm trùng:
+ Nhiệt độ > 380C. 
+ Nhiễm trùng ối. 
+ Bạch cầu > 15000/mm3. 
- Bệnh lý rối loạn đông máu; Tiểu cầu < 
100.000/mm3. 
Phương tiện nghiên cứu
- Các dụng cụ khám thai: thước dây, máy 
Doppler tim thai, máy đo huyết áp, gắng tay vô 
khuẩn, Sonde tiểu
- Hồ sơ ghi chép là mẫu bệnh án sản khoa 
đang dùng tại khoa sản 
- Phiếu thu thập dữ liệu
- Các xét nghiệm cận lâm sàng như công thức máu, 
Hb, Hct..., làm tại khoa xét nghiệm của bệnh viện
- Dụng cụ hứng máu có vạch chia mức (túi đựng 
máu bằng nylon), săn lót bằng vải của phòng sinh
- Cân để cân em bé
- Các dụng cụ đỡ đẻ và cấp cứu của phòng sinh
- Sonde Foley số 30
- Bộ dụng cụ kiểm tra cổ tử cung, kẹp hình tim
- Bơm tiêm 50 ml
- Túi đựng máu có vạch tính ml
- Các loại thuốc :
+ Oxytocin (ống 5 đơn vị), Dolargan, Atropin 
+ Dịch truyền: Glucose 5%, Nacl 0,9%, 
RingerLactat...
+ Các thuốc co TC có thể dùng thêm khi cần: 
Ergometrine, Misoprostol
Các bước tiến hành
- Nếu sản phụ thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu 
(có chẩn đoán BHSS) tiến hành: ghi nhận thời gian 
chẩn đoán BHSS (thời gian tính từ sau khi sổ thai 
đến lúc chẩn đoán BHSS), lượng máu mất khi chẩn 
đoán BHSS, ghi nhận có sự thay đổi tổng trạng, 
sinh hiệu trên lâm sàng. 
- Cho sản phụ nằm đầu thấp, thở oxy. 
- Xoa ép đáy tử cung qua thành bụng bằng hai 
tay. Đặt một tay trong âm đạo tạo thành một nắm 
tay ép đẩy lên mặt trước thân tử cung trong khi các 
đầu ngón tay của bàn tay kia ép đáy tử cung từ 
trên thành bụng xuống. Mặt sau tử cung được xoa 
ép bởi các ngón tay trên thành bụng và mặt trước 
tử cung được xoa ép bởi tay trong âm đạo.
- Lập đường truyền tĩnh mạch (TM): Lactate 
Ringer 500ml 1 chai pha oxytocin 10 đơn vị truyền 
TM XXX giọt/phút. 
- Thông tiểu. 
- Giảm đau bằng Dolargan tiêm tĩnh mạch chậm. 
- Chống choáng bằng Atropin 0,25mg tiêm 
dưới da 
- Tiến hành soát lòng tử cung lấy hết nhau và 
máu cục. Loại trừ vỡ tử cung và tử cung dị dạng.
- Kiểm tra cổ tử cung bằng dụng cụ: loại trừ có 
tổn thương đường sinh dục. 
- Nếu sau các bước trên, máu vẫn tiếp tục chảy 
ra âm đạo thì thực hiện bóng chèn lòng tử cung 
như sau: 
+ Sát trùng cổ tử cung, âm đạo bằng Betadine. 
+ Dùng kẹp hình tim đưa sonde Foley số 30 
vào lòng tử cung, bơm vào bóng chèn lòng tử 
cung nước muối sinh lý lượng từ 100 đến 200ml 
đến khi có cảm giác nặng tay, đầu dẫn lưu của 
Foley được nối với túi nylon theo dõi lượng máu 
chảy ra từ lòng tử cung. Lúc này, sonde Foley 
có tác dụng như một bóng chèn lòng tử cung. 
+ Chèn nút gạc tẩm Betadin vào túi cùng sau 
và trong âm đạo để giữ cố định bóng chèn lòng 
tử cung. 
+ Ghi nhận thời điểm và lượng máu mất thêm 
từ lúc chẩn đoán BHSS đến lúc đặt bóng chèn 
lòng tử cung.
- Duy trì truyền tĩnh mạch oxytocin 20 đơn vị 
pha trong 1 chai Lactat Ringer 500 ml truyền TM 
XXXg/phút suốt trong quá trình thực hiện thủ thuật. 
- Theo dõi sinh hiệu, lượng máu chảy ra qua 
ống dẫn lưu của sonde Foley có nối với túi đong có 
chia vạch theo thể tích. 
- Rút Foley có kiểm soát.
- Điều trị tích cực theo phác đồ của bệnh viện: 
chuyển phòng mổ mở bụng tùy tình hình xử trí. 
Đầu tiên tiến hành thắt động mạch tử cung hai 
bên nếu không hiệu quả tiến hành thắt động mạch 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
31
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 28 - 35, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
hạ vị hai bên. Nếu tình trạng chảy máu vẫn tiếp 
diễn, tử cung không go, tình trạng mạch huyết 
áp không ổn định mặc dù đã được bù đủ máu và 
thuốc co hồi tử cung, khi đó chúng tôi tiến hành 
cắt tử cung kết hợp hồi sức tích cực để đảm bảo 
an toàn tính mạng cho sản phụ. Chúng tôi sẽ cố 
gắng giữ lại tử cung khi điều kiện mạch, huyết áp 
cho phép kết hợp điều trị nội khoa tích cực cùng 
bù đủ thể tích tuần hoàn nhất là các sản phụ còn 
trẻ, chưa đủ số con. 
- Ghi nhận các yếu tố: nguyên nhân thất bại, 
xử trí tiếp theo. 
- 24 – 48 giờ sau khi thực hiện thủ thuật đánh 
giá biến chứng: viêm nội mạc tử cung, viêm vùng 
chậu (có dấu hiệu nhiễm trùng, sốt, sản dịch hôi, 
tử cung gò kém, có thể có phản ứng thành bụng, 
bạch cầu > 15000/mm3, CRP > 6mg/l).
Các yếu tố đánh giá
- Thủ thuật được xem là có hiệu quả cầm máu 
khi trong vòng 20 phút sau thủ thuật có các hiện 
tượng: sinh hiệu cải thiện dần, tử cung gò khá, máu 
chảy ra âm đạo giảm rõ rệt. 
- Thủ thuật được gọi là thành công khi có các 
hiện tượng: sinh hiệu cải thiện dần, tử cung gò tốt, 
máu chảy ra âm đạo giảm rõ rệt và khi rút bóng 
chèn lòng tử cung máu đỏ tươi không tiếp tục chảy 
ra âm đạo. 
- Thủ thuật được gọi là thất bại khi có một trong 
các dấu hiệu sau: 
+ Choáng ngay khi thực hiện thủ thuật. 
+ Máu đỏ tươi tiếp tục chảy không giảm trong 
thời gian 20 phút sau thủ thuật, ảnh hưởng tổng 
trạng và sinh hiệu sản phụ. 
+ Sau khi rút bóng chèn lòng tử cung máu đỏ 
tươi vẫn tiếp tục chảy ra âm đạo. 
Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu sau khi thu thập được trình bày 
dưới dạng bảng biểu và phương pháp xử lý số liệu 
thường dùng trong nghiên cứu y học, trên phần 
mềm Stada 8.0.
3. Kết quả
Qua nghiên cứu trên 43 trường hợp BHSS sau 
sinh không do tổn thương đường sinh dục dưới tại 
Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Quảng Ngãi trong năm 
2018, chúng tôi có các kết quả sau:
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tuổi trung bình là 28,42±6,13, nhóm sản phụ 
có độ tuổi từ 20 đến 35 tuổi chiêm tỉ lệ 76,74%, có 
3 trường hợp (chiếm 6,98%) sản phụ có tuổi là 16 
và 18 tuổi. 74,42% sinh sống ở nông thôn. 44,19% 
con so, 16,28% sinh từ 3 con trở lên.
Đặc điểm thai kỳ lần này
88,36% sản phụ không có tiền căn bệnh lý nội 
khoa kèm theo. 2,33% trường hợp có tiền căn 
BHSS ở lần sinh trước, có 2,33% trường hợp có 
vết mổ đẻ cũ. Tuổi thai trung bình: 38,77 ± 2,51 
tuần (26 - 41 tuần). Tuổi thai nhỏ nhất trong mẫu 
nghiên cứu là 26 tuần (tiền căn vết mổ đẻ cũ). Tuổi 
thai từ 37 đến 40 tuần chiếm trên 81,38%. Chỉ số 
ối bình thường đến 86,04%, đa ối chiếm 6,98%. 
6,98% có nhau bám thấp.
Đặc điểm của cuộc chuyển dạ
Nhận xét: Thời gian theo dõi trung bình là 8 giờ 
01 phút ± 4 giờ 54 phút (1giờ – 33 giờ)
Cân nặng của con
55,81% trẻ sinh nặng 2500 - <3500g, 6,98% 
trẻ <2500g trong đó trường hợp tiền căn vết mổ đẻ 
cũ trẻ sinh 700g. 37,2% trẻ sinh nặng ≥ 3500g.
Chẩn đoán BHSS
Lượng máu mất trung bình: 544,88 ± 72,55 
(450 – 800ml). Thời gian chẩn đoán BHSS trung 
bình: 9,65 ± 3,37 (5-15phút). 51,16% sản phụ 
được chẩn đoán BHSS từ 5 – 9 phút, 16,28% sản 
phụ được chẩn đoán BHSS sau 15 phút.
Nguyên nhân BHSS: trong 3 trường hợp nhau 
bám thấp có 2 trường hợp kèm tình trạng tử cung 
gò kém (14,29%). 
Đặc điểm của bóng chèn lòng tử cung
Thời gian từ lúc BHSS đến khi đặt bóng chèn 
lòng tử cung trung bình: 
12,09 ± 3,64(7-20 phút). Trong đó 90,7% 
trường hợp trong vòng 7-15 phút.
Nhận xét: Lượng máu mất từ lúc chẩn đoán 
BHSS đến trước lúc đặt bóng chèn lòng tử cung 
trung bình: 199,07 ± 58,55ml (120 – 350ml).
Thời gian theo dõi Trường hợp Tỉ lệ %
< 3 giờ 6 13,95
Từ 3 giờ - < 12 giờ 34 79,07
Từ 12 giờ - < 24 giờ 2 4,65
≥ 24 giờ 1 2,33
Tổng 43 100%
Bảng 1. Phân bố thời gian theo dõi tại phòng sinh
LÊ CAO TUẤN, NGUYỄN ĐÌNH TUYẾN, ĐẶNG NGỌC THUẬN, NGUYỄN XUÂN MINH, NGUYỄN VĂN SÁU,
LỮ THỊ THÙY QUYÊN, ĐINH THỊ MỸ HÒA, TRƯƠNG THÙY DƯƠNG, TRẦN THỊ BÍCH KHUÊ
32
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
Nhận xét: Lượng máu mất sau đặt bóng chèn 
lòng tử cung trung bình: 43,72 ml. Khi đặt bóng 
chèn lòng tử cung, chỉ có 2 trường hợp máu chảy 
thêm 200ml, 400ml; 2 trường hợp này được chẩn 
đoán là thất bại và sản phụ phải cắt tử cung.
Nhận xét: Lượng dịch bơm vào bóng chèn lòng 
tử cung trung bình: 
179,77 ± 13ml (130 – 200ml).
95,35% trường hợp thành công khi đặt bóng 
chèn lòng tử cung.
Đặc điểm những trường hợp thất bại
Nhận xét: Trong nghiên cứu có hai trường hợp 
thất bại, một trường hợp sản phụ con so và một 
trường hợp sản phụ con rạ lần hai. Đối với cả 2 
trương hợp: sau khi đặt bóng chèn lòng tử cung lưu 
10-15 phút nhưng chúng tôi thấy máu vẫn tiếp tục 
chảy ra qua ống dẫn lưu lòng tử cung nhưng quan 
trọng hơn là máu đỏ tươi vẫn tiếp tục chảy từ lòng 
tử cung như trước khi đặt bóng chèn lòng tử cung. 
Do đó chúng tôi đ ... c chẩn đoán BHSS đến trước lúc đặt bóng chèn lòng tử cung
Từ 12 giờ - < 24 giờ 
≥ 24 giờ 
2 
1 
4,65 
2,33 
Tổng 43 100% 
 Nhận xét: Thời gian theo dõi trung bình là 8 giờ 01 phút ± 4 giờ 54 phút (1giờ – 33 giờ) 
Cân nặng của con 
 55,81% trẻ sinh nặng 2500 - <3500g, 6,98% trẻ <2500g trong đó trường hợp tiền căn vết 
mổ đẻ cũ trẻ sinh 700g. 37,2% trẻ sinh nặng ≥ 3500g. 
Chẩn đoán BHSS 
Lượng máu mất trung bình: 544,88 ± 72,55 (450 – 800ml). Thời gian chẩn đoán BHSS 
trung bình: 9,65 ± 3,37 (5-15phút). 51,16% sản phụ được chẩn đoán BHSS từ 5 – 9 phút, 16,28% 
sản phụ được chẩn đoán BHSS sau 15 phút. 
Nguyên nhân BHSS: trong 3 trường hợp nhau bám thấp có 2 trường hợp kèm tình trạng 
tử cung gò kém (14,29%). 
Đặc điểm của bóng chèn lòng tử cung 
 Thời gian từ lúc BHSS đến khi đặt bóng chèn lòng tử cung trung bình: 
12,09 ± 3,64(7-20 phút). Trong đó 90,7% trường hợp trong vòng 7-15 phút. 
Biểu 1. Phân bố lượng máu mất từ lúc chẩn đoán BHSS đến trước lúc đặt bóng chèn lòng tử 
cung 
Nhận xét: Lượng máu mất từ lúc chẩn đoán BHSS đến trước lúc đặt bóng chèn lòng tử 
cung trung bình: 199,07 ± 58,55ml (120 – 350ml). 
Bảng 2. Phân bố lượng máu mất thêm sau đặt bóng chèn lòng tử cung đến khi chẩn đoán 
phương pháp thành công hay thất bại 
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
Từ 120- 300ml
Lượng máu mất thêm Trường hợp Tỉ lệ %
Dưới 50ml 41 13,95
200ml 1 79,07
400ml 1 4,65
Tổng 43 2,33
Bảng 2. Phân bố lượng máu mất thêm sau đặt bóng chèn lòng tử cung đến khi chẩn đoán 
phương pháp thành công hay thất bại 
Trường hợp Tỉ lệ %
130 -< 150ml 2 4,65
150 -<180ml 2 4,65
180-200ml 39 90,70
Tổng 43 100
Bảng 3. Phân bố lượng dịch bơm vào bóng chèn lòng tử cung
Trường hợp 1 Trường hợp 2
Tuổi thai phụ 32 27
Số con 1 0
Tuổi thai 40 tuần 38 tuần 
Đặc điểm thai Bình thường Bình thường
Đa ối không không
Cân nặng con 3700g 2700g
Nguyên nhân BHSS đờ tử cung Có Có 
Nhau bám thấp Không Không
Lượng máu mất lúc chẩn đoán BHSS 500ml 750ml
Thời gian theo dõi tại phòng sinh 3 giờ 5 giờ 
Thời gian chẩn đoán BHSS 7 phút 5 phút 
Thời gian từ lúc chẩn đoán BHSS đến lúc đặt bóng chèn lòng 
tử cung 20 phút 15 phút 
Lượng máu chảy thêm từ lúc chẩn đoán BHSS đến lúc đặt 
bóng chèn lòng tử cung 200ml 300ml
Lượng máu chảy thêm sau khi đặt bóng chèn lòng tử cung 200ml 400ml
Lượng dịch bơm vào bóng chèn lòng tử cung 180ml 180ml
Thời gian lưu bóng chèn lòng tử cung 15 phút 10 phút
Xử trí tiếp theo Cắt tử cung Cắt tử cung
Bảng 4. Phân bố đặc điểm những trường hợp thất bại 
Đặc điểm những trường hợp thành công
Lượng máu mất thêm khi chẩn đoán thành công 
trung bình: 31,22 ± 12,88 (10-50ml), trong đó 
31,71% (13/41) mất thêm 30ml máu. Thời gian 
chẩn đoán phương pháp bóng chèn lòng tử cung 
có hiệu quả cẩm máu: 12,95 ± 2,25 phút (10 – 
17 phút). Thời gian lưu bóng chèn lòng tử cung 
trung bình: 8,66 ± 1,89 giờ (6 – 12 giờ), trong đó 
53,66% lưu từ 7 – 8 giờ. Lượng máu mất tổng cộng 
trung bình: 768,78 ± 90ml (630-990ml), không ghi 
nhận trường hợp nào có lượng máu mất ≥1000 ml.
Tác dụng phụ
Các trường hợp trong mẫu nghiên cứu có nhiệt 
độ dao động từ 37 đến 37,80C trong vòng 2 ngày 
sau sinh, không ghi nhận trường hợp nào có nhiệt 
độ tăng cao hơn 37,80C. 
100% những trường hợp thành công đều có gò 
tử cung tốt, sản dịch đỏ sậm, không hôi. 
Nhận xét: Trong vòng từ 24 - 48 giờ sau thực 
hiện thủ thuật bóng chèn lòng tử cung, đa số các 
trường hợp có tình trạng tăng số lượng bạch cầu 
so với trước sinh, có thể do tình trạng cô đặc máu 
Bạch cầu Trước sinh 24-48 giờ sau sinh
Trung bình 10.648 ± 1.883 13.282 ± 3.052 
< 10.000/mm3 17 9
10.000 – 15.000/mm3 26 18
> 15.000/mm3 0 16
Tổng số 43 43
Bảng 5. Phân bổ số lượng bạch cầu trong máu
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
33
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 28 - 35, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
hay do tăng bạch cầu phản ứng. Không có trường 
hợp nào có biểu hiện nhiễm trùng trên lâm sàng và 
trên xét nghiệm.
Phân tích tỉ lệ thành công với một số yếu tố 
liên quan
Nhận xét: Có mối liên quan giữa tỉ lệ thành 
công và thời gian từ lúc chẩn đoán BHSS đến khi 
đặt bóng chèn lòng tử cung (p<0,05).
4. Bàn luận
Chúng tôi chọn sonde Foley để làm bóng chèn 
lòng tử cung vì sonde đơn giản, rẻ tiền, dễ tìm... 
phù hợp với điều kiện kinh tế. Hơn nữa đã có 
nghiên cứu về tính an toàn và hiệu quả của bóng 
chèn lòng tử cung khi dùng sonde Foley [4].
Tỉ lệ thành công của phương pháp bóng chèn 
lòng tử cung là 95,35%. Nghiên cứu của chúng 
Yếu tố khảo sát Giá trị p
Tuổi mẹ 0,802
Nghề nghiệp của mẹ 0,286
Số con còn sông 0,651
Bệnh lý nội khoa đi kèm 0,628
Tiền căn BHSS 0,828
Tuổi thai 0,677
Chỉ số ối 0,594
Vị trí nhau bám 0,700
Cân nặng của con 0,906
Lượng máu mất khi chẩn đoán BHSS 0,111
Lượng máu mất từ lúc chẩn đoán BHSS đến khi đặt bóng chèn lòng tử cung 0,212
Lượng máu mất thêm sau khi đặt bóng chèn lòng tử cung 0,227
Lượng dịch bơm vào bóng chèn lòng tử cung 0,980
Thời gian chẩn đoán BHSS 0,118
Thời gian từ lúc chẩn đoán BHSS đến khi đặt bóng chèn lòng tử cung 0,030
Bảng 6. Bảng mối liên quan giữa tỉ lệ thành công và các yếu tố
Năm Tác giả Số ca thực hiện
Số trường hợp thành 
công
1991 Katesmark [10] 17 15/17 (88,24%)
2001 Johanson [9] 2 2/2 (100%)
2001 - 2002 Khoa sản Trường viện Dhaka - Bangladesh [12] 23 23/23 (100%)
2003 Condous và cộng sự [7] 16 14/16 (87,50%)
2005 Maier và cộng sự [13] 17 15/17 (88,24%)
2005 Akhter và cộng sự [4] 2 2/2 (100%)
2007 – 2008 Nguyễn Thị Minh Tuyết [1] 56 54/56 (96,43%)
5-11/2015 Khairy [11] 20 17/20 (85%)
7/2009-3/2014 Hee Young Cho [6] 64 48/64 (75%)
4-10/2013 Gao Yu [8] 109 102/109 (93,6%)
10/2014-12/2015
Atef M. Darwish [5]
Sonde Bakri
Sonde foley
33
33
30
28
(91%)
(84,84%)
Bảng 7. So sánh tỉ lệ thành công của các nghiên cứu
tôi cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu 
khác, tỷ lệ thành công từ 75% đến 100% [4], 
[9], [13].
Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng sonde Foley 
làm bóng chèn lòng tử cung, so với các nghiên 
cứu khác sử dụng sonde Sengstaken- Bakemore, 
bóng Rusch, sonde Bakri tỷ lệ thành công phù hợp. 
Cũng phù hợp với tỷ lệ thành công của nghiên cứu 
Khairy và của sử dụng sonde Foley. Do hiệu quả 
cầm máu của bóng chèn lòng tử cung dựa vào 
nguyên lý chèn một áp lực lớn hơn áp lực tại vị trí 
chảy máu nên dùng sonde Foley làm bóng chèn 
lòng tử cung cũng cho hiệu quả cao. Do tác dụng 
cầm máu tại chỗ dựa trên nguyên tắc tạo một áp 
lực lên đoạn dưới tử cung (nơi không có lớp cơ 
chéo nên tác dụng cầm máu tại chỗ yếu) và tại vị 
trí nhau bám, khi tử cung càng gò, áp lực lên các 
vị trí chèn của bóng càng tăng tác dụng cầm máu. 
Máu chảy ra từ ống dẫn lưu là máu chảy trong 
lòng tử cung ngoài khoảng đặt bóng (bao gồm cả 
lượng máu còn ứ lại trong lòng tử cung trước khi 
đặt bóng), lượng máu chảy ra này sẽ ngày càng 
giảm và ngừng dần khi tử cung gò tốt.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có hai trường 
hợp chẩn đoán thất bại. Cả hai trường hợp này 
thời gian theo dõi tại phòng sinh ngắn là 3 giờ 
và 5 giờ. Thời gian chẩn đoán BHSS là 5 phút và 
7 phút. Thời gian từ lúc chẩn đoán BHSS đến lúc 
đặt bóng chèn lòng tử cung là 15 phút và 20 phút 
nên lượng máu mất thêm khá nhiều (200 - 300 
ml). Lượng máu mất tổng cộng từ 900 ml và 1450 
ml. Do đó, trên sản phụ có nhiều nguy cơ BHSS 
cần theo dõi sát để chẩn đoán BHSS sớm, xử trí 
kịp thời. Nguyên nhân băng huyết được nghĩ là 
do tử cung gò kém, do đó, lượng dịch bơm 180ml 
có thể tạo áp lực không đủ để có tác dụng cầm 
máu hay ống dẫn lưu theo dõi lượng máu chảy ra 
từ lòng tử cung bị nghẽn nên cho hiệu quả cầm 
máu giả. Do đó, các trường hợp sau khi đặt bóng 
chèn lòng tử cung cần được theo dõi sát về tổng 
trạng, sinh hiệu trên lâm sàng để phát hiện sớm 
các trường hợp chảy máu ẩn trong lòng tử cung.
Theo nghiên cứu của Katesmark[10] và cộng 
sự báo cáo nghiên cứu dùng sonde Sengstaken-
Blakemore làm bóng chèn lòng tử cung phối hợp 
oxytocin trên 17 trường hợp BHSS điều trị nội thất 
bại, ghi nhận có 2 trường hợp thất bại nguyên 
LÊ CAO TUẤN, NGUYỄN ĐÌNH TUYẾN, ĐẶNG NGỌC THUẬN, NGUYỄN XUÂN MINH, NGUYỄN VĂN SÁU,
LỮ THỊ THÙY QUYÊN, ĐINH THỊ MỸ HÒA, TRƯƠNG THÙY DƯƠNG, TRẦN THỊ BÍCH KHUÊ
34
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
nhân được nghĩ là do bơm không đủ lượng dịch 
vào bóng chèn lòng tử cung. Hai trường hợp này 
có lượng dịch bơm vào bóng chèn lòng tử cung là 
200 ml và 300 ml. Theo nghiên cứu của Maier và 
cộng sự[13], nghiên cứu dùng sonde Sengstaken- 
Blakemore xử trí 17 trường hợp BHSS thất bại với 
điều trị nội khoa và Hb trung bình là 4 mg%, có 2 
trường hợp thất bại do rách cổ tử cung, 1 trường 
hợp có biến chứng nhiễm trùng tử cung.
Bạch cầu trong giới hạn bình thường, không 
tăng cao. Trong quá trình tiến hành thủ thuật 
chúng tôi tuân thủ tối đa qui tắc vô trùng, hạn chế 
ít nhất lây nhiễm ngược dòng. Trong mẫu nghiên 
cứu không ghi nhận trường hợp nào có bệnh viêm 
nhiễm phụ khoa trong tiền căn. Thêm vào đó, mẫu 
nghiên cứu đã loại trừ các trường hợp có dấu hiệu 
nhiễm trùng trước đó. Theo các nghiên cứu của 
Katesmark và cộng sự[10] báo cáo nghiên cứu 
thực hiện dùng sonde Sengstaken-Blakemore làm 
bóng chèn lòng tử cung phối hợp oxytocin trên 
17 trường hợp BHSS điều trị nội thất bại. Có 1 
trường hợp nghi nhiễm trùng huyết sau thủ thuật, 
phải cắt tử cung. Nghiên cứu của Seror và cộng 
sự, nghiên cứu dùng sonde Sengstaken-Blakemore 
17 trường hợp BHSS thất bại với điều trị nội khoa 
và Hb trung bình là 4 mg%, kết quả có 1 trường 
hợp có biến chứng nhiễm trùng tử cung. Nghiên 
cứu này có thời gian lưu bóng chèn lòng tử cung từ 
8 đến 30 giờ. Có thể đây là một trong những yếu 
tố nguy cơ gây nhiễm trùng tử cung [13]. Theo 
nghiên cứu Gao Yu trên 109 trường hợp đặt bóng 
chèn lòng tử cung với thời gian lưu bóng chèn 
trung bình là 22±3 giờ thì không ghi nhận trường 
hợp nào xuất hiện dấu hiệu nhiễm trùng [8]. 
Ưu điểm và hạn chế của đề tài
Phương pháp bóng chèn lòng tử cung có 
những ưu điểm:
- Sonde Foley dùng làm bóng chèn lòng tử 
cung đơn giản, dễ tìm, kinh tế.
- Kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện.
- Hiệu quả nhanh, dễ nhận thấy.
- Tỷ lệ thành công cao.
Theo công thức tính cỡ mẫu, cỡ mẫu tối thiểu 
là 43 trường hợp và thực tế chúng tôi đã tiến hành 
nghiên cứu trên 43 trường hợp. BHSS là một tai 
biến sản khoa nên việc phát hiện sớm và điều 
trị tích cực là cần thiết. Việc phòng ngừa BHSS 
không do chấn thương đường sinh dục với các 
thuốc gò tử cung đã làm giảm nhiều tỷ lệ BHSS, 
do vậy tỉ lệ BHSS tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng 
Ngãi từ khi sử dụng phương pháp này đã giảm 
đáng kể. Ngoài ra, nghiên cứu được thực hiện 
trong thời gian tương đối ngắn và cỡ mẫu chưa 
đủ lớn nên các phân tích mối liên quan giữa tỉ 
lệ thành công và các yếu tố chưa đủ mạnh về ý 
nghĩa thống kê để kết luận. Hơn nữa, đây là một 
cấp cứu sản khoa cần được xử trí cấp thời, thời 
gian được tính bằng phút, với những bác sĩ có 
nhiều kinh nghiệm, nên nhóm nghiên cứu gồm có 
những bác sĩ trưởng phó khoa sản và phiên trực 
cùng tham gia xử trí. Cả nhóm nghiên cứu đã cố 
gắng tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn 
chọn vào mẫu nghiên cứu một cách tốt nhất.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu 43 trường hợp bóng chèn lòng 
tử cung điều trị băng huyết sau sinh chúng tôi rút 
ra một số kết luận như sau:
- Tỉ lệ thành công của phương pháp bóng 
chèn lòng tử cung trong xử trí băng huyết sau sinh 
không do tổn thương đường sinh dục là 95,35% 
(41/43trường hợp).
- Thời gian trung bình chẩn đoán phương pháp 
bóng chèn lòng tử cung có hiệu quả cầm máu từ 
10 - 17 phút. Thời gian lưu bóng chèn lòng tử cung 
từ 6 - 12 giờ. Lượng dịch bơm vào bóng chèn lòng 
tử cung từ 130 - 200 ml.
- Lượng máu mất thêm sau khi đặt bóng chèn 
lòng tử cung đến khi chẩn đoán phương pháp 
thành công không đáng kể: từ 10 đến 50ml.
- Trong nghiên cứu của chúng tôi không có 
trường hợp nào gặp tai biến trong suốt quá trình 
nghiên cứu.
- Điều trị băng huyết sau sinh không do tổn 
thương đường sinh dục sau điều trị nội thất bại 
bằng phương pháp bóng chèn lòng tử cung là một 
phương pháp điều trị bảo tồn an toàn và hiệu quả.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
35
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 28 - 35, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thị Minh Tuyết (2008), Đánh giá hiệu quả của đặt bóng 
chèn lòng tử cung điều trị băng huyết sau sanh tại bệnh viện Từ Dũ, 
Tạp chí Y học Hồ Chí Minh. 2009; 13(1): 32-38.
2. Phạm Thanh Hải (2010), Báo cáo băng huyết sau sinh, Bệnh viện 
Từ Dũ.
3. Phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh viện Từ Dũ (2016), Báo cáo tổng 
kết hoạt động bệnh viện.
4. Akhter S, Begum MR, Kabir J.Foley (2005), Hydrostatic tamponade 
for massive postpartum hemorrhage, Int J Gynecol Obstet, 90, pp. 134-5. 
5. Atef M. Darwish, Mohamed M. Abdallah, Omar M. Shaaban, 
Mohammed K. Ali, Mohamed Khalaf & Ali Mohamed A. Sabra (2018) Bakri 
balloon versus condom-loaded Foley’s catheter for treatment of atonic 
postpartum hemorrhage secondary to vaginal delivery: a randomized 
controlled trial, The Journal of Maternal-Fetal & Neonatal Medicine, 31 
(6), pp. 747-753.
6. Cho HY, Park YW, Kim YH, Jung I, Kwon JY (2015), Efficacy of 
Intrauterine Bakri Balloon Tamponade in Cesarean Section for Placenta 
Previa Patients, PLoS One., 10(8).
7. Condous GS, Arulkumaran S, Symonds I. (2003), The "tamponade 
test" in the management of massive postpartum hemorrhage, Obstet 
Gynecol, 101, pp. 767-72.
8. Gao Yu, Wang Zilian, Zhang Jianping, et al. (2014), The efficacy and 
safety of Bakri hemostasis balloon in the treatment of postpartum hemorrhage, 
Chinese Journal of Obstetrics and Gynecology, 49 (09 ), pp. 670-675.
9. Johanson R, Kumar M, Obrai M (2001), Management of massive 
postpartum hemorrhage: use of a hydrostatic balloon catheter to avoid 
laparotomy, Br J Obstet Gynaecol, 108, pp. 420-2.
10. Katesmark M, Brown R, Raju KS (1994), Successful use of a 
Sengstaken- Blakemore tube to control massive postpartum hemorrhage, 
Br J Obstet Gynaecol, 101, pp. 259-260. 
11. Khairy, Mohammed & Abbas, Ahmed & Abdelbadee, Ahmed & 
Shazly, Sherif & M. AbdelMagied, Ahmed. (2016), Use of Foley's catheter 
balloon tamponade to control placental site bleeding resulting from major 
placenta previa during cesarean section, Obstetrics and Gynecology, 6.
12. Lester WM, Bartholomew RA, Colvin ED, Grimes WH, Fish JS, 
Galloway WH (1965), Reconsideration of the uterine pack in postpartum 
haemorrhage, Am J Obstet Gynecol, 93, pp. 321-329. 
13. Maier RC., Seror M. (2005), Control of postpartum hemorrhage with 
uterine packing, Am J Obstet Gynecol, 169, pp. 317-321.
14. WHO and UNICEF (2012), Countdount to 2015: Maternal, 
Newborn and Child Survival [Internet]. Available at: 
countdown2015mnch.org/documents/2012Report
/2012- Complete.pdf. Last accessed 1 September 2012.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_hieu_qua_dat_bong_chen_long_tu_cung_bang_sonde_fo.pdf