Nghiên cứu giá trị tiên lượng tình trạng thai của thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius trên thai chậm phát triển trong tử cung

Mục tiêu: Đánh giá, so sánh kết quả thăm dò siêu âm doppler động

mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius và với tình trạng sơ sinh

trong trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 252 sản phụ có một

thai, từ 28 tuần được chẩn đoán thai chậm phát triển trong tử cung, điều

trị tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1/2011

đến tháng 11/2015, được theo dõi thai bằng nhiều phương pháp trong đó

có thăm dò siêu âm doppler các động mạch rốn, doppler động mạch não

và doppler tĩnh mạch Arantius. Trẻ Sơ sinh ngay khi đẻ được lấy máu

cuống rốn và chẩn đoán suy thai nặng khi pH ≤ 7,15 hoặc BE < -="">

Kết quả: Giá trị chẩn đoán tình trạng thai sau sinh của thăm dò doppler

động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius có độ nhạy, độ đặc

hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính tương ứng

62,5%, 96,4%, 71,4%, 94,6% và 69,7%, 95,4%, 69,7%, 95,4%. Khi kết

hợp cả hai thăm dò doppler này thì giá trị chẩn đoán tăng có ý nghĩa

thống kê với độ nhạy là 75,0%, độ đặc hiệu 95,9%, giá trị chẩn đoán

dương tính tăng 72,7% và giá trị chẩn đoán âm tính cao 96,3%.

Kết luận: Trên những thai chậm phát triển trong tử cung bất thường

hình thái phổ sóng doppler có giá trị dự báo suy tuần hoàn thai và các

bất thường doppler ống tĩnh mạch Arantius kết hợp doppler động mạch

rốn rất có giá trị đánh giá trong theo dõi thai trong thai trong tử cung.

pdf 6 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu giá trị tiên lượng tình trạng thai của thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius trên thai chậm phát triển trong tử cung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu giá trị tiên lượng tình trạng thai của thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius trên thai chậm phát triển trong tử cung

Nghiên cứu giá trị tiên lượng tình trạng thai của thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius trên thai chậm phát triển trong tử cung
ĐÀO THỊ HOA, NGUYỄN VIẾT TIẾN, TRẦN DANH CƯỜNG, TRẦN THỊ TÚ ANH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
08
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Đào Thị Hoa(1), Nguyễn Viết Tiến(2), Trần Danh Cường(2), Trần Thị Tú Anh(1)
(1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TÌNH TRẠNG THAI 
 CỦA THĂM DÒ DOPPLER ĐỘNG MẠCH RỐN
VÀ DOPPLER ỐNG TĨNH MẠCH ARANTIUS
TRÊN THAI CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG TỬ CUNG
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá, so sánh kết quả thăm dò siêu âm doppler động 
mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius và với tình trạng sơ sinh 
trong trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 252 sản phụ có một 
thai, từ 28 tuần được chẩn đoán thai chậm phát triển trong tử cung, điều 
trị tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1/2011 
đến tháng 11/2015, được theo dõi thai bằng nhiều phương pháp trong đó 
có thăm dò siêu âm doppler các động mạch rốn, doppler động mạch não 
và doppler tĩnh mạch Arantius. Trẻ Sơ sinh ngay khi đẻ được lấy máu 
cuống rốn và chẩn đoán suy thai nặng khi pH ≤ 7,15 hoặc BE < - 8mmol/l.
Kết quả: Giá trị chẩn đoán tình trạng thai sau sinh của thăm dò doppler 
động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius có độ nhạy, độ đặc 
hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính tương ứng 
62,5%, 96,4%, 71,4%, 94,6% và 69,7%, 95,4%, 69,7%, 95,4%. Khi kết 
hợp cả hai thăm dò doppler này thì giá trị chẩn đoán tăng có ý nghĩa 
thống kê với độ nhạy là 75,0%, độ đặc hiệu 95,9%, giá trị chẩn đoán 
dương tính tăng 72,7% và giá trị chẩn đoán âm tính cao 96,3%.
Kết luận: Trên những thai chậm phát triển trong tử cung bất thường 
hình thái phổ sóng doppler có giá trị dự báo suy tuần hoàn thai và các 
bất thường doppler ống tĩnh mạch Arantius kết hợp doppler động mạch 
rốn rất có giá trị đánh giá trong theo dõi thai trong thai trong tử cung.
Từ khóa: Thai chậm phát triển trong tử cung, doppler động mạch rốn, 
doppler ống tĩnh mạch Arantius, tình trạng sơ sinh.
Abstract 
 COMPARISON DOPPLER EVALUATION AND 
RELATIONSHIP BETWEEN OF UMBICAL ARTERY 
FLOW AND THE DUCTUS VENOSUS WAVEFORM 
IN THE PREDICTION OF ADVERSE PERINATAL 
OUTCOME IN GROWTH - RESTRICTED FETUSES
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đào Thị Hoa,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: Thai chậm phát triển 
trong tử cung, doppler động 
mạch rốn, doppler ống tĩnh 
mạch Arantius, tình trạng sơ 
sinh. 
Keywords: Fetal growth 
restriction, umbilical waveform, 
ductus venosus, perinatal 
outcome.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 08 - 13, 2016
09
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Thai chậm phát triển trong tử cung là tình 
trạng thai nhi bị suy dinh dưỡng ngay từ khi còn 
nằm trong tử cung. Thai được coi là chậm phát 
triển trong tử cung khi ước trọng lượng thai nằm 
dưới đường bách phân vị thứ 10 tương ứng với 
tuổi thai và theo chủng tộc 
Thiếu oxy não là nguyên nhân chính, chiếm 
50-60% các nguyên nhân gây tử vong, ngạt và 
bệnh lý sơ sinh. Vì vậy theo dõi sát và đánh giá 
tình trạng đúng suy tuần hoàn thai có vai trò rất 
quan trọng quyết định phương pháp và thời điểm 
xử trí thích hợp với các thai nghén nguy cơ suy 
thai cao, đặc biệt trong trường hợp thai chậm 
phát triển trong tử cung. Điều này rất có ý nghĩa 
với thầy thuốc, giúp giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh, 
chu sinh, giảm biến chứng, di chứng thần kinh, 
vận động, chậm phát triển tâm thần của trẻ góp 
phần nâng cao chất lượng dân số và giúp giảm 
gánh nặng cho xã hội [15].
Siêu âm là phương pháp thăm dò không xâm lấn, 
được áp dụng rộng rãi trong sản phụ khoa, với nhiều 
ưu điểm vượt trội. Ngoài áp dụng để thăm dò hình 
thai học thai còn ứng dụng siêu âm doppler mạch 
máu như hệ động mạch, tĩnh mạch thai: động mạch 
Objective: To compare Doppler evaluation of the ductus venosus and umblitical artery for the prediction 
of adverse perinatal outcomes in growth-restricted fetuses with evidence of hemodynamic redistribution.
Methods: A prospective study involving 252 patients were collected from all singleton pregnancies who 
underwent antenatal monitoring for fetal growth restriction treated in the National Hospital of Gynecology 
and Obstetrics from January 2011 to january 2015. Data were collected from all singleton pregnancies 
who underwent antenatal monitoring for fetal growth restriction and ductus venosus waveform results. 
Peri-natal outcome was evaluated by means of four variables: an umbilical artery, pH ≤ 7.15 and significant 
neonatal morbidity. Outcome was compared among fetuses delivered of their antenatal test. Logistic 
regression analysis was used to analyze the relation between predictive and outcome variables.
Results: for the study, in IUGR fetuses, the predictive value for perinatal outcome of abnormal 
umblitical artery versus ductus venosus waveform with the sensitivity, spesifivity positive values, 
negative predictive values were 62.5%, 96.4%, 71.4%, 94.6% and 69.7%, 95.4%, 69.7%, 95.4%. 
75.0%, 95.9%. The predictive value for perinatal outcome of abnormal umblitical artery and ductus 
venosus waveform were 75.0%, 95.9%,72.7%,96.3%.
Conclusion: venous Doppler velocimetric signs of cardiac decompensation might predict fetal 
demise and the umbilical artery flow and venose Doppler evaluation might give valuable clinical 
information for surveillance in IUGR fetuses.
Keywords: fetal growth restriction, umbilical waveform, ductus venosus, perinatal outcome.
rốn và động mạch não, tĩnh mạch rốn, Arantius, dựa 
vào kết quả này thầy thuốc có thể biết tốc độ các dòng 
chảy các mạch máu, đo độ trở kháng các động mạch 
từ đó có thể biết thai nhi có hay suy thai hay không, 
có hiện tượng phân bố lại tuần hoàn thai trong trường 
hợp thai suy, từ đó có thể tiên lượng được thai nhi có 
khả năng thích nghi với tình trạng suy thai, thiếu oxy 
hay không và ngược lại.
Theo các nghiên cứu trên thế giới nếu có bất 
thường giá trị dopper động mạch rốn như tốc độ 
dòng tâm trương bằng 0 hoặc đảo ngược và có 
sự thay đổi hình dạng phổ doppler ống tĩnh mạch 
Arantius như sóng a ≤ 0 hoặc tăng chỉ số xung 
IP thì sẽ tăng nguy cơ suy thai và toan hóa máu 
thai [1][9][12]. Tuy nhiên ở Việt Nam còn ít nghiên 
cứu về siêu âm doppler hệ động mạch kết hợp với 
doppler tĩnh mạch thai và đánh giá những thay 
đổi của doppler hệ tĩnh mạch với doppler động 
mạch trong trường hợp thai nghén có nguy cơ cao 
như trong thai chậm phát triển trong tử cung nên 
chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu: 
Đánh giá, so sánh giá trị tiên lượng suy thai của 
phương pháp thăm dò siêu âm doppler động mạch 
rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius trên thai 
chậm phát triển trong tử cung
ĐÀO THỊ HOA, NGUYỄN VIẾT TIẾN, TRẦN DANH CƯỜNG, TRẦN THỊ TÚ ANH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
10
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
2.Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
252 sản phụ có một thai, không có bất thường 
hình thái học, nhiễm sắc thể tuổi thai từ 28 đến 
41 tuần được chẩn đoán là thai chậm phát triển 
trong tử cung được theo dõi tại khoa sản bệnh lý, 
Bệnh viện Phụ sảnTrung ương từ tháng 5/2011 
đến tháng 1/2015.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, các bệnh nhân có 
đủ các tiêu chuẩn, được chẩn đoán là thai chậm 
phát triển trong tử cung với ước đoán trọng lượng 
thai nhi nằm dưới đường bách phân vị số 10 tương 
ứng theo tuổi thai theo đường bách phân vị trọng 
lượng thai nhi Việt Nam [2][3].
Sản phụ được siêu âm hình thái học thai, đo 
các chỉ số sinh học và phần phụ thai, đánh giá tình 
trạng ối, khẳng định là thai chậm phát triển trong tử 
cung; Thăm dò doppler hệ động mạch như doppler 
động mạch rốn, động mạch não giữa, động mạch 
tử cung, siêu âm doppler ống tĩnh mạch Arantius, 
kết quả được so sánh với giá trị sinh lý theo tuổi 
thai [7][8][14][16]; Theo dõi nhịp tim thai bằng 
máy monitoring sản khoa, theo dõi đơn thuần (test 
không đả kích) theo phác đồ điều trị của Bệnh viện. 
Kết quả thăm dò doppler động mạch rốn bất thường 
khi chi số xung PI >2SD theo đường bách phân vi 
tương ứng tuổi thai hoặc tốc độ dòng tâm trương 
(AEDV) bằng 0 hoặc đảo ngược (REDV). ống tĩnh 
mạch Arantius bất thường khi sóng a bằng, hoặc 
nhỏ hơn 0 (a≤0), PI cao hơn giá trị trên đường 
bách phân vị số 95 theo tuổi thai dựa trên kết quả 
biểu đồ bách phân vị công bố của Hechet và cộng 
sự [9]. Kết quả nghiên cứu ghi lại là số liệu các 
thăm dò siêu âm dopler làm trong vòng 24h trước 
khi sinh. Trẻ sơ sinh sau khi đẻ được kẹp dây rốn 
trước khi khóc, lấy ngay máu động mạch rốn vào 
bơm tiêm 1 ml có tráng Heparin chống đông và gửi 
ngay khoa sơ sinh phân tích khí máu, đo pH, BE, 
đánh giá thăng bằng kiềm toan. Chẩn đoán suy 
thai nặng khi pH ≤ 7.15 hoặc BE<- 8mmol/l [12]
[13] sau đó sơ sinh được cân và so cân nặng với 
đường bách phân vị theo tuổi thai.
Số liệu được phân tích, xử lý trên phần mềm 
thống kê y học SPSS 16.0, áp dụng các thuật toán 
thống kê. Kết quả phân tích có ý nghĩa nếu p < 0.05 
3. Kết quả và bàn luận
3.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu
3.1.1. Số bệnh nhân
252 sản phụ có đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên 
cứu. Không có trường hợp nào có bất thường cấu 
trúc thai, không có bất thường nhiễm sắc thể thai
3.1.2. Tuổi thai
Tuổi thai chia theo nhóm: 57 trường hợp thai 
28-32 tuần, 108 tuổi thai 33-36 tuần và 87 trường 
hợp tuổi thai ≥37 tuần. 
3.1.3. Cách đẻ
241/252 bệnh nhân mổ lấy thai và 11 trường 
hợp đẻ thường, 11 bệnh nhân này là những trường 
hợp thai lưu trong quá trình theo dõi. Các bệnh nhân 
mổ lấy thai đều được gây tê tủy sống nên kết quả ít 
bị ảnh hưởng bởi phương pháp giảm đau, gây mê.
3.1.4. Tuổi bệnh nhân nhóm nghiên cứu 
Trung bình nhóm bệnh nhân nghiên cứu 29.2 tuổi. 
Hầu hết các bệnh nhân đều nằm trong độ tuổi sinh 
đẻ, nhiều nhất tập trung ở nhóm 25 đến 34 (57%), 
bệnh nhân nhiều tuổi nhất là 45 và thấp nhất 19 tuổi. 
Nhóm tuổi Số lượng Tỷ lệ (%)
<= 24 55 21,8
25-29 90 35,7
30-34 54 21,4
35-39 42 16,7
>= 40 11 4,4
Tổng 252 100
Bảng 1. Phân bố tuổi bệnh nhân
Biểu đồ 1. Phân bố nhóm tuổi bệnh nhân
Biểu đồ 2 . Phân bố số con hiện còn sống ở nhóm phụ nữ mang thai tham gia nghiên cứu
3.1.5. Số lần đẻ
 Con so: 138 bệnh nhân trong nhóm nghiên 
cứu (54,8 %); 101 con rạ, lần 2 (40,1%); 3 trường 
hợp đẻ con lần 3 (1,2% ).
3.2. pH máu động mạch rốn sơ sinh 
sau đẻ
Tổng số trường hợp lấy máu cuống rốn 241 
do có 11 trường hợp thai lưu trong quá trình theo 
dõi. Có 16/241 trường hợp pH≤ 7,15 hoặc có 
BE< - 8 mmol/l, những bệnh nhân này trước đó 
100% có rối loạn tuần hoàn động mạch rốn, động 
mạch não, bất thường sóng doppler ống tĩnh mạch 
Arantius, có sóng a âm, a ≤ 0
3.3. Kết quả thăm dò doppler động 
mạch rốn
Có 32 trường hợp có bất thường doppler ĐM 
rốn, sau đẻ có 20/32 suy thai (chiếm 62,5%). 
Trong khi đó 8/220 trường hợp doppler ĐMR bình 
thường có suy thai sau đẻ (chiếm 3,6%).
3.4. Kết quả thăm dò doppler tĩnh 
mạch Arantius
Có 33 trường hợp sóng a ≤ 0. Trong đó có 11 
trường hợp diễn biến thai lưu, có 11 pH ≤ 7,15 và 
11 trường hợp pH >7,15; 14/33 trường hợp sóng 
a ≤ 0 máu cuống rốn sơ sinh có BE <-8 mmol/l. Kết 
hợp tiêu chẩn chuẩn đoán suy thai dựa pH và BE thì 
có 23/33 (69,6%) sóng a ≤ 0 có suy thai sau đẻ.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 08 - 13, 2016
11
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Tuổi thai(tuần) 
 pH 28-32 33-36 ≥ 37 Tổng (%)
≤ 7,15 hoặc BE< -8 13 2 1 16 (6,7)
7,15 < pH < 7.25 14 20 5 39 (16,1)
≥ 7,25 21 84 81 186 (77,2)
Tổng 48 106 87 241
Không lấy do thai lưu 11
Bảng 2. pH máu động mạch rốn sơ sinh
Dopper ĐMR
pH
Tổng số
Suy thai Không suy thai
Bất thường VD=0, đảo ngược 20 12 32
Bình thường 8 212 220
Tổng số 28 224 252
Bảng 3. Kết quả thăm dò doppler ĐMR
Doppler Arantius
pH BE pH+BE
Suy thai không Suy thai không Suy thai không
Sóng a ≤ 0 22 11 14 19 23 10
a bình thường 6 213 5 214 10 209
Tổng 28 224 19 233 33 219
Bảng 4. Kết quả thăm dò doppler tĩnh mạch Arantius
3.5. So sánh giá trị hai phương pháp: 
siêu âm doppler động mạch rốn và 
doppler tĩnh mạch Arantius
Kết quả doppler động mạch rốn có giá trị chẩn 
đoán suy thai trên những thai chậm phát triển trong 
tử cung với độ nhạy, đặc hiệu, giá trị chẩn đoán 
dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính tương ứng 
62,5%, 96,4%, 71,4%, 94,6% . Còn với thăm dò 
doppler ống tĩnh mạch nếu có bất thường sóng a 
thì rất có giá trị chẩn đoán thai suy với độ nhạy, 
đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn 
đoán âm tính 69,7%, 95,4%, 69,7%, 95,4%.
 Đặc biệt khi kết hợp cả hai phương pháp thăm 
dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh 
mạch Arantius nếu có bất thường cả trên doppler 
ĐMR và tĩnh mạch Arantius thì độ nhạy sẽ là 
75,0%, tăng độ đặc hiệu lên 95,9%, giá trị chẩn 
đoán dương tính cũng tăng 72,7% và giá trị chẩn 
đoán âm tính cao 96,3%.
4. Bàn luận
4.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu
252 sản phụ có đủ tiêu chuẩn tham gia 
nghiên cứu. 
Hầu hết các bệnh nhân đều nằm trong độ tuổi 
sinh đẻ, nhiều nhất tập trung ở nhóm 25 đến 34, 
nhiều tuổi nhất là 45 và thấp nhất 19 tuổi. Tuổi 
trung bình nhóm bệnh nhân nghiên cứu 29,2 tuổi. 
Trong nhóm nghiên cứu có 3 trường hợp đẻ 
con lần 3 (1,2% ). 138 bệnh nhân là con so (54,8 
%), 101 con rạ, như vậy thai chậm phát triển 
trong tử cung có thể gặp ở bất cứ lần sinh nào 
của sản phụ
Có 241 bệnh nhân mổ lấy thai và 11 trường 
hợp đẻ thường. 11 bệnh nhân này là những trường 
hợp thai lưu trong quá trình theo dõi. 14 trường 
hợp sau đẻ só suy thai nặng pH ≤ 7,15 hoặc BE 
<-8 mmol/l, chiếm tỷ lệ 5,8%.
Giá trị
Phương pháp
pH ≤ 7,15 
BE<8mmol/l Độ 
nhạy
Độ đặc 
hiệu
Giá trị 
CĐ (+)
Giá trị 
CĐ (-) P
Suy thai Không ST
Doppler 
Arantius
Suy thai 23 10 69,7 95,4 69,7 95,4 <0,0001
BT 10 209
Doppler 
ĐMR
Suy thai 20 12
62,5 96,4 71,4 94,6
<0,0001
BT 8 212
Arantius
+ ĐMR
Bất thường 24 9
75.0 95,9 72,7% 96,3 <0,0001Bình thường 8 211
Bảng 5. Giá trị chẩn đoán suy thai của thăm dò doppler ĐMR và ống TM Arantius
ĐÀO THỊ HOA, NGUYỄN VIẾT TIẾN, TRẦN DANH CƯỜNG, TRẦN THỊ TÚ ANH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
12
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
4.2. Kết quả thăm dò doppler động 
mạch rốn
Trong nghiên cứu của chúng tôi sau đẻ có 
20/32 bất thường doppler động mạch rốn có suy 
thai thực sự (62,5%). Trong khi đó chỉ có 8/220 
trường hợp doppler ĐMR bình thường có suy thai 
sau đẻ (chiếm 3,6%) như vậy bằng doppler động 
mạch rốn chúng ta có thể tìm ra những trường hợp 
nào thai có nguy cơ cao để theo dõi sát và tiến hành 
các xét nghiệm khác để phát hiện dự phòng các 
biến chứng thai. Tương tự, Bilardo và cộng sự tiến 
hành nghiên cứu trên 70 trường hợp thai chậm phát 
triển trong tử cung thấy rằng những trường hợp có 
bất thường doppler động mạch rốn với tốc độ dòng 
tâm trương bằng 0 hoặc đảo ngược thì thấy tăng rõ 
rệt nguy cơ tử vong và biến chứng chu sinh [4][5]
4.3. Kết quả thăm dò doppler ống tĩnh 
mạch Arantius
22/33 thai chậm phát triển trong nhóm nghiên 
cứu có sóng a bất thường có diễn biến thai suy thực sự 
sau sinh hoặc thai lưu trong quá trình theo dõi. Như 
vậy sự xuất hiện của sóng a rất có giá trị báo trước 
tiên lượng thai xấu với giá trị chẩn đoán dương tính 
69,7% và có ý nghĩa hơn khi chỉ có 6/291 trường hợp 
sóng a bình thường có suy thai sau sinh, với giá trị 
chẩn đoán âm tính 95,4%. Như vậy với những trường 
hợp thai nghén có nguy cơ cao suy tuần hoàn nếu 
sóng a của phổ doppler ống tĩnh mạch Arantius bình 
thường tại thời điểm thăm dò thì chúng ta có thể kết 
luận nguy cơ toan hóa máu của thai không cao [6][8].
4.4. So sánh giá trị chẩn đoán suy thai 
giữa thăm dò doppler động mạch rốn và 
doppler ống tĩnh mạch Arantius
Thai chậm phát triển trong tử cung là bệnh lý hay 
gặp trên lâm sàng, một trong những nguyên nhân 
chính gây thai chết lưu và bệnh lý chu sinh. Nghiên 
cứu của chúng tôi thấy mối liên quan chặt chẽ giữa 
bất thường doppler động mạch tử cung và bất thường 
doppler ống tĩnh mạch Arantius trên nhóm bệnh nhân 
có rối loạn suy giảm tuần hoàn tử cung thai này. Hầu 
hết các thai chậm phát triển đều có biến động tuần 
hoàn thai, bất thường doppler động mạch rốn xuất 
hiện trước bất thường doppler động mạch não và sau 
cùng là bất thường doppler tĩnh mạch Arantius và gây 
ra mất thăng bằng kiềm toan máu thai nhi [5][6][7]
[15]. Bachat là người nghiên cứu rất nhiều về doppler 
mạch máu thai thấy rằng khi có bất thường doppler 
động mạch rốn, não thì cần phải dự báo được thời 
điểm lấy thai tránh toan máu thai gây những biến 
chứng nặng cho sơ sinh. Lúc này doppler ống tĩnh 
mạch Arantius rất có giá trị. Trong trương hợp doppler 
động mạch não PI bình thường, tốc độ dòng tâm 
trương động mạch rốn bằng 0 hoặc đảo ngược thi cần 
làm Doppler Arantius, nếu thay đổi có giá trị khẳng 
định trước đó và hiện tại có sự thay đổi tuần hoàn trung 
tâm và sau sinh nhóm thai này có tỷ lệ tử vong và bệnh 
lý cao hơn hẳn thai không có biến đổi [7]. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tối tương tự như của 
Bilardo và Baschat trên thai chậm pháp triển các tác 
giả đã đư ra khuyến cáo nếu có bất thường doppler 
động mạch rốn, thai có nguy cơ suy giảm tuần hoàn 
thì doppler ống tĩnh mạch Arantius là thăm dò tốt, có 
giá trị. Các tác giả đã so sánh giá trị chẩn đoán tiên 
đoán dương tính giữa phương pháp thăm dò tim thai 
với thăm dò doppler ống tĩnh mạch Arantius về nhu 
cầu chăm sóc tích cực thai nghén, tỷ lệ tử vong, bệnh 
lý chu sinh, tỷ lệ đặt nội khí quản sau sinh và pH máu 
rốn sơ sinh tương ứng: 81,5%, 26%, 48%, 55% so 
với 45%, 13%, 26%, 29%. Như vậy thăm dò doppler 
Arantius đã đưa ra chẩn đoán, đánh giá sát với tình 
trạng thai hơn và giúp các thầy thuốc đưa ra quyết 
định đình chỉ thai nghén đúng thời điểm tránh những 
can thiệp quá sớm chưa cần thiết nhất là trong những 
trường hợp thai non tháng 
5. Kết luận
- Bất thường phổ doppler ống tĩnh mạch 
Arantius rất có giá trị chẩn đoán suy thai.
- Thăm dò Doppler động mạch rốn có giá trị 
chẩn đoán suy thai trên những thai chậm phát triển 
trong tử cung với độ nhạy, đặc hiệu, giá trị chẩn 
đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính tương 
ứng 62,5%, 96,4%, 71,4%, 94,6% . 
- Thăm dò Doppler ống tĩnh mạch nếu có bất 
thường sóng a thì rất có giá trị chẩn đoán thai suy với 
độ nhạy, đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá 
trị chẩn đoán âm tính 69,7%, 95,4%, 69,7%, 95,4%.
 - Giá trị chẩn đoán suy thai tăng có ý nghĩa khi 
khi kết hợp cả hai phương pháp thăm dò doppler 
động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius 
nếu có bất thường cả trên doppler ĐMR và tĩnh 
mạch Arantius thì độ nhạy 75,0%, độ đặc hiệu 
95,9%, giá trị chẩn đoán dương tính 72,7% và giá 
trị chẩn đoán âm tính cao 96,3%.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 08 - 13, 2016
13
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Tài liệu tham khảo
1. Trần Danh Cường. Xác định một số thông số Doppler của động 
mạch tử cung người mẹ, động mạch rốn, động mạch não thai nhi bình 
thường (28-42 tuần). Luận án tiến sỹ Y học chuyên ngành Sản Phụ 
khoa. Trường Đại học Y Hà Nội. 2007.
2. Phan Trường Duyệt. Phương pháp siêu âm doppler trong sản phụ 
khoa. Siêu âm chẩn đoán và một số vấn đề lâm sàng sản phụ khoa 
liên quan 2013. Nhà xuất bản Y học; 2128-2282
3. Phan Trường Duyệt. Áp dụng siêu âm để chẩn đoán tuổi thai và cân 
nặng trong tử cung. Luận án tiến sỹ Y học. trường Đại học Y Hà Nội.1985.
4. Bilardo.CM, Wolf. H, Ville. Y, Baez. E, Visser .GH, Hecher . K. 
Relations entre la surveillance des paramètres prénatals et le pronostic 
perinatal dans les retards de croissance intra- utérin sévères et 
prococes. J Gynecol Biol Reprod 2004; 33; 453-454.
5. Baschat AA, Integrated fetal testing in growth restriction. Combining 
multivessel Doppler and biophysical parameters. Ultrasound Obstet 
Gynecol 2013;21:1-8.
6. Baschat. A.A, Viscard. R.M., Hussey-Gardner. B, Hashmi. N., Harman 
.C. Infant neurodevelopment following fetal growth restriction relationship 
with anterpartum surveillance parameters. Untrasound obstet gynecol. 
2009; 33; 44-50
7. Baschat AA, Harman CR. Venous Doppler in the assessment of fetal 
cardiovascular status. Curr Opin Obstet Gynecol. 2006; 18:156–163.
8. Baschat AA, Gembruch U, Weiner CP, Harman CR. Qualita-tive 
venous Doppler waveform analysis improves prediction of critical 
perinatal outcomes in premature growth-restricted fetuses. Ultrasound 
Obstet Gynecol.2003;22: 240—5.
9. Baschat AA. Doppler application in the delivery timing of the preterm 
growth-restricted fetus: another step in the right direction. Ultrasound 
Obstet Gynecol. 2004; 23:111—8.
10. Bault. J.P, Quarello. E, Ville.Y. Doppler obstetrical. 2009. 
Sauramps Medical 
11. Helwig. J, Parer. T. Kilpatrick. J, Rusel. K. Umbilical cord blood acid-
base state: what is normal? Am J Obstet Gynecol. 1996; 174; 1807-1814
12. Kessler. J, Ramussen. S, Hanson. M, Kiserud. T. Longitudinal 
reference ranges for ductus venosus flow velocities and waveform 
indices. Ultrasound Obstet Gynecol. 2006; 28; 890-898
13. Rizzo G, Capponi A, Arduini D, Romanini C. The value of fetal 
arterial, cardiac and venous flows in predicting pH and blood gases 
measured in umbilical blood at cordocentesis in growth- retarded fetuses. 
Br J Obstet Gynaecol. 1995; 102:963—9.
14. Shand. W, Hornbuckle. J, Nathan. E, Dickinson. E. Small for 
gestational age preterm infants and relationship of abnormal umbilical 
artery doppler blood flow to perinatal mortality and neurodevelopmental 
outcomes. Australian and New Zealand journal of Obstetrics and 
Gynaecology. 2009; 49; 52-58
15. Turan.S, Miller. J, Baschat. AA. Integrated testing and management 
in fetal growth restriction. Semin Perinatol. 2008; 32:194—200.
16. Unterscheider. J, Daly . S, O’Donoghue. K and Malone. F.D. Critical 
umbilical artery doppler abnormalities in early fetal growth restriction 
and the timing of delivery; an overestimated clinical challenge in daily 
obstetric practice. Untrasound obstet gynecol. 2014; 43; 236-240

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_gia_tri_tien_luong_tinh_trang_thai_cua_tham_do_do.pdf