Nghiên cứu giá trị tiên lượng tình trạng thai của thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius trên thai chậm phát triển trong tử cung
Mục tiêu: Đánh giá, so sánh kết quả thăm dò siêu âm doppler động
mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius và với tình trạng sơ sinh
trong trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 252 sản phụ có một
thai, từ 28 tuần được chẩn đoán thai chậm phát triển trong tử cung, điều
trị tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1/2011
đến tháng 11/2015, được theo dõi thai bằng nhiều phương pháp trong đó
có thăm dò siêu âm doppler các động mạch rốn, doppler động mạch não
và doppler tĩnh mạch Arantius. Trẻ Sơ sinh ngay khi đẻ được lấy máu
cuống rốn và chẩn đoán suy thai nặng khi pH ≤ 7,15 hoặc BE < -="">
Kết quả: Giá trị chẩn đoán tình trạng thai sau sinh của thăm dò doppler
động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius có độ nhạy, độ đặc
hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính tương ứng
62,5%, 96,4%, 71,4%, 94,6% và 69,7%, 95,4%, 69,7%, 95,4%. Khi kết
hợp cả hai thăm dò doppler này thì giá trị chẩn đoán tăng có ý nghĩa
thống kê với độ nhạy là 75,0%, độ đặc hiệu 95,9%, giá trị chẩn đoán
dương tính tăng 72,7% và giá trị chẩn đoán âm tính cao 96,3%.
Kết luận: Trên những thai chậm phát triển trong tử cung bất thường
hình thái phổ sóng doppler có giá trị dự báo suy tuần hoàn thai và các
bất thường doppler ống tĩnh mạch Arantius kết hợp doppler động mạch
rốn rất có giá trị đánh giá trong theo dõi thai trong thai trong tử cung.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu giá trị tiên lượng tình trạng thai của thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius trên thai chậm phát triển trong tử cung
ĐÀO THỊ HOA, NGUYỄN VIẾT TIẾN, TRẦN DANH CƯỜNG, TRẦN THỊ TÚ ANH SẢ N K H O A – S Ơ S IN H 08 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 Đào Thị Hoa(1), Nguyễn Viết Tiến(2), Trần Danh Cường(2), Trần Thị Tú Anh(1) (1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TÌNH TRẠNG THAI CỦA THĂM DÒ DOPPLER ĐỘNG MẠCH RỐN VÀ DOPPLER ỐNG TĨNH MẠCH ARANTIUS TRÊN THAI CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG TỬ CUNG Tóm tắt Mục tiêu: Đánh giá, so sánh kết quả thăm dò siêu âm doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius và với tình trạng sơ sinh trong trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 252 sản phụ có một thai, từ 28 tuần được chẩn đoán thai chậm phát triển trong tử cung, điều trị tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1/2011 đến tháng 11/2015, được theo dõi thai bằng nhiều phương pháp trong đó có thăm dò siêu âm doppler các động mạch rốn, doppler động mạch não và doppler tĩnh mạch Arantius. Trẻ Sơ sinh ngay khi đẻ được lấy máu cuống rốn và chẩn đoán suy thai nặng khi pH ≤ 7,15 hoặc BE < - 8mmol/l. Kết quả: Giá trị chẩn đoán tình trạng thai sau sinh của thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính tương ứng 62,5%, 96,4%, 71,4%, 94,6% và 69,7%, 95,4%, 69,7%, 95,4%. Khi kết hợp cả hai thăm dò doppler này thì giá trị chẩn đoán tăng có ý nghĩa thống kê với độ nhạy là 75,0%, độ đặc hiệu 95,9%, giá trị chẩn đoán dương tính tăng 72,7% và giá trị chẩn đoán âm tính cao 96,3%. Kết luận: Trên những thai chậm phát triển trong tử cung bất thường hình thái phổ sóng doppler có giá trị dự báo suy tuần hoàn thai và các bất thường doppler ống tĩnh mạch Arantius kết hợp doppler động mạch rốn rất có giá trị đánh giá trong theo dõi thai trong thai trong tử cung. Từ khóa: Thai chậm phát triển trong tử cung, doppler động mạch rốn, doppler ống tĩnh mạch Arantius, tình trạng sơ sinh. Abstract COMPARISON DOPPLER EVALUATION AND RELATIONSHIP BETWEEN OF UMBICAL ARTERY FLOW AND THE DUCTUS VENOSUS WAVEFORM IN THE PREDICTION OF ADVERSE PERINATAL OUTCOME IN GROWTH - RESTRICTED FETUSES Tác giả liên hệ (Corresponding author): Đào Thị Hoa, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 15/03/2016 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 10/04/2016 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 20/04/2016 Từ khoá: Thai chậm phát triển trong tử cung, doppler động mạch rốn, doppler ống tĩnh mạch Arantius, tình trạng sơ sinh. Keywords: Fetal growth restriction, umbilical waveform, ductus venosus, perinatal outcome. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), 08 - 13, 2016 09 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 1. Đặt vấn đề Thai chậm phát triển trong tử cung là tình trạng thai nhi bị suy dinh dưỡng ngay từ khi còn nằm trong tử cung. Thai được coi là chậm phát triển trong tử cung khi ước trọng lượng thai nằm dưới đường bách phân vị thứ 10 tương ứng với tuổi thai và theo chủng tộc Thiếu oxy não là nguyên nhân chính, chiếm 50-60% các nguyên nhân gây tử vong, ngạt và bệnh lý sơ sinh. Vì vậy theo dõi sát và đánh giá tình trạng đúng suy tuần hoàn thai có vai trò rất quan trọng quyết định phương pháp và thời điểm xử trí thích hợp với các thai nghén nguy cơ suy thai cao, đặc biệt trong trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung. Điều này rất có ý nghĩa với thầy thuốc, giúp giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh, chu sinh, giảm biến chứng, di chứng thần kinh, vận động, chậm phát triển tâm thần của trẻ góp phần nâng cao chất lượng dân số và giúp giảm gánh nặng cho xã hội [15]. Siêu âm là phương pháp thăm dò không xâm lấn, được áp dụng rộng rãi trong sản phụ khoa, với nhiều ưu điểm vượt trội. Ngoài áp dụng để thăm dò hình thai học thai còn ứng dụng siêu âm doppler mạch máu như hệ động mạch, tĩnh mạch thai: động mạch Objective: To compare Doppler evaluation of the ductus venosus and umblitical artery for the prediction of adverse perinatal outcomes in growth-restricted fetuses with evidence of hemodynamic redistribution. Methods: A prospective study involving 252 patients were collected from all singleton pregnancies who underwent antenatal monitoring for fetal growth restriction treated in the National Hospital of Gynecology and Obstetrics from January 2011 to january 2015. Data were collected from all singleton pregnancies who underwent antenatal monitoring for fetal growth restriction and ductus venosus waveform results. Peri-natal outcome was evaluated by means of four variables: an umbilical artery, pH ≤ 7.15 and significant neonatal morbidity. Outcome was compared among fetuses delivered of their antenatal test. Logistic regression analysis was used to analyze the relation between predictive and outcome variables. Results: for the study, in IUGR fetuses, the predictive value for perinatal outcome of abnormal umblitical artery versus ductus venosus waveform with the sensitivity, spesifivity positive values, negative predictive values were 62.5%, 96.4%, 71.4%, 94.6% and 69.7%, 95.4%, 69.7%, 95.4%. 75.0%, 95.9%. The predictive value for perinatal outcome of abnormal umblitical artery and ductus venosus waveform were 75.0%, 95.9%,72.7%,96.3%. Conclusion: venous Doppler velocimetric signs of cardiac decompensation might predict fetal demise and the umbilical artery flow and venose Doppler evaluation might give valuable clinical information for surveillance in IUGR fetuses. Keywords: fetal growth restriction, umbilical waveform, ductus venosus, perinatal outcome. rốn và động mạch não, tĩnh mạch rốn, Arantius, dựa vào kết quả này thầy thuốc có thể biết tốc độ các dòng chảy các mạch máu, đo độ trở kháng các động mạch từ đó có thể biết thai nhi có hay suy thai hay không, có hiện tượng phân bố lại tuần hoàn thai trong trường hợp thai suy, từ đó có thể tiên lượng được thai nhi có khả năng thích nghi với tình trạng suy thai, thiếu oxy hay không và ngược lại. Theo các nghiên cứu trên thế giới nếu có bất thường giá trị dopper động mạch rốn như tốc độ dòng tâm trương bằng 0 hoặc đảo ngược và có sự thay đổi hình dạng phổ doppler ống tĩnh mạch Arantius như sóng a ≤ 0 hoặc tăng chỉ số xung IP thì sẽ tăng nguy cơ suy thai và toan hóa máu thai [1][9][12]. Tuy nhiên ở Việt Nam còn ít nghiên cứu về siêu âm doppler hệ động mạch kết hợp với doppler tĩnh mạch thai và đánh giá những thay đổi của doppler hệ tĩnh mạch với doppler động mạch trong trường hợp thai nghén có nguy cơ cao như trong thai chậm phát triển trong tử cung nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu: Đánh giá, so sánh giá trị tiên lượng suy thai của phương pháp thăm dò siêu âm doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius trên thai chậm phát triển trong tử cung ĐÀO THỊ HOA, NGUYỄN VIẾT TIẾN, TRẦN DANH CƯỜNG, TRẦN THỊ TÚ ANH SẢ N K H O A – S Ơ S IN H 10 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 2.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu 252 sản phụ có một thai, không có bất thường hình thái học, nhiễm sắc thể tuổi thai từ 28 đến 41 tuần được chẩn đoán là thai chậm phát triển trong tử cung được theo dõi tại khoa sản bệnh lý, Bệnh viện Phụ sảnTrung ương từ tháng 5/2011 đến tháng 1/2015. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, các bệnh nhân có đủ các tiêu chuẩn, được chẩn đoán là thai chậm phát triển trong tử cung với ước đoán trọng lượng thai nhi nằm dưới đường bách phân vị số 10 tương ứng theo tuổi thai theo đường bách phân vị trọng lượng thai nhi Việt Nam [2][3]. Sản phụ được siêu âm hình thái học thai, đo các chỉ số sinh học và phần phụ thai, đánh giá tình trạng ối, khẳng định là thai chậm phát triển trong tử cung; Thăm dò doppler hệ động mạch như doppler động mạch rốn, động mạch não giữa, động mạch tử cung, siêu âm doppler ống tĩnh mạch Arantius, kết quả được so sánh với giá trị sinh lý theo tuổi thai [7][8][14][16]; Theo dõi nhịp tim thai bằng máy monitoring sản khoa, theo dõi đơn thuần (test không đả kích) theo phác đồ điều trị của Bệnh viện. Kết quả thăm dò doppler động mạch rốn bất thường khi chi số xung PI >2SD theo đường bách phân vi tương ứng tuổi thai hoặc tốc độ dòng tâm trương (AEDV) bằng 0 hoặc đảo ngược (REDV). ống tĩnh mạch Arantius bất thường khi sóng a bằng, hoặc nhỏ hơn 0 (a≤0), PI cao hơn giá trị trên đường bách phân vị số 95 theo tuổi thai dựa trên kết quả biểu đồ bách phân vị công bố của Hechet và cộng sự [9]. Kết quả nghiên cứu ghi lại là số liệu các thăm dò siêu âm dopler làm trong vòng 24h trước khi sinh. Trẻ sơ sinh sau khi đẻ được kẹp dây rốn trước khi khóc, lấy ngay máu động mạch rốn vào bơm tiêm 1 ml có tráng Heparin chống đông và gửi ngay khoa sơ sinh phân tích khí máu, đo pH, BE, đánh giá thăng bằng kiềm toan. Chẩn đoán suy thai nặng khi pH ≤ 7.15 hoặc BE<- 8mmol/l [12] [13] sau đó sơ sinh được cân và so cân nặng với đường bách phân vị theo tuổi thai. Số liệu được phân tích, xử lý trên phần mềm thống kê y học SPSS 16.0, áp dụng các thuật toán thống kê. Kết quả phân tích có ý nghĩa nếu p < 0.05 3. Kết quả và bàn luận 3.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu 3.1.1. Số bệnh nhân 252 sản phụ có đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu. Không có trường hợp nào có bất thường cấu trúc thai, không có bất thường nhiễm sắc thể thai 3.1.2. Tuổi thai Tuổi thai chia theo nhóm: 57 trường hợp thai 28-32 tuần, 108 tuổi thai 33-36 tuần và 87 trường hợp tuổi thai ≥37 tuần. 3.1.3. Cách đẻ 241/252 bệnh nhân mổ lấy thai và 11 trường hợp đẻ thường, 11 bệnh nhân này là những trường hợp thai lưu trong quá trình theo dõi. Các bệnh nhân mổ lấy thai đều được gây tê tủy sống nên kết quả ít bị ảnh hưởng bởi phương pháp giảm đau, gây mê. 3.1.4. Tuổi bệnh nhân nhóm nghiên cứu Trung bình nhóm bệnh nhân nghiên cứu 29.2 tuổi. Hầu hết các bệnh nhân đều nằm trong độ tuổi sinh đẻ, nhiều nhất tập trung ở nhóm 25 đến 34 (57%), bệnh nhân nhiều tuổi nhất là 45 và thấp nhất 19 tuổi. Nhóm tuổi Số lượng Tỷ lệ (%) <= 24 55 21,8 25-29 90 35,7 30-34 54 21,4 35-39 42 16,7 >= 40 11 4,4 Tổng 252 100 Bảng 1. Phân bố tuổi bệnh nhân Biểu đồ 1. Phân bố nhóm tuổi bệnh nhân Biểu đồ 2 . Phân bố số con hiện còn sống ở nhóm phụ nữ mang thai tham gia nghiên cứu 3.1.5. Số lần đẻ Con so: 138 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu (54,8 %); 101 con rạ, lần 2 (40,1%); 3 trường hợp đẻ con lần 3 (1,2% ). 3.2. pH máu động mạch rốn sơ sinh sau đẻ Tổng số trường hợp lấy máu cuống rốn 241 do có 11 trường hợp thai lưu trong quá trình theo dõi. Có 16/241 trường hợp pH≤ 7,15 hoặc có BE< - 8 mmol/l, những bệnh nhân này trước đó 100% có rối loạn tuần hoàn động mạch rốn, động mạch não, bất thường sóng doppler ống tĩnh mạch Arantius, có sóng a âm, a ≤ 0 3.3. Kết quả thăm dò doppler động mạch rốn Có 32 trường hợp có bất thường doppler ĐM rốn, sau đẻ có 20/32 suy thai (chiếm 62,5%). Trong khi đó 8/220 trường hợp doppler ĐMR bình thường có suy thai sau đẻ (chiếm 3,6%). 3.4. Kết quả thăm dò doppler tĩnh mạch Arantius Có 33 trường hợp sóng a ≤ 0. Trong đó có 11 trường hợp diễn biến thai lưu, có 11 pH ≤ 7,15 và 11 trường hợp pH >7,15; 14/33 trường hợp sóng a ≤ 0 máu cuống rốn sơ sinh có BE <-8 mmol/l. Kết hợp tiêu chẩn chuẩn đoán suy thai dựa pH và BE thì có 23/33 (69,6%) sóng a ≤ 0 có suy thai sau đẻ. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), 08 - 13, 2016 11 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 Tuổi thai(tuần) pH 28-32 33-36 ≥ 37 Tổng (%) ≤ 7,15 hoặc BE< -8 13 2 1 16 (6,7) 7,15 < pH < 7.25 14 20 5 39 (16,1) ≥ 7,25 21 84 81 186 (77,2) Tổng 48 106 87 241 Không lấy do thai lưu 11 Bảng 2. pH máu động mạch rốn sơ sinh Dopper ĐMR pH Tổng số Suy thai Không suy thai Bất thường VD=0, đảo ngược 20 12 32 Bình thường 8 212 220 Tổng số 28 224 252 Bảng 3. Kết quả thăm dò doppler ĐMR Doppler Arantius pH BE pH+BE Suy thai không Suy thai không Suy thai không Sóng a ≤ 0 22 11 14 19 23 10 a bình thường 6 213 5 214 10 209 Tổng 28 224 19 233 33 219 Bảng 4. Kết quả thăm dò doppler tĩnh mạch Arantius 3.5. So sánh giá trị hai phương pháp: siêu âm doppler động mạch rốn và doppler tĩnh mạch Arantius Kết quả doppler động mạch rốn có giá trị chẩn đoán suy thai trên những thai chậm phát triển trong tử cung với độ nhạy, đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính tương ứng 62,5%, 96,4%, 71,4%, 94,6% . Còn với thăm dò doppler ống tĩnh mạch nếu có bất thường sóng a thì rất có giá trị chẩn đoán thai suy với độ nhạy, đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính 69,7%, 95,4%, 69,7%, 95,4%. Đặc biệt khi kết hợp cả hai phương pháp thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius nếu có bất thường cả trên doppler ĐMR và tĩnh mạch Arantius thì độ nhạy sẽ là 75,0%, tăng độ đặc hiệu lên 95,9%, giá trị chẩn đoán dương tính cũng tăng 72,7% và giá trị chẩn đoán âm tính cao 96,3%. 4. Bàn luận 4.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu 252 sản phụ có đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu. Hầu hết các bệnh nhân đều nằm trong độ tuổi sinh đẻ, nhiều nhất tập trung ở nhóm 25 đến 34, nhiều tuổi nhất là 45 và thấp nhất 19 tuổi. Tuổi trung bình nhóm bệnh nhân nghiên cứu 29,2 tuổi. Trong nhóm nghiên cứu có 3 trường hợp đẻ con lần 3 (1,2% ). 138 bệnh nhân là con so (54,8 %), 101 con rạ, như vậy thai chậm phát triển trong tử cung có thể gặp ở bất cứ lần sinh nào của sản phụ Có 241 bệnh nhân mổ lấy thai và 11 trường hợp đẻ thường. 11 bệnh nhân này là những trường hợp thai lưu trong quá trình theo dõi. 14 trường hợp sau đẻ só suy thai nặng pH ≤ 7,15 hoặc BE <-8 mmol/l, chiếm tỷ lệ 5,8%. Giá trị Phương pháp pH ≤ 7,15 BE<8mmol/l Độ nhạy Độ đặc hiệu Giá trị CĐ (+) Giá trị CĐ (-) P Suy thai Không ST Doppler Arantius Suy thai 23 10 69,7 95,4 69,7 95,4 <0,0001 BT 10 209 Doppler ĐMR Suy thai 20 12 62,5 96,4 71,4 94,6 <0,0001 BT 8 212 Arantius + ĐMR Bất thường 24 9 75.0 95,9 72,7% 96,3 <0,0001Bình thường 8 211 Bảng 5. Giá trị chẩn đoán suy thai của thăm dò doppler ĐMR và ống TM Arantius ĐÀO THỊ HOA, NGUYỄN VIẾT TIẾN, TRẦN DANH CƯỜNG, TRẦN THỊ TÚ ANH SẢ N K H O A – S Ơ S IN H 12 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 4.2. Kết quả thăm dò doppler động mạch rốn Trong nghiên cứu của chúng tôi sau đẻ có 20/32 bất thường doppler động mạch rốn có suy thai thực sự (62,5%). Trong khi đó chỉ có 8/220 trường hợp doppler ĐMR bình thường có suy thai sau đẻ (chiếm 3,6%) như vậy bằng doppler động mạch rốn chúng ta có thể tìm ra những trường hợp nào thai có nguy cơ cao để theo dõi sát và tiến hành các xét nghiệm khác để phát hiện dự phòng các biến chứng thai. Tương tự, Bilardo và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 70 trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung thấy rằng những trường hợp có bất thường doppler động mạch rốn với tốc độ dòng tâm trương bằng 0 hoặc đảo ngược thì thấy tăng rõ rệt nguy cơ tử vong và biến chứng chu sinh [4][5] 4.3. Kết quả thăm dò doppler ống tĩnh mạch Arantius 22/33 thai chậm phát triển trong nhóm nghiên cứu có sóng a bất thường có diễn biến thai suy thực sự sau sinh hoặc thai lưu trong quá trình theo dõi. Như vậy sự xuất hiện của sóng a rất có giá trị báo trước tiên lượng thai xấu với giá trị chẩn đoán dương tính 69,7% và có ý nghĩa hơn khi chỉ có 6/291 trường hợp sóng a bình thường có suy thai sau sinh, với giá trị chẩn đoán âm tính 95,4%. Như vậy với những trường hợp thai nghén có nguy cơ cao suy tuần hoàn nếu sóng a của phổ doppler ống tĩnh mạch Arantius bình thường tại thời điểm thăm dò thì chúng ta có thể kết luận nguy cơ toan hóa máu của thai không cao [6][8]. 4.4. So sánh giá trị chẩn đoán suy thai giữa thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius Thai chậm phát triển trong tử cung là bệnh lý hay gặp trên lâm sàng, một trong những nguyên nhân chính gây thai chết lưu và bệnh lý chu sinh. Nghiên cứu của chúng tôi thấy mối liên quan chặt chẽ giữa bất thường doppler động mạch tử cung và bất thường doppler ống tĩnh mạch Arantius trên nhóm bệnh nhân có rối loạn suy giảm tuần hoàn tử cung thai này. Hầu hết các thai chậm phát triển đều có biến động tuần hoàn thai, bất thường doppler động mạch rốn xuất hiện trước bất thường doppler động mạch não và sau cùng là bất thường doppler tĩnh mạch Arantius và gây ra mất thăng bằng kiềm toan máu thai nhi [5][6][7] [15]. Bachat là người nghiên cứu rất nhiều về doppler mạch máu thai thấy rằng khi có bất thường doppler động mạch rốn, não thì cần phải dự báo được thời điểm lấy thai tránh toan máu thai gây những biến chứng nặng cho sơ sinh. Lúc này doppler ống tĩnh mạch Arantius rất có giá trị. Trong trương hợp doppler động mạch não PI bình thường, tốc độ dòng tâm trương động mạch rốn bằng 0 hoặc đảo ngược thi cần làm Doppler Arantius, nếu thay đổi có giá trị khẳng định trước đó và hiện tại có sự thay đổi tuần hoàn trung tâm và sau sinh nhóm thai này có tỷ lệ tử vong và bệnh lý cao hơn hẳn thai không có biến đổi [7]. Kết quả nghiên cứu của chúng tối tương tự như của Bilardo và Baschat trên thai chậm pháp triển các tác giả đã đư ra khuyến cáo nếu có bất thường doppler động mạch rốn, thai có nguy cơ suy giảm tuần hoàn thì doppler ống tĩnh mạch Arantius là thăm dò tốt, có giá trị. Các tác giả đã so sánh giá trị chẩn đoán tiên đoán dương tính giữa phương pháp thăm dò tim thai với thăm dò doppler ống tĩnh mạch Arantius về nhu cầu chăm sóc tích cực thai nghén, tỷ lệ tử vong, bệnh lý chu sinh, tỷ lệ đặt nội khí quản sau sinh và pH máu rốn sơ sinh tương ứng: 81,5%, 26%, 48%, 55% so với 45%, 13%, 26%, 29%. Như vậy thăm dò doppler Arantius đã đưa ra chẩn đoán, đánh giá sát với tình trạng thai hơn và giúp các thầy thuốc đưa ra quyết định đình chỉ thai nghén đúng thời điểm tránh những can thiệp quá sớm chưa cần thiết nhất là trong những trường hợp thai non tháng 5. Kết luận - Bất thường phổ doppler ống tĩnh mạch Arantius rất có giá trị chẩn đoán suy thai. - Thăm dò Doppler động mạch rốn có giá trị chẩn đoán suy thai trên những thai chậm phát triển trong tử cung với độ nhạy, đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính tương ứng 62,5%, 96,4%, 71,4%, 94,6% . - Thăm dò Doppler ống tĩnh mạch nếu có bất thường sóng a thì rất có giá trị chẩn đoán thai suy với độ nhạy, đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính, giá trị chẩn đoán âm tính 69,7%, 95,4%, 69,7%, 95,4%. - Giá trị chẩn đoán suy thai tăng có ý nghĩa khi khi kết hợp cả hai phương pháp thăm dò doppler động mạch rốn và doppler ống tĩnh mạch Arantius nếu có bất thường cả trên doppler ĐMR và tĩnh mạch Arantius thì độ nhạy 75,0%, độ đặc hiệu 95,9%, giá trị chẩn đoán dương tính 72,7% và giá trị chẩn đoán âm tính cao 96,3%. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), 08 - 13, 2016 13 Tậ p 14 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 6 Tài liệu tham khảo 1. Trần Danh Cường. Xác định một số thông số Doppler của động mạch tử cung người mẹ, động mạch rốn, động mạch não thai nhi bình thường (28-42 tuần). Luận án tiến sỹ Y học chuyên ngành Sản Phụ khoa. Trường Đại học Y Hà Nội. 2007. 2. Phan Trường Duyệt. Phương pháp siêu âm doppler trong sản phụ khoa. Siêu âm chẩn đoán và một số vấn đề lâm sàng sản phụ khoa liên quan 2013. Nhà xuất bản Y học; 2128-2282 3. Phan Trường Duyệt. Áp dụng siêu âm để chẩn đoán tuổi thai và cân nặng trong tử cung. Luận án tiến sỹ Y học. trường Đại học Y Hà Nội.1985. 4. Bilardo.CM, Wolf. H, Ville. Y, Baez. E, Visser .GH, Hecher . K. Relations entre la surveillance des paramètres prénatals et le pronostic perinatal dans les retards de croissance intra- utérin sévères et prococes. J Gynecol Biol Reprod 2004; 33; 453-454. 5. Baschat AA, Integrated fetal testing in growth restriction. Combining multivessel Doppler and biophysical parameters. Ultrasound Obstet Gynecol 2013;21:1-8. 6. Baschat. A.A, Viscard. R.M., Hussey-Gardner. B, Hashmi. N., Harman .C. Infant neurodevelopment following fetal growth restriction relationship with anterpartum surveillance parameters. Untrasound obstet gynecol. 2009; 33; 44-50 7. Baschat AA, Harman CR. Venous Doppler in the assessment of fetal cardiovascular status. Curr Opin Obstet Gynecol. 2006; 18:156–163. 8. Baschat AA, Gembruch U, Weiner CP, Harman CR. Qualita-tive venous Doppler waveform analysis improves prediction of critical perinatal outcomes in premature growth-restricted fetuses. Ultrasound Obstet Gynecol.2003;22: 240—5. 9. Baschat AA. Doppler application in the delivery timing of the preterm growth-restricted fetus: another step in the right direction. Ultrasound Obstet Gynecol. 2004; 23:111—8. 10. Bault. J.P, Quarello. E, Ville.Y. Doppler obstetrical. 2009. Sauramps Medical 11. Helwig. J, Parer. T. Kilpatrick. J, Rusel. K. Umbilical cord blood acid- base state: what is normal? Am J Obstet Gynecol. 1996; 174; 1807-1814 12. Kessler. J, Ramussen. S, Hanson. M, Kiserud. T. Longitudinal reference ranges for ductus venosus flow velocities and waveform indices. Ultrasound Obstet Gynecol. 2006; 28; 890-898 13. Rizzo G, Capponi A, Arduini D, Romanini C. The value of fetal arterial, cardiac and venous flows in predicting pH and blood gases measured in umbilical blood at cordocentesis in growth- retarded fetuses. Br J Obstet Gynaecol. 1995; 102:963—9. 14. Shand. W, Hornbuckle. J, Nathan. E, Dickinson. E. Small for gestational age preterm infants and relationship of abnormal umbilical artery doppler blood flow to perinatal mortality and neurodevelopmental outcomes. Australian and New Zealand journal of Obstetrics and Gynaecology. 2009; 49; 52-58 15. Turan.S, Miller. J, Baschat. AA. Integrated testing and management in fetal growth restriction. Semin Perinatol. 2008; 32:194—200. 16. Unterscheider. J, Daly . S, O’Donoghue. K and Malone. F.D. Critical umbilical artery doppler abnormalities in early fetal growth restriction and the timing of delivery; an overestimated clinical challenge in daily obstetric practice. Untrasound obstet gynecol. 2014; 43; 236-240
File đính kèm:
nghien_cuu_gia_tri_tien_luong_tinh_trang_thai_cua_tham_do_do.pdf

